Private Access

Tensei Slime Volume 23

Lưu ý quan trọng trước khi đọc!

Đây là sản phẩm dịch bởi Google AI Studio, có sử dụng bảng thuật ngữ “Toàn chủng” để luyện AI nên về căn bản là chất lượng ổn, tuy nhiên nó vẫn là bản dịch máy, nên sẽ có những chỗ không chính xác, vậy nên hãy cẩn trọng khi đọc.

Một số vấn đề chắc chắn gặp phải như: văn phong máy móc, tên nhân vật không thống nhất giữa các chương, xưng hô không phù hợp,... những vấn đề này bắt buộc phải chịu và không có cách nào để cải thiện.

A cartoon of two people

AI-generated content may be incorrect.

A group of anime characters

AI-generated content may be incorrect.A cartoon of a person with a sword

AI-generated content may be incorrect.

Mở đầu: Dấu hiệu bất ổn

序章 不穏な気配

フェルドウェイは、逃げるように〝天(てん)星(せい)宮(きゅう)〟まで戻って来た。

Feldway quay trở về “Thiên Tinh Cung” như thể đang chạy trốn.

ディアブロに塵にされた身体が痛むが、ここまで来れば安心だ。未だに回復の兆しはないものの、時間が経てば癒されるはずだった。

Cơ thể bị Diablo biến thành cát bụi đang đau nhức, nhưng chỉ cần đến được đây là an toàn rồi. Dù vẫn chưa có dấu hiệu hồi phục, nhưng theo thời gian chắc chắn sẽ lành lại.

要は、時間を稼げばいいのだ。

Tóm lại, chỉ cần câu giờ là được.

〝天(てん)星(せい)宮(きゅう)〟まで直通で跳べるのは、限られた面子のみ。下界にはイヴァラージェがおり、〝天通閣〟を突破するのはほぼ不可能であった。

Chỉ có một vài người giới hạn mới có thể dịch chuyển thẳng đến “Thiên Tinh Cung”. Dưới hạ giới có Ivalage, nên việc đột phá “Thiên Thông Các” gần như là không thể.

フェルドウェイはここで身体を休めて、再起を目論んでいたのである。

Feldway định nghỉ ngơi tại đây và lên kế hoạch trở lại.

ディアブロの強さは想定外だったが、次は勝つ。

Sức mạnh của Diablo nằm ngoài dự tính, nhưng lần sau hắn sẽ thắng.

勝てる──と、フェルドウェイは確信していた。

Hắn tin chắc rằng mình có thể thắng.

ディアブロの戦法も学んだし、ユウキの戦いぶりを見て『瞬間移動』を戦闘に組み込めるようになった。

Hắn đã học được chiến thuật của Diablo, và sau khi quan sát cách chiến đấu của Yuki, hắn đã có thể kết hợp “Dịch chuyển tức thời” vào trận chiến.

ディアブロが如何に強かろうが、もはやフェルドウェイの敵ではないのだ。

Cho dù Diablo có mạnh đến đâu, cũng không còn là đối thủ của Feldway nữa.

ただし、不確定要素もある。

Tuy nhiên, vẫn còn một yếu tố bất định.

魔王リムルだ。

Đó là Ma vương Rimuru.

あの恐るべきスライムは、時空の終局点の向こう側からも帰還してのけたのである。

Con slime đáng sợ đó đã trở về ngay cả từ phía bên kia của điểm cuối thời không.

それは、信じ難い出来事だった。

Đó là một sự kiện khó tin.

リムルにはもう、〝時空跳激震覇(クロノサルテーション)〟は通じないという事になる。

Điều đó có nghĩa là “Thời Không Khiêu Kích Chấn Bá (Chrono Saltation)” sẽ không còn tác dụng với Rimuru nữa.

「チッ、時空の果てで滅んでしまえばよかったものを……」

“Chậc, đáng lẽ ra nên biến mất ở tận cùng thời không luôn đi cho rồi...”

そう呟きながら、フェルドウェイは荒らされた道を歩み、玉座を目指す。

Vừa lẩm bẩm, Feldway vừa bước đi trên con đường hoang tàn, hướng đến ngai vàng.

ところが、そこには予想外の先客がいた。

Thế nhưng, ở đó lại có một vị khách không mời.

「よう、こっぴどくやられたな」

“Yo, bị hành cho một trận ra trò nhỉ.”

玉座にだらしなく座っていたのは、ラミリスの迷宮を攻略中であるハズのディーノだった。

Người đang ngồi uể oải trên ngai vàng là Dino, kẻ đáng lẽ ra đang chinh phục mê cung của Lamrys.

ピコとガラシャもいる。

Pico và Garasha cũng ở đó.

ディーノが座る玉座とは別の椅子に、各々が勝手に座って寛いでいた。

Mỗi người tự tiện ngồi thư giãn trên những chiếc ghế khác với ngai vàng mà Dino đang ngồi.

三人揃って帰還しているとなると、迷宮攻略から逃げ帰って来たのか、あるいは……。

Cả ba cùng trở về, không biết là chạy trốn khỏi việc chinh phục mê cung, hay là...

「ヴェガが負けたらしいな。だから逃げ帰って来たのか?」

“Nghe nói Vega đã thua. Vì thế nên các ngươi mới chạy về đây à?”

フェルドウェイがそう問うと、ディーノは肩を竦めた。

Khi Feldway hỏi vậy, Dino nhún vai.

「あのさ、逃げるもクソもないって。あれはムリ。蟲(むし)魔(ま)王(おう)ゼラヌスだって、ゼギオンに倒されちまったからな」

“Này, làm gì có chuyện chạy trốn hay không chứ. Chuyện đó là không thể. Ngay cả Trùng Ma Vương Zelanus cũng bị Zegion đánh bại rồi.”

「──何?」

“...Cái gì?”

それは、衝撃的な報告だった。

Đó là một báo cáo gây sốc.

ヴェガの敗北は聞かされていたが、ゼラヌスはまだ健在だと考えていたのだ。

Hắn đã nghe về thất bại của Vega, nhưng vẫn nghĩ rằng Zelanus vẫn còn sống.

それは甘過ぎる認識だったのだと、フェルドウェイは歯噛みした。

Feldway nghiến răng nhận ra rằng suy nghĩ đó quá ngây thơ.

「ディアブロか?」

“Là Diablo à?”

「違うって。ゼギオンが倒したって、今言ったじゃん」

“Đã bảo không phải. Vừa mới nói là Zegion đánh bại hắn mà.”

Nếu là Diablo thì không phải là không thể, nhưng hắn lại được nhấn mạnh rằng Zegion mới là người đã đánh bại Zelanus.

リムルの配下には警戒すべき強者が多数いるが、それはフェルドウェイが想定していた以上の脅威だったらしい。

Thuộc hạ của Rimuru có rất nhiều kẻ mạnh đáng gờm, nhưng xem ra mối đe dọa đó còn lớn hơn những gì Feldway đã dự tính.

「──って事はさ、お前はディアブロにやられたんだな! ははは、笑える。これでお前にも、ヤツのヤバさが理解出来たんじゃないのか?」

“...Thế nghĩa là, ngươi đã bị Diablo đánh bại à! Hahaha, thật nực cười. Giờ thì chắc ngươi cũng hiểu được sự nguy hiểm của hắn rồi chứ?”

「そうそう。アイツってさ、マジでヤバイからね」

“Đúng đúng. Tên đó thực sự rất nguy hiểm đấy.”

「ゼギオンもトラウマ級だったぞ。どっちが上なのか、正直言ってアタイにはわからないほどさ」

“Zegion cũng thuộc dạng gây ám ảnh tâm lí đấy. Thật tình, tui cũng không biết ai mạnh hơn ai nữa.”

「……」

“...”

ディアブロに、ゼギオン。

Diablo, rồi Zegion.

それを総べるリムル。

Và Rimuru, kẻ thống lĩnh cả hai.

フェルドウェイの野望を達成する為に、倒さねばならぬ敵だった。

Đó là những kẻ thù mà hắn phải đánh bại để thực hiện tham vọng của mình.

他にもまだ、ミリムを筆頭に障害は多い。

Ngoài ra, còn có rất nhiều chướng ngại khác, đứng đầu là Millim.

(どこで間違った? イヴァラージェがどこまで暴れてくれるか、それ次第では作戦の練り直しを──)

(Mình đã sai ở đâu? Tùy thuộc vào mức độ Ivalage có thể quậy phá, có lẽ phải xem xét lại kế hoạch...)

思案に耽るフェルドウェイに、ディーノが話しかける。

Dino bắt chuyện với Feldway đang chìm trong suy tư.

「それよりもさ──」

“Quan trọng hơn là...”

──と、ここでディーノの雰囲気が変わった。

...Và rồi, khí chất của Dino thay đổi.

普段の飄(ひょう)々(ひょう)とした態度から、研ぎ澄まされた刃のように鋭く。

Từ thái độ thản nhiên thường ngày, trở nên sắc bén như một lưỡi dao được mài giũa.

ここでふと、フェルドウェイは違和感に気付きかけたのだが、ディーノからの質問によって意識を奪われる事になる。

Đúng lúc đó, Feldway chợt nhận ra điều gì đó không ổn, nhưng câu hỏi của Dino đã thu hút sự chú ý của hắn.

「ここに大切に保管しておいた聖遺骸がなくなっているんだが、何か知らないか?」

“Thánh di hài được cất giữ cẩn thận ở đây đã biến mất, ngươi có biết gì không?”

ディーノはそう問うたのだ。

Dino hỏi như vậy.

「何だと?」

“Ngươi nói gì?”

そんな訳がないだろう──と、フェルドウェイは思った。

Không thể nào có chuyện đó... Feldway nghĩ.

フェルドウェイは玉座に背を向け、歩き始める。

Feldway quay lưng lại với ngai vàng và bắt đầu bước đi.

その先にあるのは、〝聖安堂〟がある地下へと続く扉だ。

Phía trước là cánh cửa dẫn xuống tầng hầm, nơi có “Thánh An Đường”.

〝天通閣〟に準じる強度を誇り、侵入者を阻む役割を担っている。

Nó có độ bền tương đương với “Thiên Thông Các” và có vai trò ngăn chặn những kẻ xâm nhập.

しかしそれは木っ端微塵に破壊され、階段が丸見えになっていた。

Thế nhưng, nó đã bị phá hủy tan tành, để lộ ra cầu thang.

〝聖安堂〟には、聖遺骸が安置してある。

Trong “Thánh An Đường”, Thánh di hài được đặt ở đó.

ここまで無防備に放置されるなど、あってはならない出来事だった。

Việc bị bỏ mặc không phòng bị như thế này là điều không thể xảy ra.

何しろ聖遺骸とは、〝星王竜〟ヴェルダナーヴァと、その愛妻であるルシア皇女の遺体の事なのだ。

Bởi vì Thánh di hài chính là thi thể của “Tinh Vương Long” Verudanava và người vợ yêu quý của ngài, công chúa Lucia.

ディーノが探し出し、聖櫃に納めて大切に保管しておいたのだが……それを知る者さえ極少数という、超機密事項なのだった。

Dino đã tìm thấy chúng, đặt vào Hòm thánh và cất giữ cẩn thận... Đây là một bí mật tuyệt mật mà chỉ một số ít người biết.

ちなみに聖櫃とは、聖霊力(こおり)の棺の事だ。ルミナスが〝クロノア〟を封じていたのと同等以上の代物であり、魔に属する者では破壊不可能──なハズだった。

Nhân tiện, Hòm thánh là một chiếc quan tài bằng Thánh linh lực. Nó là một vật phẩm có giá trị tương đương hoặc hơn cả thứ mà Luminous đã dùng để phong ấn “Chronoa”, và đáng lẽ ra không thể bị phá hủy bởi những kẻ thuộc phe ma.

この場は世界中の何処よりも安全で、それは疑いようもない事実なのだ。だからこそフェルドウェイも、この地に自分の本体を保管していたのである。

Nơi này an toàn hơn bất cứ đâu trên thế giới, đó là một sự thật không thể nghi ngờ. Chính vì vậy, Feldway cũng đã cất giữ cơ thể thật của mình ở đây.

何しろこの場を創造した際、フェルドウェイも手伝っている。二重にも三重にも念を入れて、安全性を確認していたのだ。

Rốt cuộc thì, Feldway cũng đã giúp tạo ra nơi này. Hắn đã kiểm tra an ninh một cách cẩn thận, hết lớp này đến lớp khác.

それなのに、〝聖安堂〟への扉が破壊されたとなると──

Thế nhưng, nếu cánh cửa đến “Thánh An Đường” bị phá hủy...

「──イヴァラージェか?」

“...Là Ivalage sao?”

後に続くディーノ達に向かって、フェルドウェイが振り向きもせず問いかけた。

Feldway hỏi mà không quay đầu lại, hướng về phía Dino và những người khác đang theo sau.

「他に考えられないんじゃねーか」

“Ngoài hắn ra thì còn ai vào đây nữa.”

ディーノが白々しく断言する。

Dino khẳng định một cách trơ tráo.

「……」

“...”

「お前の失態だぞ、フェルドウェイ。〝天(てん)星(せい)宮(きゅう)〟の守りを解かなければ、御二方の聖なる遺体を奪われたりはしなかったはずだからな」

“Đây là sai lầm của ngươi đấy, Feldway. Nếu ngươi không gỡ bỏ lớp phòng thủ của “Thiên Tinh Cung”, thì Thánh di hài của hai vị đó đã không bị cướp đi rồi.”

ディーノの指摘した通り、〝天(てん)星(せい)宮(きゅう)〟は大いに荒らされていた。破壊困難な設備まで、これでもかと壊されていたのだ。

Đúng như Dino đã chỉ ra, “Thiên Tinh Cung” đã bị tàn phá nặng nề. Ngay cả những thiết bị khó phá hủy cũng bị đập phá không thương tiếc.

当然ながらフェルドウェイも気付いていたのだが、些事だと割り切っていた。〝天(てん)星(せい)宮(きゅう)〟の復興など、基軸世界が滅んだ後に考えるつもりだったのだ。

Tất nhiên Feldway cũng nhận ra điều đó, nhưng hắn đã coi đó là chuyện nhỏ. Hắn dự định sẽ nghĩ đến việc phục hồi “Thiên Tinh Cung” sau khi thế giới cốt lõi bị hủy diệt.

けれど、聖遺骸の紛失は無視出来ない問題だった。

Nhưng việc mất đi Thánh di hài là một vấn đề không thể bỏ qua.

ヴェルダナーヴァが復活した時に宿るべき肉体が失われてしまうのは、まだ許される。不滅の存在である〝竜種〟ならば、たとえ〝無〟からでも復活可能だからだ。

Việc mất đi cơ thể mà Verudanava sẽ nhập vào khi hồi sinh vẫn có thể chấp nhận được. Bởi vì “Long chủng”, một tồn tại bất diệt, có thể hồi sinh ngay cả từ “hư vô”.

しかし、ヴェルダナーヴァの愛妻であるルシアの聖遺骸は、もう二度と再現不可能なのである。

Tuy nhiên, Thánh di hài của Lucia, người vợ yêu quý của Verudanava, thì không bao giờ có thể tái tạo lại được nữa.

(ヴェルダナーヴァ様が復活なさった時、合わせる顔がないではないか──)

(Khi ngài Verudanava hồi sinh, mình sẽ không còn mặt mũi nào để đối diện với ngài nữa...)

と、素で考えてしまったフェルドウェイである。

Feldway đã vô thức nghĩ như vậy.

ヴェルダナーヴァに見捨てられたという思い込み、根深い恨みから、全てを破壊しようという極端な結論に至ったフェルドウェイだったが、その心の奥底では、いまだに主を求めているのだ。

Feldway đã đi đến kết luận cực đoan là phá hủy mọi thứ vì niềm tin rằng mình đã bị Verudanava ruồng bỏ và lòng hận thù sâu sắc, nhưng sâu trong thâm tâm, hắn vẫn đang tìm kiếm chủ nhân của mình.

それを自分では認めたくないのが、フェルドウェイの不幸だった。

Bất hạnh của Feldway là hắn không muốn thừa nhận điều đó.

フェルドウェイの目に、破壊されて無残な姿を晒す聖櫃が映る。

Trong mắt Feldway, hình ảnh chiếc Hòm thánh bị phá hủy và tan nát hiện ra.

「クソ……」

“Chết tiệt...”

ディーノの話は本当だった。

Lời của Dino là sự thật.

そこはもう、心の安寧を祈る場所ではなくなっていた。

Nơi đó không còn là nơi để cầu nguyện cho sự bình yên trong tâm hồn nữa.

「イヴァラージェめ……勝手な真似を……」

“Ivalage chết tiệt... dám làm càn...”

いや、それは違うだろ──と、ディーノは突っ込むべきかどうか迷った。

Không, không phải thế chứ... Dino phân vân không biết có nên xen vào hay không.

けれど、反論されても面倒だと思い直し、口を閉ざす。

Nhưng nghĩ lại, nếu bị phản bác thì sẽ phiền phức nên anh ta im lặng.

それよりも、確認すべき事を優先させる。

Thay vào đó, anh ưu tiên những việc cần xác nhận.

「一応聞くが、お前が本体に宿った時までは、ここは無事だったんだよな?」

“Để chắc chắn, lúc ngươi nhập vào cơ thể thật thì nơi này vẫn ổn chứ?”

「何?」

“Gì?”

「いや、ここはお前か、ヴェルザード様しか立ち入れない場所だったし、俺達でも勝手な出入りは出来なかったからさ、本当にイヴァラージェの仕業だと決めつけていいのかなってさ」

“Không, vì đây là nơi chỉ có ngươi hoặc ngài Veruzard mới có thể vào, ngay cả bọn ta cũng không thể tự tiện ra vào, nên ta tự hỏi liệu có thể chắc chắn đó là do Ivalage làm không.”

「……何が言いたい?」

“...Ngươi đang muốn nói gì?”

いつになく真面目なディーノの言葉には、含みがあった。

Lời nói nghiêm túc bất thường của Dino có ẩn ý.

それが気になり、フェルドウェイも真剣に考える。

Điều đó khiến Feldway cũng phải suy nghĩ nghiêm túc.

自分か、ヴェルザード以外では、〝聖安堂〟へと続く扉を開けられない。だからこそ、この場が荒らされるなど想定していなかったのだが……。

Ngoài hắn và Veruzard, không ai có thể mở cánh cửa dẫn đến “Thánh An Đường”. Chính vì vậy, hắn chưa bao giờ nghĩ rằng nơi này sẽ bị tàn phá...

「アンタが鍵を掛け忘れたんじゃないのかい?」

“Chẳng phải là do ngươi quên khóa cửa sao?”

扉の破壊は困難だが、施錠されていなければ話は別だ。神聖な防護が働かないので、ディーノ達でも壊せるレベルに強度が下がるのである。

Phá hủy cánh cửa là rất khó, nhưng nếu nó không được khóa thì lại là chuyện khác. Lớp bảo vệ thần thánh sẽ không hoạt động, nên độ bền của nó sẽ giảm xuống mức mà ngay cả Dino và những người khác cũng có thể phá vỡ.

「馬鹿を言うな」

“Đừng nói nhảm.”

「だよね……それはないと、私も思う」

“Đúng vậy... Tôi cũng nghĩ không có chuyện đó.”

「まあね、ディーノならまだしも、フェルドウェイがそんなミスをする訳ないか」

“Chà, nếu là Dino thì còn có thể, chứ Feldway thì không đời nào mắc lỗi như vậy.”

鋭く指摘したガラシャだったが、アッサリと折れた。

Garasha đã chỉ ra một cách sắc bén, nhưng rồi lại dễ dàng từ bỏ.

ピコやガラシャから見ても、フェルドウェイがそんなマヌケな失敗をするとは思えなかったのだ。

Ngay cả từ góc nhìn của Pico và Garasha, họ cũng không nghĩ rằng Feldway lại có thể mắc một sai lầm ngớ ngẩn như vậy.

「おいおい?」

“Này này?”

と、ディーノだけが不満そうである。

Chỉ có Dino tỏ ra bất mãn.

だが──と、頑張ってシリアスな表情に戻して、ディーノは次なる言葉を放った。

Nhưng... Dino cố gắng trở lại vẻ mặt nghiêm túc và nói tiếp.

「じゃあ、ヴェルダナーヴァ様が復活した可能性はどうだ?」

“Vậy thì, khả năng ngài Verudanava đã hồi sinh thì sao?”

ディーノがその可能性を指摘したのは、扉の件が原因だ。

Lí do Dino chỉ ra khả năng đó là vì cánh cửa.

扉は外部からの破壊は不可能だと思われていたが、内部からの衝撃には弱い構造となっていた。その理由は、防護が外部に向けてしか働いていないからである。

Cánh cửa được cho là không thể bị phá hủy từ bên ngoài, nhưng cấu trúc của nó lại yếu trước tác động từ bên trong. Lí do là vì lớp bảo vệ chỉ hoạt động theo hướng ra ngoài.

ディーノは扉が破壊された痕跡を見て、どうやら内部から弾け飛んだようだ、と思えたのだ。

Nhìn vào dấu vết phá hủy trên cánh cửa, Dino có cảm giác như nó đã bị thổi bay từ bên trong.

勿論、イヴァラージェが鍵だけ破壊して侵入してから、外に出る時に力が暴走した可能性も考えられる。いや、内部で聖遺骸を吸収したのだとしたら、その可能性の方が高いだろう。

Tất nhiên, cũng có khả năng Ivalage chỉ phá khóa để vào, rồi lúc ra ngoài thì sức mạnh của nó mất kiểm soát. Không, nếu nó đã hấp thụ Thánh di hài ở bên trong, thì khả năng đó còn cao hơn.

だが、それでも……。

Nhưng, dù vậy...

どうしても、ヴェルダナーヴァ復活の可能性を否定出来ないディーノであった。

Dino vẫn không thể nào phủ nhận khả năng Verudanava đã hồi sinh.

それは決して、喜ばしいだけの話ではない。

Đó không hẳn là một tin vui.

このタイミングでの復活、そこに疑問が残るからである。

Bởi vì việc hồi sinh vào thời điểm này vẫn còn nhiều nghi vấn.

ディーノからすれば、外れて欲しい推測なのだ。

Đối với Dino, đó là một phỏng đoán mà anh mong là sai.

もしも本当にヴェルダナーヴァが復活したのだとすれば、どうして今なのか?

Nếu Verudanava thực sự đã hồi sinh, tại sao lại là bây giờ?

フェルドウェイが望んだ通りに、世界が滅びそうな危機に目覚めたのだろうか?

Phải chăng ngài đã thức tỉnh trong cơn khủng hoảng khi thế giới sắp bị hủy diệt, đúng như Feldway mong muốn?

(そうだったらいいけどさ、違うと思うんだよな……)

(Nếu vậy thì tốt, nhưng mình không nghĩ thế...)

ディーノには、何も分からない。だからこそ、恐ろしい。

Dino không biết gì cả. Chính vì vậy, anh mới thấy sợ.

考え過ぎかも知れないのだが、ディーノの悪い予感というのは、かなりの精度──良い予感の九十九倍──で的中してしまうのだ。

Có thể là anh đang suy nghĩ quá nhiều, nhưng những linh cảm xấu của Dino thường chính xác một cách đáng kinh ngạc... chính xác hơn linh cảm tốt đến chín mươi chín lần.

だからこそ、フェルドウェイに否定して欲しくて、その推論を口にしたのである。

Chính vì vậy, anh đã nói ra suy luận đó với hy vọng Feldway sẽ phủ nhận nó.

「何を言っている?」

“Ngươi đang nói gì vậy?”

「いや、可能性の話だけどよ、お前が本体に戻った際に御二方が保管されたままだったのなら、その後になくなった訳だ。そのタイミングは、イヴァラージェの軍勢が〝天(てん)星(せい)宮(きゅう)〟に侵攻した時点より前って事になる。その間に復活して、基軸世界に戻られたとしたら……?」

“Không, chỉ là một khả năng thôi, nhưng nếu lúc ngươi trở về cơ thể thật, hai vị đó vẫn còn được cất giữ, thì có nghĩa là họ đã biến mất sau đó. Thời điểm đó sẽ là trước khi quân đội của Ivalage xâm chiếm “Thiên Tinh Cung”. Nếu trong khoảng thời gian đó, họ đã hồi sinh và trở về thế giới cốt lõi thì sao...?”

「……」

“...”

ディーノが口にした可能性について、フェルドウェイは吟味する。

Feldway cân nhắc về khả năng mà Dino đã đề cập.

フェルドウェイが本体に戻ってから、幻獣族(クリプテッド)の侵攻が始まるまで──その間、言うほど時間的余裕はない。

Từ lúc Feldway trở về cơ thể thật cho đến khi cuộc xâm lược của tộc Ảo thú bắt đầu... khoảng thời gian đó không nhiều.

ヴェルダナーヴァが復活したというのは、余りにも荒唐無稽過ぎる推論だった。

Việc Verudanava hồi sinh là một suy luận quá hoang đường.

もしもそれが事実なら、どうして公表してくれないのか、という話になる。

Nếu đó là sự thật, câu hỏi đặt ra là tại sao ngài lại không công bố điều đó.

ミリムを操っていたフェルドウェイなど、ヴェルダナーヴァの粛清対象であるべきなのだ。

Feldway, kẻ đã điều khiển Millim, đáng lẽ phải là đối tượng bị Verudanava trừng phạt.

たとえ、その力が万全でなかったのだとしても──

Ngay cả khi sức mạnh của ngài chưa hoàn toàn hồi phục...

(いや、だから姿を見せて下さらなかった、という線もあるのか? あのヴェルダナーヴァ様に限って、そんなはずはないか……)

(Không, liệu có khả năng là ngài không xuất hiện vì lí do đó không? Nhưng với ngài Verudanava thì không thể nào...)

やはりないな──と、フェルドウェイは結論付けた。

Quả nhiên là không thể... Feldway kết luận.

「あり得ないだろう」

“Không thể nào.”

「……だよな?」

“...Đúng không?”

ディーノにとっては望ましく、フェルドウェイにとっては残念ではあるが、両者とも納得の結論だ。

Đối với Dino thì đó là điều đáng mừng, còn đối với Feldway thì thật đáng tiếc, nhưng cả hai đều đi đến một kết luận thỏa đáng.

ただし、厄介な問題はまだ残っていた。

Tuy nhiên, vẫn còn một vấn đề rắc rối.

こちらは可能性ではなく、ほぼ現実となりそうだが……ピコとガラシャがそれを指摘する。

Đây không phải là một khả năng, mà gần như đã trở thành hiện thực... Pico và Garasha đã chỉ ra điều đó.

「って事はさ……」

“Vậy có nghĩa là...”

「……ああ、そうとも。イヴァラージェがヴェルダナーヴァ様の聖遺骸を喰ったって線で、ほぼ確定だな」

“...À, đúng vậy. Việc Ivalage đã ăn Thánh di hài của ngài Verudanava gần như là chắc chắn rồi.”

これにディーノが頷いた。

Dino gật đầu đồng tình.

「そうだな。ただでさえ厄介だった〝滅(めっ)界(かい)竜(りゅう)〟イヴァラージェが、ヴェルダナーヴァ様の御力まで取り込んじまった可能性があるんだよな……」

“Đúng vậy. “Diệt Giới Long” Ivalage vốn đã rắc rối, giờ lại có khả năng đã hấp thụ cả sức mạnh của ngài Verudanava nữa...”

ヴェルダナーヴァだけではなく、ルシアの力もだ。

Không chỉ sức mạnh của Verudanava, mà cả sức mạnh của Lucia nữa.

こちらは脅威度に理解が及ぶので、ディーノとしては不気味さは感じない。絶対にヤバイけど、対処するのは自分ではないと楽観的に考えられる。

Về phần này, Dino có thể hiểu được mức độ nguy hiểm nên không cảm thấy ghê rợn. Chắc chắn là rất nguy hiểm, nhưng anh ta lạc quan cho rằng người đối phó sẽ không phải là mình.

だから気軽に「ヤバイよな」と、フェルドウェイに丸投げしてしまえるのだ。

Vì vậy, anh ta có thể dễ dàng nói “Nguy hiểm thật đấy” và đổ hết trách nhiệm cho Feldway.

その可能性は、フェルドウェイにとっては無視出来ないものだった。

Khả năng đó là điều mà Feldway không thể bỏ qua.

世界を滅ぼすという目的の為には、イヴァラージェが暴れてくれた方がいい。しかし、手が付けられないほどの邪神になってしまうのは、世界の再構築を目論むフェルドウェイにとっては大問題となるのだ。

Để đạt được mục tiêu hủy diệt thế giới, việc Ivalage quậy phá sẽ có lợi hơn. Tuy nhiên, việc nó trở thành một Tà thần không thể kiểm soát lại là một vấn đề lớn đối với Feldway, người đang âm mưu tái thiết thế giới.

「どうする気だ?」

“Ngươi định làm gì?”

ディーノからすれば他人事なので、方針を聞いておこう、という程度の気持ちで質問した。

Đối với Dino, đây là chuyện của người khác, nên anh ta chỉ hỏi với ý định muốn biết phương hướng mà thôi.

これにイラッとなるフェルドウェイだったが、ここに至ってようやく、ディーノへの支配効果がなくなっている事実に気付いた。

Điều này khiến Feldway bực bội, nhưng đến lúc này, hắn mới nhận ra hiệu ứng chi phối đối với Dino đã biến mất.

「貴様、私の影響下から逃れたのか?」

“Ngươi, đã thoát khỏi ảnh hưởng của ta rồi sao?”

「あれ、今頃?」

“Hả, giờ mới nhận ra à?”

「茶化すな!」

“Đừng có giễu cợt!”

「一応言っておくと、俺だけじゃなくピコやガラシャもだぜ」

“Nói trước cho biết, không chỉ có ta đâu, mà cả Pico và Garasha cũng vậy.”

「今まで苦労させられたけど、もうアンタの命令を聞く必要はないって事ね」

“Bị ngươi hành hạ bấy lâu nay, nhưng giờ thì không cần phải nghe lệnh của ngươi nữa.”

「そういうコト。アタイらは自由なのさ!」

“Đúng vậy. Bọn tui tự do rồi!”

フェルドウェイは忌々しく思った。

Feldway cảm thấy bực bội.

支配の権能から逃れられた理由を聞いても、答える気はなさそうだと理解したからだ。

Bởi vì hắn hiểu rằng dù có hỏi lí do họ thoát khỏi quyền năng chi phối, họ cũng sẽ không trả lời.

そもそも、元々勝手気ままなヤツらだったからこそ、強制的に指揮下に置いたのである。その影響が及ばなくなってしまったのなら、ディーノ達を従えるのは難しいだろう。

Vốn dĩ, họ là những kẻ tự do tự tại, nên mới bị ép buộc đặt dưới quyền chỉ huy. Nếu ảnh hưởng đó không còn tác dụng, việc khiến Dino và những người khác tuân lệnh sẽ rất khó khăn.

「裏切る気か?」

“Các ngươi định phản bội ta à?”

フェルドウェイから文句を言われる筋合いなどなかった。

Họ không có lí do gì để bị Feldway phàn nàn.

ディーノ達だって怒っているのだ。

Dino và những người khác cũng đang tức giận.

「おいおい、待てって。俺らの信頼を裏切ったのはテメーだろうがよ!」

“Này này, khoan đã. Kẻ đã phản bội lòng tin của bọn ta chính là ngươi đấy!”

「そうそう。自由意思を尊重すべきなのにさ、許可も得ずに私達をこき使ったのはアンタじゃない!」

“Đúng đúng. Đáng lẽ phải tôn trọng ý chí tự do, thế mà kẻ đã bóc lột chúng tôi không xin phép chính là ngươi còn gì!”

「そうだぜ。アタイらとしちゃあ、アンタを裏切る気なんざないけどね、同じ道は歩めないってだけの話さ!」

“Đúng thế. Bọn tui không có ý định phản bội ngươi đâu, chỉ là không thể đi chung đường nữa thôi!”

各々好き勝手に言い返して、絶縁宣言を行った。

Mỗi người tự do đáp trả và tuyên bố cắt đứt quan hệ.

ディーノがここに来た目的は、〝滅(めっ)界(かい)竜(りゅう)〟イヴァラージェが〝天通閣〟に出現したと聞いて、〝天(てん)星(せい)宮(きゅう)〟が無事かどうか気になったからである。

Mục đích Dino đến đây là vì nghe tin “Diệt Giới Long” Ivalage xuất hiện ở “Thiên Thông Các”, nên anh ta lo lắng không biết “Thiên Tinh Cung” có ổn không.

やはり危惧した通り、聖遺骸は奪われてしまっていた。

Đúng như lo ngại, Thánh di hài đã bị cướp đi.

未然に防げたのなら良かったのだが、後手に回ってしまった以上、悔やんでも仕方ない。

Nếu có thể ngăn chặn trước thì đã tốt, nhưng vì đã chậm một bước, hối hận cũng vô ích.

後はもう、自分達の手に負える問題ではなくなってしまった、と割り切るのみだ。

Bây giờ, họ chỉ còn cách chấp nhận rằng vấn đề này đã vượt quá tầm kiểm soát của mình.

なので、ここでフェルドウェイと出会ったのは偶然に過ぎず、ついでとばかりに文句を言えたので、意外とスッキリしていたのだった。

Vì vậy, việc gặp Feldway ở đây chỉ là tình cờ, và nhân tiện phàn nàn một chút, họ cảm thấy khá thoải mái.

なので、もうフェルドウェイになど用はないとばかりに、自分達だけで雑談に入る。

Vì vậy, họ bắt đầu tán gẫu với nhau như thể không còn việc gì với Feldway nữa.

「リムルさんが帰還したみたいだし、ラミリスのとこでまた雇ってくれるよな?」

“Nghe nói anh Rimuru đã trở về rồi, chắc Lamrys sẽ thuê lại chúng ta chứ nhỉ?”

「無理でしょ」

“Chắc là không được đâu.”

「アンタ、サボってばっかりだしな」

“Ngươi toàn trốn việc thôi mà.”

「いやいやいや! ベスターさんだって、俺を必要としてくれてるんだって! 困った事があったら口を利いてくれる約束なんだよ!!」

“Không không không! Ngay cả anh Bester cũng cần đến ta mà! Anh ấy đã hứa sẽ nói giúp nếu có chuyện gì khó khăn đấy!!”

「ふーん。いい人だね」

“Hừm. Anh ta đúng là người tốt.”

「アンタだけズルくない?」

“Chẳng phải chỉ có ngươi là gian xảo sao?”

「安心しな。お前らも紹介してやるって!」

“Yên tâm đi. Ta sẽ giới thiệu cả hai ngươi nữa!”

感謝しろよ、などと偉そうに言うディーノ。

Dino nói một cách kiêu ngạo, như thể họ phải biết ơn.

文句を言いつつも、ディーノに従うピコとガラシャ。

Dù phàn nàn, Pico và Garasha vẫn nghe theo Dino.

そこには確かに、目に見えぬ絆があった。

Ở đó, chắc chắn có một sợi dây liên kết vô hình.

「って事だから、後は好きにしろよ、フェルドウェイ」

“Chuyện là vậy đấy, sau này ngươi cứ tự lo liệu đi, Feldway.”

ディーノが思い出したように告げた。

Dino nói như thể vừa nhớ ra.

それを聞いて、フェルドウェイは『ふざけるな』と思った。

Nghe vậy, Feldway nghĩ ‘Đừng có đùa’.

「勝手な事を言うな! 貴様には大義がないのか!? しかも、生まれて間もないスライム如きを敬うなどと、始原としての誇りさえ忘れたのか!!」

“Đừng có nói năng tùy tiện! Ngươi không có đại nghĩa hay sao!? Hơn nữa, lại còn tôn kính một con slime mới sinh ra, ngươi đã quên cả niềm tự hào của một Nguyên thủy rồi à!!”

激高して、思わずそう叫んでいた。

Hắn tức giận và vô thức hét lên.

しかし、ディーノは飄々と言い返す。

Nhưng Dino vẫn thản nhiên đáp lại.

「いやいや、無駄に生きた年数をどれだけ重ねても意味ねーって。大事なのは〝どう生きるか〟だろ? 意思の強さこそが、〝魂〟を輝かせるんだぜ」

“Không không, sống bao nhiêu năm vô ích cũng chẳng có nghĩa lí gì. Quan trọng là ‘sống như thế nào’, đúng không? Chính sức mạnh ý chí mới làm cho ‘linh hồn’ tỏa sáng đấy.”

そう持論を展開し、フェルドウェイを憐れむように見るディーノ。そして、またも真面目な表情になって、忠告するように告げた。

Dino đưa ra quan điểm của mình và nhìn Feldway một cách thương hại. Rồi anh ta lại trở nên nghiêm túc và nói như một lời khuyên.

「今のお前の目は曇ってる。もう一度、初心を思い出すんだな」

“Đôi mắt của ngươi bây giờ đã bị che mờ. Hãy nhớ lại con người trước kia của mình đi.”

それは、ディーノなりの優しさだった。

Đó là lòng tốt theo cách riêng của Dino.

言うべき事は言ったので、ディーノは背を向けた。

Nói xong những gì cần nói, Dino quay lưng đi.

ピコとガラシャも、それに続く。

Pico và Garasha cũng theo sau.

「世界を滅ぼすとか、意味不明な真似は止めてよね」

“Đừng làm những chuyện vô nghĩa như hủy diệt thế giới nữa.”

「バイバイ、フェルドウェイ。アンタの事、嫌いじゃなかったぜ」

“Tạm biệt, Feldway. Tui cũng không ghét ngươi đâu.”

三人は好き勝手に言い残し、そのまま去って行った。

Ba người để lại những lời nói tùy tiện rồi cứ thế bỏ đi.

後に残されたフェルドウェイは、茫然とその場に立ち尽くす。

Feldway bị bỏ lại, đứng sững sờ tại chỗ.

「今更だ……ここで計画を中止になど、出来るはずがないではないか……」

“Bây giờ đã quá muộn rồi... Làm sao có thể dừng kế hoạch ở đây được chứ...”

と、誰もいないのに呟いて……。

Hắn lẩm bẩm dù không có ai ở đó...

今のフェルドウェイは空っぽだった。

Feldway bây giờ trống rỗng.

友も失った。

Hắn đã mất đi bạn bè.

仲間も失った。

Hắn đã mất đi đồng đội.

そして、主はいない。

Và, không còn chủ nhân.

計画は失敗し、あとは〝滅(めっ)界(かい)竜(りゅう)〟イヴァラージェにかかっている。

Kế hoạch đã thất bại, giờ chỉ còn trông cậy vào “Diệt Giới Long” Ivalage.

しかし果たして、それでいいのかという疑問が残った。

Nhưng liệu như vậy có ổn không, câu hỏi đó vẫn còn đó.

どうやらイヴァラージェが、フェルドウェイの思い出すらも喰らったらしい。

Có vẻ như Ivalage đã nuốt chửng cả những kí ức của Feldway.

その原因は自分にある為、文句を言う資格などなかった。

Nguyên nhân là do chính hắn, nên hắn không có quyền phàn nàn.

だが、放置するのは違うと思えた。

Nhưng hắn cảm thấy việc bỏ mặc là sai lầm.

ディーノが言うように、ヴェルダナーヴァが復活したとは思えない。なので結論としては、イヴァラージェが喰ったのだろう。

Như Dino đã nói, hắn không nghĩ Verudanava đã hồi sinh. Vì vậy, kết luận là Ivalage đã ăn nó.

(そもそも、ディーノは何を心配していたのだ? ヴェルダナーヴァ様が復活なさったのだとすれば、私の目的も達成されたという事だ。喜ばしいだけで、何も問題などない。それよりも──)

(Ngay từ đầu, Dino đã lo lắng điều gì? Nếu ngài Verudanava đã hồi sinh, thì mục đích của ta cũng đã đạt được. Chỉ có điều đáng mừng, không có vấn đề gì cả. Hơn nữa...)

問題なのは、イヴァラージェだった。

Vấn đề là Ivalage.

ディーノはヴェルダナーヴァ復活の可能性を危惧していたようだが、イヴァラージェが聖遺骸を吸収した可能性の方が問題だった。

Dino dường như lo ngại về khả năng Verudanava hồi sinh, nhưng khả năng Ivalage đã hấp thụ Thánh di hài còn đáng lo hơn.

創造主の権能を得た可能性まであるとすれば、手が付けられない存在になってしまっている恐れがあった。

Nếu nó còn có khả năng nhận được quyền năng của Đấng Sáng Tạo, có nguy cơ nó đã trở thành một tồn tại không thể kiểm soát.

そうなれば、世界の再構築どころではない──のだが、フェルドウェイは『どうでもいいか』と笑った。

Nếu vậy, việc tái thiết thế giới sẽ không còn quan trọng nữa... nhưng Feldway lại cười và nghĩ ‘Kệ đi’.

ヴェルダナーヴァが復活しないのならば、全てが無意味だ、と。

Nếu Verudanava không hồi sinh, thì mọi thứ đều vô nghĩa.

世界を滅ぼそうとしているのは、ヴェルダナーヴァが復活してフェルドウェイを止めてくれるのでは、と考えたから。ミリムまでも利用したフェルドウェイを、ヴェルダナーヴァは決して許さないだろう。

Lí do hắn muốn hủy diệt thế giới là vì hắn nghĩ rằng Verudanava sẽ hồi sinh và ngăn cản mình. Verudanava sẽ không bao giờ tha thứ cho Feldway, kẻ đã lợi dụng cả Millim.

もしも世界が滅んでしまったとしても、ヴェルダナーヴァならば無から再生させる事も可能だ。

Ngay cả khi thế giới bị hủy diệt, Verudanava cũng có thể tái tạo nó từ hư vô.

だから何も心配せず、もう一度最初から始めればいいのである。

Vì vậy, không cần phải lo lắng gì cả, chỉ cần bắt đầu lại từ đầu là được.

だから──フェルドウェイにとって一番最悪の結末は、ヴェルダナーヴァが復活しない事だった。それが一番虚しく、絶望的な未来であると、心のどこかで認めてしまっているのである。

Vì vậy... kết cục tồi tệ nhất đối với Feldway là Verudanava không hồi sinh. Hắn đã thừa nhận ở một góc nào đó trong tim rằng đó là tương lai trống rỗng và tuyệt vọng nhất.

ディアブロに敗北したとはいえ、比類なき強さを誇るフェルドウェイ。

Dù đã thua Diablo, Feldway vẫn sở hữu sức mạnh vô song.

そんなフェルドウェイだったが、ふと悪寒を覚えた。

Thế nhưng, Feldway chợt cảm thấy một cơn ớn lạnh.

ディーノは勘が鋭い。

Dino có trực giác nhạy bén.

そんなディーノが、あれほどまでに不安視しているのなら……。

Nếu một người như Dino lại lo lắng đến mức đó...

(もしも……もしもこの状況すらも、ヴェルダナーヴァ様の思惑通りだったのだとしたら?)

(Nếu như... nếu như ngay cả tình hình này cũng nằm trong dự tính của ngài Verudanava thì sao?)

ヴェルダナーヴァを殺したのは、愚かな人類だ。

Kẻ đã giết Verudanava là loài người ngu ngốc.

だからこそ、それを阻止出来なかった自分達が見捨てられたとしても、それは甘受すべきだとフェルドウェイは考える。

Chính vì vậy, Feldway nghĩ rằng ngay cả khi họ bị ruồng bỏ vì đã không thể ngăn chặn điều đó, họ cũng phải chấp nhận.

だからこそ、人類も粛清されても文句は言えないはずだ。ヴェルダナーヴァの復活に役立てるのならば、むしろ歓喜すべきなのである。

Chính vì vậy, loài người cũng không thể phàn nàn nếu bị thanh trừng. Nếu có thể góp phần vào sự hồi sinh của Verudanava, họ nên vui mừng mới phải.

ミカエルがそう考えたように、フェルドウェイも同じ気持ちだった。

Giống như Michael, Feldway cũng có cùng suy nghĩ.

だが──世界の滅亡を止めるというのがヴェルダナーヴァの意思と違うのならば、自分の行いは全て無意味だった事になる。

Nhưng... nếu việc ngăn chặn sự hủy diệt của thế giới đi ngược lại với ý muốn của Verudanava, thì mọi hành động của hắn đều trở nên vô nghĩa.

それは、主の御心を顧みる事のなかったフェルドウェイが得た、今更ながらの悟りだった。

Đó là sự giác ngộ muộn màng mà Feldway, kẻ đã không quan tâm đến ý muốn của chủ nhân, nhận ra.

「ヴェルダナーヴァ様の本心は一体……?」

“Tâm ý thực sự của ngài Verudanava là gì...?”

その呟きは、思った以上に大きな音となって〝天(てん)星(せい)宮(きゅう)〟に木霊する。

Lời thì thầm đó vang vọng trong “Thiên Tinh Cung” lớn hơn hắn tưởng.

その疑問に答えられる者など、この場には誰もいなかった……。

Không có ai ở đó có thể trả lời câu hỏi đó...

Chương 1 - Nước mắt tuôn rơi

第一章 流れる涙

ルミナスは戦場を俯瞰する。

Luminous quan sát toàn cảnh chiến trường.

人類の存亡は、この戦いの結末にかかっていた。

Sự tồn vong của nhân loại phụ thuộc vào kết quả của trận chiến này.

負けたら終わり──だからこそ、全てを出し尽くす覚悟で挑むのである。

Nếu thua là hết... chính vì vậy, họ chiến đấu với quyết tâm cống hiến tất cả.

『四肢がなくなろうが、魔力が涸(か)れ果てようが、怯むでないぞ! その命に価値を見出せる事を、むしろ幸運であると思うがいい!!』

“Dù có mất đi tứ chi, dù có cạn kiệt ma lực, cũng không được nao núng! Hãy xem việc có thể tìm thấy giá trị cho sinh mệnh của mình là một điều may mắn!!”

と、ルミナスは『思念伝達』で、全ての戦士達を鼓舞してのける。

Luminous dùng “Truyền Đạt Tư Niệm” để cổ vũ tất cả các chiến binh.

それは詭弁であり、洗脳でもある。

Đó là một lời ngụy biện, và cũng là một hình thức tẩy não.

ただし、真実でもあった。

Tuy nhiên, đó cũng là sự thật.

平時であれば聞きながす者も多いだろうが、この場では奮起する者ばかりだ。その事実こそが、ルミナスの言葉に〝力〟が──正義が宿っている証左なのである。

Trong thời bình, có lẽ nhiều người sẽ bỏ qua, nhưng ở đây, ai nấy đều hừng hực khí thế. Chính sự thật đó là bằng chứng cho thấy lời nói của Luminous mang “sức mạnh”... và công lí.

人は誰しもが、自分の生に価値を求めるものなのだ。

Ai cũng mong muốn tìm thấy giá trị cho cuộc sống của mình.

それを与えてくれる大義名分があれば、死を恐れずに前に進めるのだった。

Nếu có một đại nghĩa chính đáng mang lại điều đó, họ có thể tiến lên mà không sợ hãi cái chết.

そうして戦場は、謎の熱気に包まれて緊張状態が熟成されていった。

Và thế là, chiến trường được bao trùm bởi một bầu không khí nóng bỏng bí ẩn, và sự căng thẳng ngày càng tăng cao.

北方では、次元を飛翔する鳥──ハバタキを相手に、ルイやギュンター、アダルマンやガドラなどが奮闘している。

Ở phía Bắc, Louis, Gunther, Adalmann, Gadra và những người khác đang chiến đấu chống lại Habataki, con chim bay lượn giữa các chiều không gian.

初見で全滅しなかったのが僥(ぎょう)倖(こう)なほど厄介な相手だったが、マイが参戦してくれたお陰で、反撃の糸口が見えてきた。

Đó là một đối thủ khó chịu đến mức việc không bị tiêu diệt ngay lần đầu gặp mặt đã là một may mắn, nhưng nhờ có sự tham chiến của Mai, họ đã tìm thấy manh mối để phản công.

西側では、虚無を疾走する獣──カケアシを相手に、シオン達が頑張っている。出奔中だったサーレやグレゴリーも、文句を言いつつも死力を尽くしていた。

Ở phía Tây, Shion và những người khác đang nỗ lực chống lại Kakeashi, con thú chạy trong hư vô. Saare và Grigori, những người đang bỏ trốn, cũng đang chiến đấu hết mình dù miệng vẫn phàn nàn.

特にサーレなどは、聖浄化結界(ホーリーフィールド)の維持も並行して行っている。自分が倒れたら終わりだと十分に理解しているので、想像を絶するプレッシャーに晒されているようだった。

Đặc biệt là Saare, anh ta còn phải duy trì song song Kết Giới Thánh Tịnh Hóa (Holy Field). Anh ta hiểu rõ rằng nếu mình gục ngã, mọi thứ sẽ kết thúc, nên dường như đang phải chịu một áp lực không thể tưởng tượng nổi.

ルミナスにとっては天敵だった巨人族(ジャイアント)──〝縛鎖巨神団〟も、今この時は頼もしき味方である。他にも名立たる戦士達もおり、じわじわと敵勢力の勢いを削れている様子であった。

Đối với Luminous, tộc Cự nhân... “Binh Đoàn Cự Thần Bị Xích” từng là kẻ thù không đội trời chung, nhưng giờ đây họ lại là những đồng minh đáng tin cậy. Ngoài ra còn có những chiến binh lừng danh khác, và họ đang dần dần làm suy yếu lực lượng của kẻ thù.

南側では、星間を遊泳する魚──スイームを相手に、ウルティマが無双していた。

Ở phía Nam, Ultima đang một mình cân cả thế giới trước Swim, con cá bơi lội giữa các vì sao.

流石よな──と、ルミナスも感嘆したほどだ。

Quả nhiên là cô ấy... Luminous cũng phải thán phục.

ハッキリ言えば、その他戦力はオマケのようなものだった。それでも連携を見せて、ウルティマの邪魔にならないように、湧き出し続ける異形の幻獣族(クリプテッド)共を着実に屠(ほふ)っている。それはそれで、とても重要な働きなのだった。

Nói thẳng ra, các lực lượng khác chỉ là phụ. Dù vậy, họ vẫn phối hợp với nhau, cẩn thận không cản đường Ultima, và tiêu diệt một cách chắc chắn những con tộc Ảo thú dị hình liên tục xuất hiện. Đó cũng là một vai trò rất quan trọng.

そして更に、ベニマル率いる援軍の到来である。

Và rồi, quân tiếp viện do Benimaru dẫn đầu đã đến.

邪神の如き異界の魔物達を次々に屠り、形勢は逆転したかに思われた。

Họ lần lượt tiêu diệt những Ma vật từ thế giới khác giống như những Tà thần, và tình thế dường như đã đảo ngược.

それなのに──

Thế nhưng...

東側では、〝滅(めっ)界(かい)竜(りゅう)〟イヴァラージェに動きはない。

Ở phía Đông, “Diệt Giới Long” Ivalage vẫn không có động tĩnh gì.

不気味なほどに、静かだ。

Yên tĩnh một cách đáng sợ.

ルミナスの超直観は、当初から最大限の警報を訴えていた。

Siêu trực giác của Luminous đã cảnh báo ở mức tối đa ngay từ đầu.

それが今、何も聞こえなくなっていた。

Bây giờ, nó không còn nghe thấy gì nữa.

(警戒すべき時は終わった──という事なのやも知れぬな)

(Có lẽ thời điểm cần cảnh giác đã qua rồi...)

そう考えたルミナスは、正しく状況を把握していたのである。

Luminous đã suy nghĩ như vậy và nắm bắt tình hình một cách chính xác.

戦場から音が消えていた。

Âm thanh đã biến mất khỏi chiến trường.

不思議なほどの静寂は、邪悪な哄笑によって打ち破られる。

Sự im lặng kì lạ bị phá vỡ bởi một tiếng cười man rợ.

『きゃはははハハハハハッ──っ♪』

“Kyahahaha hahaha hah...♪”

それは邪悪なのに、とても無邪気だった。

Nó độc ác, nhưng lại rất ngây thơ.

「本質的な〝悪〟とは、これほどまでに恐ろしいものなのか──」

“Bản chất của ‘cái ác’ lại đáng sợ đến thế này sao...”

ルミナスの呟きは、皆の心情を代弁するものだった。

Lời thì thầm của Luminous đã nói lên tâm trạng của mọi người.

〝滅(めっ)界(かい)竜(りゅう)〟イヴァラージェそのものが、善なのか悪なのかを論じているのではない。ただその行いが、まったく他者への配慮に欠けているのが問題なのだ。

Không phải là đang bàn luận xem bản thân “Diệt Giới Long” Ivalage là thiện hay ác. Vấn đề là hành động của nó hoàn toàn không quan tâm đến người khác.

悪意なく、自分自身の好奇心──快楽のみを追求している。それは、調和と相容れない行為なのだ。

Không có ác ý, chỉ theo đuổi sự tò mò của bản thân... hay sự khoái lạc. Đó là một hành vi không thể dung hòa với sự hài hòa.

〝個〟でありながら〝ほぼ〟完成されていて、自分以外がどうなろうとも影響されない者。それこそが、〝滅(めっ)界(かい)竜(りゅう)〟イヴァラージェの恐ろしさだった。

Là một “cá thể” nhưng lại “gần như” hoàn thiện, không bị ảnh hưởng bởi bất cứ điều gì xảy ra với người khác. Đó chính là sự đáng sợ của “Diệt Giới Long” Ivalage.

「この星どころか、世界そのものさえも──ヤツには不要なのじゃろうな……」

“Không chỉ hành tinh này, mà ngay cả cả thế giới này... đối với nó cũng không cần thiết...”

イヴァラージェの興味を引けなければ、ありとあらゆる交渉に意味はない。そして彼女の目的が世界の破壊であるならば、それを阻止しようとするルミナス達の行動そのものさえも、〝滅(めっ)界(かい)竜(りゅう)〟イヴァラージェを悦(よろこ)ばせるだけなのだ。

Nếu không thể thu hút sự chú ý của Ivalage, mọi cuộc đàm phán đều vô nghĩa. Và nếu mục đích của nó là hủy diệt thế giới, thì ngay cả hành động của Luminous và những người khác nhằm ngăn chặn điều đó cũng chỉ làm cho “Diệt Giới Long” Ivalage vui mừng mà thôi.

滅ぼすべき敵──という言葉がこれほど似合う存在も、そうはいないだろう。

Không có nhiều tồn tại nào phù hợp với cụm từ “kẻ thù cần phải tiêu diệt” đến thế.

そして今、その敵の気配に変化が生じていた。

Và bây giờ, khí tức của kẻ thù đó đang có sự thay đổi.

「笑えるな。どうせなら、最後まで大物然として、一歩も動かずにいればよいものを……」

“Thật nực cười. Đáng lẽ ra nên ra vẻ ta đây đến cuối cùng, không động một bước thì tốt hơn...”

戦場の均衡状態は、ルミナスの神聖魔法による蘇生と、〝滅(めっ)界(かい)竜(りゅう)〟イヴァラージェの不参戦によって成立していたのだ。それが崩れるとなると、戦線が崩壊しても不思議ではなかった。

Sự cân bằng trên chiến trường được duy trì nhờ vào sự hồi sinh bằng Ma Pháp Thần Thánh của Luminous và việc “Diệt Giới Long” Ivalage không tham chiến. Nếu điều đó bị phá vỡ, không có gì lạ nếu chiến tuyến sụp đổ.

こうなると戦術の見直しが必要となるが、そんな余裕などない。戦略時点の失点を取り戻せるほどの戦力など、どこにも残されていないのだ。

Trong tình huống này, cần phải xem xét lại chiến thuật, nhưng không có thời gian cho việc đó. Không còn đủ lực lượng ở đâu để bù đắp những tổn thất từ giai đoạn chiến lược.

もっとも、戦略そのものも最善だったので、この結果は甘受するしかないのだが……。

Dù sao thì, bản thân chiến lược cũng đã là tốt nhất, nên chỉ có thể chấp nhận kết quả này...

ルミナスの隣に、ガゼル王が接近した。

Vua Gazeru tiến lại gần Luminous.

「魔王ルミナスよ、どうする? 遊撃戦力全て、イヴァラージェにぶつけるか?」

“Ma vương Luminous, chúng ta làm gì bây giờ? Dồn toàn bộ lực lượng du kích vào Ivalage chứ?”

そう問われて、ルミナスは「うむ……」と唸った。

Được hỏi như vậy, Luminous gầm gừ “Ừm...”.

その手を取れば、どこかの戦線が崩壊しても立て直せなくなる。けれど、このままでは東側の崩壊は避けられないと思われた。

Nếu làm vậy, dù một chiến tuyến nào đó có sụp đổ, họ cũng không thể tái lập lại được. Nhưng nếu cứ thế này, sự sụp đổ của mặt trận phía Đông dường như là không thể tránh khỏi.

しかし、事態の推移は待ってくれない。

Tuy nhiên, tình hình không chờ đợi ai cả.

より最悪に、致命的なタイミングで結実したのだ。

Nó đã kết thúc vào thời điểm tồi tệ nhất, chí mạng nhất.

「待て! イヴァラージェの姿が変化したじゃと? あれは、あの姿は──」

“Chờ đã! Hình dạng của Ivalage đã thay đổi sao? Đó là, hình dạng đó là...”

ルミナスが指摘した通り、イヴァラージェの見た目が変わっていた。

Đúng như Luminous đã chỉ ra, ngoại hình của Ivalage đã thay đổi.

力が増えたのかどうかなど、心配しても無駄である。

Việc lo lắng xem sức mạnh của nó có tăng lên hay không cũng vô ích.

最初に登場した時点でさえ、その底を把握しようもなかったからだ。

Bởi vì ngay từ khi nó xuất hiện lần đầu, họ đã không thể nào nắm bắt được giới hạn của nó.

そんなイヴァラージェが、地上へと降り立つ。

Một Ivalage như vậy đã hạ xuống mặt đất.

そしてその姿は──

Và hình dạng đó...

「……美しい女性に見えるが、何者か知っているのか?」

“...Trông giống một người phụ nữ xinh đẹp, ngươi có biết cô ta là ai không?”

ガゼルがルミナスに問うた。

Gazeru hỏi Luminous.

ルミナスは答えない。

Luminous không trả lời.

知らない女性だったが、どこか見覚えがあった。

Đó là một người phụ nữ xa lạ, nhưng lại có cảm giác quen thuộc.

そう──

Đúng vậy...

それはまるで、魔王ミリムを大人にしたような──

Nó giống như Ma vương Millim khi đã trưởng thành...

そして地上では、真っ先にマサユキが反応していた。

Và trên mặt đất, Masayuki là người phản ứng đầu tiên.

否。

Không.

それはマサユキ本人ではなく、彼の中に眠る〝勇者〟の記憶だ。

Đó không phải là bản thân Masayuki, mà là kí ức của “Dũng giả” đang ngủ yên trong cậu.

「──ルシアッ!?」

“...Lucia!?”

思わず声に出して叫んでしまい、マサユキ本人も驚いていた。

Cậu vô thức hét lên, và chính Masayuki cũng ngạc nhiên.

(えっと、ルシアって、誰?)

(Ừm, Lucia là ai vậy?)

そう思った途端、忘却していた記憶が思い起こされてくる。

Ngay khi nghĩ vậy, những kí ức đã bị lãng quên lại ùa về.

それは、遥か昔に妹だった人の名前。

Đó là tên của người em gái từ rất lâu về trước.

(そっか、そりゃビックリして叫んじゃうだろうけど、あれって本人じゃないよね?)

(Ra vậy, bất ngờ đến mức hét lên như thế, nhưng đó không phải là người thật đâu nhỉ?)

目の前の〝ルシア〟は、敵が変身した姿なのだ。

“Lucia” trước mắt là hình dạng biến hình của kẻ thù.

かなり厄介な事態になっているみたいだ──と、マサユキでさえも深刻な表情を浮かべたのである。

Tình hình có vẻ khá rắc rối... ngay cả Masayuki cũng lộ ra vẻ mặt nghiêm trọng.

そして、事態は更に混迷する。

Và rồi, tình hình càng trở nên hỗn loạn hơn.

イヴァラージェがルシアの姿になったのと同時に、彼女の三つの従僕(シモベ)達も変化を終えていく。

Cùng lúc Ivalage biến thành hình dạng của Lucia, ba thuộc hạ của nó cũng hoàn thành sự biến đổi.

それは本当に進化したのか、あるいは誰もが悪夢を見ているだけなのか……。

Đó là sự tiến hóa thực sự, hay chỉ là mọi người đang gặp ác mộng...

ヴェルグリンドでさえ、その三体の力の上限を正確に読み解けずにいる。非現実的だと皆が思ったとしても、無理もない話なのだ。

Ngay cả Verugrynd cũng không thể đọc được chính xác giới hạn sức mạnh của ba thực thể đó. Dù mọi người có nghĩ rằng điều đó là phi thực tế, cũng không có gì lạ.

異常事態は、それだけではなかった。

Tình hình bất thường không chỉ dừng lại ở đó.

地上に放置されていたジャヒルの死体が、怪しく蠢(うごめ)き始めていたのだ。

Thi thể của Jahil bị bỏ lại trên mặt đất bắt đầu động đậy một cách đáng ngờ.

そして最後に──

Và cuối cùng...

誰も察していない謎の気配が、遥か高みから混沌とした戦場を眺めていた。

Một khí tức bí ẩn mà không ai nhận ra đang quan sát chiến trường hỗn loạn từ trên cao.

『フフフ、ボクの〝妻〟が生き返ったよ。もう直ぐ〝娘〟もやって来る。家族が揃うんだ。次は失敗しないよ。ちゃんと〝選別〟して、価値ある者だけを残さなきゃね』

“Fufufu, ‘vợ’ của ta đã sống lại rồi. Sắp tới ‘con gái’ cũng sẽ đến. Cả gia đình sẽ đoàn tụ. Lần này ta sẽ không thất bại đâu. Phải ‘tuyển chọn’ cẩn thận, chỉ giữ lại những kẻ có giá trị thôi.”

その何者かが、そう呟いた。

Kẻ đó đã lẩm bẩm như vậy.

それは、残酷な宣告なのだが──

Đó là một lời tuyên bố tàn khốc...

それを知る者はまだ、地上にはいなかった。

Nhưng trên mặt đất, chưa có ai biết điều đó.

ギィ。

Guy.

そして、カレラとレイン。

Và rồi, Carrera và Rain.

この三名が、テスタロッサのサポートを受けながらヴェルザードに対峙していた。

Ba người này, với sự hỗ trợ của Testarossa, đang đối đầu với Veruzard.

ギィがメインで、カレラとレインは遊撃である。

Guy là người chính, còn Carrera và Rain là du kích.

暴走し始めたヴェルザードは、正しく天災だった。

Veruzard khi bắt đầu mất kiểm soát đúng là một thảm họa thiên nhiên.

ヴェルザードが、その本性を露わにしていた。

Veruzard đã bộc lộ bản chất thật của mình.

最強の竜形態へと変化して、周囲を圧するように暴れ狂っているのだ。

Cô ấy đã biến thành dạng rồng mạnh nhất và đang tàn phá xung quanh như thể muốn đè bẹp mọi thứ.

それなのに、その姿は美しかった。

Thế nhưng, hình dạng đó lại rất đẹp.

その鱗は白真珠(パール)よりも深みがある、見る者を魅了する宝石のようだ。

Những chiếc vảy của cô ấy có chiều sâu hơn cả ngọc trai trắng, giống như những viên đá quý làm say đắm người nhìn.

その静謐なまでの深海色(ブルーダイアモンド)の瞳は、今や真の力が解放されて黄金(きん)色(いろ)に輝いている。

Đôi mắt màu xanh thẳm của đại dương tĩnh lặng giờ đây đã giải phóng sức mạnh thật sự và tỏa sáng màu vàng kim.

漏れ出る覇気は、苛烈。

Bá khí tỏa ra vô cùng dữ dội.

鮮烈なまでに純白の輝きを放ち、絶対的支配者の威厳で周辺一帯を圧倒していた。

Nó tỏa ra một ánh sáng trắng tinh khiết đến chói lòa, và áp đảo toàn bộ khu vực xung quanh bằng uy nghiêm của một kẻ thống trị tuyệt đối.

暴走状態にありながらも、誰しもが見惚れるほどの神秘性に満ちている。

Dù đang trong trạng thái mất kiểm soát, cô ấy vẫn tràn đầy sự huyền bí đến mức ai cũng phải ngắm nhìn.

それこそが、紛うかたなき最強の〝竜種〟──〝白氷竜〟の真の姿だった。

Đó chính là hình dạng thật sự của “Long chủng” mạnh nhất không thể nhầm lẫn... “Bạch Băng Long”.

だが、それでも──

Nhưng, dù vậy...

その暴威に対峙する者達の表情に、怯えの色など皆無だ。

Trên khuôn mặt của những người đang đối mặt với sự hung bạo đó, không hề có một chút sợ hãi nào.

テスタロッサを通して、〝リムル帰還〟という朗報が共有されていたからだった。

Bởi vì tin vui “Rimuru trở về” đã được chia sẻ thông qua Testarossa.

真っ先にギィが反応した。

Guy là người phản ứng đầu tiên.

「そうかよ。あの野郎が戻ってきたんなら、さっさとこっちに来て手伝えって伝えてくれや」

“Vậy sao. Nếu tên đó đã trở về, thì bảo hắn mau chóng đến đây giúp một tay đi.”

「貴方に言われなくとも、リムル様にはリムル様なりに御考えがありますわよ」

“Không cần ngài phải nói, ngài Rimuru cũng có suy tính riêng của ngài ấy.”

ミリム様を正気に戻すのが先でしょうし、とテスタロッサが応じる。

Testarossa đáp lại, có lẽ việc đưa ngài Millim trở lại bình thường là ưu tiên hàng đầu.

どの戦場を見ても、ギリギリの局面なのだ。自分達を優先しろなどと、テスタロッサの立場から言い出せるはずがなかった。

Nhìn vào bất cứ chiến trường nào, tình hình đều đang ở thế ngàn cân treo sợi tóc. Với vị trí của Testarossa, cô không thể nào nói rằng hãy ưu tiên cho họ.

「その通り! 我が君の判断に間違いなどないさ!!」

“Đúng vậy! Phán đoán của chủ nhân ta không bao giờ sai!!”

攻撃に専念していたカレラも、テスタロッサと同意見だ。リムルが消息不明になっていたという事情すら把握していないので、絶大な信頼を寄せている。

Carrera, người đang tập trung vào tấn công, cũng đồng ý với Testarossa. Cô ấy thậm chí còn không biết rằng Rimuru đã mất tích, nên đặt niềm tin tuyệt đối vào cậu.

もっとも、この地での状況ならば把握しているカレラである。氷像となっても、彼女の意識は戦場に張り巡らせたままだったからだ。

Tuy nhiên, Carrera vẫn nắm bắt được tình hình tại đây. Ngay cả khi đã biến thành tượng băng, ý thức của cô vẫn bao quát khắp chiến trường.

それ故に、狙いすまして〝神滅弾(ジャッジメント)〟を放てたのだった。

Chính vì vậy, cô đã có thể nhắm chính xác và bắn ra “Thần Diệt Đạn (Judgement)”.

そんなカレラがリムルを信奉するのは普段通りだが、ここでもう一名、リムルを擁護する者がいた。

Việc Carrera tôn thờ Rimuru là chuyện thường ngày, nhưng ở đây lại có thêm một người nữa bênh vực Rimuru.

「ギィ様、焦りは禁物かと。時間さえ稼げば、リムル様も到着なさるハズ! ですので我々は、怪我しないようにほどほどに、ヴェルザード様の相手をしていればいいのでは?」

“Thưa ngài Guy, tôi nghĩ nóng vội là điều cấm kị. Chỉ cần câu giờ, ngài Rimuru chắc chắn sẽ đến! Vì vậy, chúng ta chỉ cần đối phó với ngài Veruzard một cách vừa phải để không bị thương là được rồi, phải không ạ?”

私を助けに──という副音声が聞こえそうな、レインらしい進言だ。

Đó là một lời đề nghị rất giống Rain, như thể có thể nghe thấy cả giọng nói phụ ‘đến cứu tôi’.

決して無理せず利を得よう、という考えが透けて見える。それでいて、一理はあるのだから困ったものだ。

Suy nghĩ ‘không bao giờ làm việc quá sức mà vẫn muốn có lợi’ của cô ấy lộ ra rõ ràng. Nhưng lại có một phần lí lẽ trong đó, thật là phiền phức.

「それに、もう直ぐ避難も完了するでしょうし、そうなればミザリーも参戦出来ます。モスやエスプリだって」

“Hơn nữa, việc sơ tán cũng sắp hoàn tất, lúc đó Misery cũng có thể tham chiến. Cả Moss và Esprit nữa.”

しれっと発言するレイン。テスタロッサやカレラの配下までも、自分の手下のように勝手にカウントしていた。

Rain nói một cách thản nhiên. Cô ấy tự tiện tính cả thuộc hạ của Testarossa và Carrera như thể họ là người của mình.

相変わらず調子のいいヤツだぜ──と、ギィは呆れつつも感心する。

Vẫn là một đứa giỏi nịnh nọt... Guy vừa ngán ngẩm vừa thán phục.

理性ある状態のヴェルザードなら、生半可な戦力追加など無意味だ。しかしながら、暴走している今なら話は違っていた。

Nếu Veruzard còn lí trí, việc bổ sung thêm những lực lượng nửa vời là vô nghĩa. Tuy nhiên, bây giờ khi cô ấy đang mất kiểm soát thì lại khác.

確たる実力者ならば、ヴェルザードの攻撃を受けないように立ち回る事は可能だ。油断しなければ死にはしないので、攪(かく)乱(らん)戦法の役には立つのである。

Nếu là một người có thực lực, họ có thể di chuyển để tránh các đòn tấn công của Veruzard. Nếu không chủ quan, họ sẽ không chết, nên có thể hữu ích trong chiến thuật quấy rối.

もっとも、そこまで無理をする必要があるのかどうか、それが悩みどころだった。

Tuy nhiên, câu hỏi là liệu có cần phải cố gắng đến mức đó không, đó là điều đáng bận tâm.

ギィとしては、『早くヴェルザードを正気に戻してやりたい』という思いがある。しかしながら、ただ攻撃を繰り返しているだけでは、その願いは叶わないのだ。

Đối với Guy, anh có mong muốn ‘mau chóng đưa Veruzard trở lại bình thường’. Tuy nhiên, chỉ lặp đi lặp lại các đòn tấn công thì mong muốn đó sẽ không thành hiện thực.

大前提として、ヴェルザードの内面がどうなっているか不明だった。これを把握しない限り、外部から影響を及ぼすのは不可能だった。

Điều kiện tiên quyết là không ai biết bên trong Veruzard đang xảy ra chuyện gì. Nếu không nắm bắt được điều này, việc tác động từ bên ngoài là không thể.

危険を承知で星幽体(アストラル・ボディー)を離脱させ、心核(ココロ)を通わせるようにヴェルザードの内面へと潜る必要があるのだが、今の状態でそれを行えば、無防備となった本体を破壊される可能性が高かった。ギィとてテスタロッサ達を信用していない訳ではないが、それ以上にヴェルザードの危険性を熟知していたのである。

Cần phải chấp nhận rủi ro, tách Thể tinh u (Astral body) ra và xâm nhập vào bên trong Veruzard để kết nối với Tâm hạch, nhưng nếu làm điều đó trong tình trạng hiện tại, khả năng cơ thể thật không được bảo vệ sẽ bị phá hủy là rất cao. Không phải Guy không tin tưởng Testarossa và những người khác, mà là anh ta hiểu rõ sự nguy hiểm của Veruzard hơn.

レインの言うように、このままの状態を維持するのも手なのだが……。

Như Rain đã nói, duy trì tình trạng này cũng là một lựa chọn...

「ギィ、貴方ならヴェルザード様を正気に戻せるのかしら?」

“Guy, liệu ngài có thể đưa ngài Veruzard trở lại bình thường không?”

理性を失ったヴェルザードの猛攻を『虚無』で相殺するという神技を披露しながら、テスタロッサが問うた。

Testarossa vừa thể hiện thần kĩ dùng “Hư vô” để hóa giải đòn tấn công dữ dội của Veruzard mất lí trí, vừa hỏi.

「ああ、出来るぜ。ただし、今みてーに戦いながらじゃ無理だけどな」

“À, làm được chứ. Nhưng không thể vừa chiến đấu như bây giờ được.”

というのが、ギィの偽らざる本音なのだった。

Đó là lời nói thật lòng của Guy.

ギィの返答を聞いて、それはそうだろう、とテスタロッサは思った。自分と同様、ギィも『虚無』を駆使してヴェルザードに対応しているからだ。

Nghe câu trả lời của Guy, Testarossa nghĩ, chắc chắn là vậy. Giống như cô, Guy cũng đang sử dụng “Hư vô” để đối phó với Veruzard.

〝視た〟だけで技を真似られたようで悔しいが、この局面では頼もしくもあった。そんなギィが無理だと言うのならば、その言葉を疑う余地などないのである。

Dù có chút bực bội vì dường như anh ta đã bắt chước kĩ năng chỉ bằng cách “nhìn”, nhưng trong tình huống này, điều đó lại rất đáng tin cậy. Nếu một người như Guy nói là không thể, thì không có lí do gì để nghi ngờ lời nói của anh ta.

そもそも、テスタロッサだって『虚無』を制御するだけで手一杯なのだ。これと並行してヴェルザードの暴走状態に介入するなど、テスタロッサにとっても自殺行為以外の何物でもなかった。

Vốn dĩ, ngay cả Testarossa cũng đã quá bận rộn với việc kiểm soát “Hư vô”. Việc can thiệp vào trạng thái mất kiểm soát của Veruzard song song với điều đó không khác gì hành động tự sát đối với Testarossa.

(……やはり、リムル様に手伝ってもらうのが最善なのでしょうね)

(...Quả nhiên, nhờ ngài Rimuru giúp đỡ là tốt nhất nhỉ.)

リムルに頼りっぱなしというのが、テスタロッサにとっては不甲斐ない話であった。そしてそれ以上に、何も考えていないようなレインの発言が最善だというのが、これ以上ないほどに腹立たしい。

Việc phải dựa dẫm vào Rimuru là một điều đáng xấu hổ đối với Testarossa. Và hơn thế nữa, việc lời nói của Rain, người dường như không suy nghĩ gì, lại là phương án tốt nhất, khiến cô vô cùng bực bội.

やれやれと溜息を吐きたくもなるのだが、先の見えない絶望感は失せていた。

Dù muốn thở dài ngao ngán, nhưng cảm giác tuyệt vọng vô định đã biến mất.

その事実に気付いて、テスタロッサは苦笑する。

Nhận ra sự thật đó, Testarossa cười khổ.

「リムル様を待ちましょう」

“Chúng ta hãy chờ ngài Rimuru.”

「それしかねーか」

“Chỉ còn cách đó thôi sao.”

テスタロッサとギィは、ほぼ同時に方針を定めたのだった。

Testarossa và Guy gần như cùng lúc quyết định phương hướng.

これに頷くカレラ。

Carrera gật đầu đồng tình.

「同意だね。私の攻撃でも、ヴェルザード様には通用しないみたいだし」

“Đồng ý. Ngay cả đòn tấn công của tôi cũng dường như không có tác dụng với ngài Veruzard.”

〝神滅弾(ジャッジメント)〟はともかく、通常の攻撃ではヴェルザードの防御力を突破出来なかった。どれだけ頑丈なのさ──と文句を言いたくなるが、通用しそうな大技を発動させるのは違う。

Bỏ qua “Thần Diệt Đạn (Judgement)”, các đòn tấn công thông thường không thể xuyên thủng lớp phòng ngự của Veruzard. Dù muốn phàn nàn rằng cô ấy cứng cáp đến mức nào, việc sử dụng một đòn tấn công lớn có thể có hiệu quả lại là một chuyện khác.

ヴェルザードを殺すのではなく、正気に戻す為の戦いだからだ。

Bởi vì đây là một trận chiến không phải để giết Veruzard, mà là để đưa cô ấy trở lại bình thường.

まあ、それだけ苦労してヴェルザードが仲間になるのかと問われれば、神のみぞ知るところである。それはカレラだけではなく、ギィやテスタロッサだってわからないだろう。

Chà, nếu được hỏi liệu Veruzard có trở thành đồng minh sau bao nhiêu vất vả như vậy không, thì chỉ có trời mới biết. Không chỉ Carrera, mà ngay cả Guy và Testarossa cũng không thể biết được.

それでも、やる。

Dù vậy, họ vẫn làm.

意識があろうが暴走していようが、カレラではどうせ倒せないのだ。カレラとしては、ここはギィ達の判断に従うのが最善なのだった。

Dù có ý thức hay mất kiểm soát, Carrera cũng không thể nào đánh bại được cô ấy. Đối với Carrera, việc tuân theo phán đoán của Guy và những người khác là tốt nhất.

レインなど、もっと割り切っていた。

Rain thì còn dứt khoát hơn.

火力特化のカレラでもダメージが通らないのだから、レインなど何をしても無駄なのだ。

Ngay cả Carrera, người chuyên về hỏa lực, cũng không thể gây sát thương, vậy nên Rain làm gì cũng vô ích.

ミザリーやモス達が参戦しても同じだろう。

Ngay cả khi Misery và Moss tham chiến, kết quả cũng sẽ như vậy.

倒せるのはギィだけだし、もしその気ならとっくに終わっている。

Chỉ có Guy mới có thể đánh bại được cô ấy, và nếu anh ta muốn, trận chiến đã kết thúc từ lâu.

だからこそ、迷わない。

Chính vì vậy, cô không do dự.

レインとしては、ギィの意思を尊重して自分なりに役割を果たすのみ──なのだが、どうせなら安全安心な策を選択して欲しいところ。

Đối với Rain, cô chỉ cần tôn trọng ý chí của Guy và hoàn thành vai trò của mình... nhưng nếu được, cô muốn chọn một phương án an toàn và chắc chắn.

(リムル様が帰還なさったのなら、手伝ってもらえばいいじゃない! だって、その方が絶対に確実なのだもの)

(Nếu ngài Rimuru đã trở về, thì nhờ ngài ấy giúp là được rồi! Bởi vì như vậy chắc chắn sẽ hiệu quả hơn!)

というのが、レインの本心なのだ。

Đó là suy nghĩ thật lòng của Rain.

リムルならばどんな事態になっても対応出来ると、レインはそう信じていた。それこそ、ギィと組めば不可能はない、とまで。

Rain tin rằng Rimuru có thể đối phó với bất kì tình huống nào. Thậm chí, nếu kết hợp với Guy, không có gì là không thể.

ならば、今危険を冒さずとも、少し待てばいいではないか。そうすれば、楽して目的を達成出来るハズだ、と。

Vậy thì, không cần phải mạo hiểm bây giờ, chỉ cần chờ một chút là được. Như vậy, họ có thể dễ dàng đạt được mục tiêu.

一番不純な思考であったが、それこそが真理。ギィやテスタロッサが苛立つ理由でもあるが、レインの考えが一番理にかなっていたのである。

Dù là suy nghĩ không trong sáng nhất, nhưng đó lại là sự thật. Đó cũng là lí do khiến Guy và Testarossa bực bội, nhưng suy nghĩ của Rain lại là hợp lí nhất.

そうして、皆の意見が概ね一致した頃──

Và rồi, khi ý kiến của mọi người gần như đã thống nhất...

「いやあ、ちょっと遅れちゃったかな? 皆が無事で良かった良かった!」

“Chà, hình như mình đến hơi muộn nhỉ? Mọi người đều bình an là tốt rồi!”

などという、お気楽な声が戦場に響いた。

Một giọng nói vô tư vang lên trên chiến trường.

リムルが現地に到着した事で、場の空気は一気に緩和されたのだった。

Sự xuất hiện của Rimuru tại hiện trường đã khiến bầu không khí ngay lập tức dịu đi.

大慌てで旧ユーラザニアの戦場に『瞬間移動(テレポート)』したのだが、現場は色々な意味で緊迫していた。

Tôi vội vàng “Dịch chuyển tức thời (Teleport)” đến chiến trường ở Eurazania cũ, nhưng hiện trường lại đang căng thẳng theo nhiều nghĩa.

竜の姿になったヴェルザードが、無差別に暴れ狂っていたからだ。

Bởi vì Veruzard trong hình dạng rồng đang tàn phá một cách bừa bãi.

避難する者達に被害が及ばないように、テスタロッサやギィが『虚無』を駆使してヴェルザードの攻撃を相殺している。

Để những người sơ tán không bị tổn hại, Testarossa và Guy đang sử dụng “Hư vô” để hóa giải các đòn tấn công của Veruzard.

何事もなければ見惚れるほどに美しいのだが、今は鑑賞する余裕などない。先ずはヴェルザードを正気に戻して、それから交渉&説得を行わねばならないだろう。

Nếu không có chuyện gì xảy ra, cô ấy đẹp đến mức có thể ngắm nhìn mãi không chán, nhưng bây giờ không có thời gian để thưởng thức. Trước hết, phải đưa Veruzard trở lại bình thường, sau đó mới có thể đàm phán và thuyết phục.

今は世界の危機だし、何としてでも協力を取り付ける所存である。

Bây giờ là lúc thế giới đang gặp nguy hiểm, nên tôi quyết tâm phải có được sự hợp tác bằng mọi giá.

正気を失った原因は、カレラの〝神滅弾(ジャッジメント)〟らしいが……これはまあ、不可抗力というやつだね。

Nguyên nhân mất trí dường như là do “Thần Diệt Đạn (Judgement)” của Carrera... nhưng thôi, đây là trường hợp bất khả kháng.

決して俺のせいではないので、責任問題を追及される心配はないと思いたい。

Tuyệt đối không phải lỗi của tôi, nên tôi muốn tin rằng mình sẽ không bị truy cứu trách nhiệm.

「テメエはよう、何か都合のいいように自分に言い訳してねーで、さっさと協力しやがれってんだ!」

“Tên khốn nhà ngươi, đừng có mà tự bào chữa cho bản thân một cách tiện lợi như thế nữa, mau chóng hợp tác đi!”

解せぬ。

Không thể hiểu được.

ギィから怒られた。

Tôi bị Guy mắng.

だが、待って欲しい。

Nhưng mà, khoan đã.

俺は何も悪くないのだ。

Tôi không làm gì sai cả.

俺だってさ、色々大変なんですよ?

Tôi cũng gặp nhiều khó khăn lắm chứ bộ?

何処とも知れない場所に跳ばされて、戻って来るなり暴走していたミリムの相手をさせられて。

Bị dịch chuyển đến một nơi không rõ, vừa trở về đã phải đối phó với Millim đang mất kiểm soát.

ディアブロがフェルドウェイを倒すところを見守って──って、逃げられたけど。

Theo dõi Diablo đánh bại Feldway... à mà hắn ta chạy thoát rồi.

あれは仕方ない。

Chuyện đó không thể tránh được.

もう終わった事なのだ。

Chuyện đã qua rồi.

この世界とは別の場所まで『瞬間移動(テレポート)』で跳んだみたいだが、こっちに出現したら直ぐにわかるらしいので、シエルさんの言葉を信じて放置しておく。

Dường như hắn đã “Dịch chuyển tức thời (Teleport)” đến một nơi khác ngoài thế giới này, nhưng nghe nói nếu hắn xuất hiện ở đây thì sẽ biết ngay, nên tôi tin lời Ciel và tạm thời bỏ qua.

という感じに色々と苦労をしつつ、ようやくここまで辿り着いたってワケ。

Đại loại là tôi đã phải vất vả rất nhiều để đến được đây.

それなのに、いきなりせっつかれましても、ねえ?

Thế mà lại bị hối thúc ngay lập tức, thiệt tình chứ?

「何か文句でもあるのかよ?」

“Ngươi có gì phàn nàn à?”

「いいえ、何も」

“Không, không có gì ạ.”

ギィはピリピリしているみたいだし、刺激するのは得策ではないな。

Guy có vẻ đang cáu kỉnh, chọc tức anh ta không phải là một ý hay.

俺も仕事モードに切り替えて、先ずは詳細な状況把握に努めるとしよう。

Tôi cũng chuyển sang chế độ làm việc và trước hết sẽ cố gắng nắm bắt tình hình chi tiết.

俺はギィと睨み合っているディアブロを放置して、戦場全体へと意識を向けた。

Tôi mặc kệ Diablo đang lườm nhau với Guy và tập trung ý thức vào toàn bộ chiến trường.

氷像と化していた者達は、全員解放された様子である。だからこそ、今度は死の危険に晒されているようだが、これはテスタロossa達によって守られて撤退中だった。

Những người đã biến thành tượng băng dường như đều đã được giải thoát. Chính vì vậy, lần này họ lại phải đối mặt với nguy cơ tử vong, nhưng họ đang được Testarossa và những người khác bảo vệ và rút lui.

カリオンやフレイさん、ミッドレイなどの指揮官達によって纏(まと)められた戦士達が、猛威を振るうヴェルザードから可能な限り離れようとしている。しかし、影響範囲が広大過ぎて安全圏には到達していなかった。

Các chiến binh được tập hợp dưới sự chỉ huy của Callion, Frey, Middray và những người khác đang cố gắng di chuyển ra xa nhất có thể khỏi Veruzard đang hoành hành. Tuy nhiên, phạm vi ảnh hưởng quá lớn nên họ vẫn chưa đến được vùng an toàn.

これを守るのが、モスやミザリー達だ。

Người bảo vệ họ là Moss, Misery và những người khác.

少し離れた場所で、ソーカを中心としてモスとミザリーが『防護結界』を維持していた。ゲルドの補強もあって、テスタロッサやギィが相殺しきれなかった攻撃の余波を、上手く分散させるようにして防いでいる。

Ở một nơi hơi xa, Souka làm trung tâm, Moss và Misery đang duy trì “Kết Giới Phòng Ngự”. Với sự gia cố của Gerudo, họ đã khéo léo phân tán và ngăn chặn dư chấn từ các đòn tấn công mà Testarossa và Guy không thể hóa giải hoàn toàn.

中々見事な立ち回りであった。

Đó là một màn trình diễn khá ấn tượng.

この働きがなければ、とっくの昔に被害者が多数生じていたはずだ。やはりモスは有能だなと、俺は密かに感心したのだった。

Nếu không có sự nỗ lực này, chắc chắn đã có rất nhiều người thương vong từ lâu. Quả nhiên Moss rất có năng lực, tôi thầm thán phục.

その『防護結界』の中には、ガビルやエスプリ、オベーラもいる。

Bên trong “Kết Giới Phòng Ngự” đó có Gabiru, Esprit và Obera.

どうやら、究極贈与(アルティメットギフト)『心理之王(ムードメーカー)』で一日に一度だけ発動出来る『運命改変』によって、ヴェルザードの氷像化現象を解除したみたいだね。

Có vẻ như họ đã giải trừ hiện tượng hóa băng của Veruzard bằng “Vận Mệnh Thay Đổi”, thứ chỉ có thể kích hoạt một lần mỗi ngày với Phước lành Tối thượng “Tâm Lí Vương (Moodmaker)”.

《そのようですね》

<<Đúng là như vậy.>>

マジで凄いな。

Thật sự rất tuyệt.

そんな真似が可能なのかと驚きだが、結果が全てだ。

Tôi ngạc nhiên là điều đó có thể thực hiện được, nhưng kết quả là tất cả.

ガビルが優秀なのは知っていたけど、ここぞという場面で大きな役割を果たしたようである。

Tôi biết Gabiru rất tài năng, nhưng có vẻ như cậu ta đã đóng một vai trò quan trọng vào thời điểm quyết định.

しかし、だ。

Tuy nhiên.

ちょっと解せないのは、何故かスフィアとイチャイチャしている事だった。

Điều tôi hơi khó hiểu là tại sao cậu ta lại đang tình tứ với Suphia.

自分の目を疑ったが、エネルギー供給を行っているガビルを支えているだけ──には見えなかった。

Tôi đã nghi ngờ mắt mình, nhưng nó không giống như cô ấy chỉ đang hỗ trợ Gabiru cung cấp năng lượng.

どう見ても、ガビルとスフィアは恋仲になっている模様。

Nhìn thế nào đi nữa, Gabiru và Suphia dường như đã thành một đôi.

後で詳しく問い詰めなきゃねと、俺は歯ぎしりしつつ心に誓ったのである。

Tôi nghiến răng và thề trong lòng rằng sau này sẽ phải tra hỏi kĩ càng.

オベーラはというと、まだ万全ではない様子だ。

Còn Obera thì có vẻ vẫn chưa hoàn toàn bình phục.

どんな戦いを繰り広げたのかは不明だが、大半のエネルギーを消耗したのなら、一日や二日で回復するとは思えなかった。

Tôi không biết cô ấy đã trải qua trận chiến như thế nào, nhưng nếu đã tiêu hao phần lớn năng lượng, tôi không nghĩ cô ấy có thể hồi phục trong một hoặc hai ngày.

ガビルからの補給でも、全然足りていない。

Ngay cả việc bổ sung năng lượng từ Gabiru cũng không đủ.

当面は、休息が必要なはずだ。

Trước mắt, cô ấy cần phải nghỉ ngơi.

しかしそうも言ってられないから、無理をしてでも戦線に留まっているのだろう。

Nhưng không thể nói như vậy, nên có lẽ cô ấy đang cố gắng ở lại chiến tuyến dù phải gắng sức.

真面目。その一言に尽きる。

Nghiêm túc. Chỉ có thể nói như vậy.

ガビルとの対比で、余計にそう思えるよね。

So với Gabiru, điều đó càng khiến tôi nghĩ vậy.

自身の魔力回復に努めつつ、周囲への警戒を怠っていない。そんなオベーラを見て、ミリムは素晴らしい配下を得たものだと思ったのだった。

Cô ấy vừa cố gắng hồi phục ma lực của mình, vừa không lơ là cảnh giác với xung quanh. Nhìn Obera như vậy, tôi nghĩ Millim đã có một thuộc hạ tuyệt vời.

ついでに言うと、エスプリも頑張っている。

Nhân tiện, Esprit cũng đang cố gắng.

特筆すべき行動をしている訳ではないが、モスやミザリーの補助を適切に行っているのだ。

Cô ấy không làm gì đặc biệt đáng chú ý, nhưng lại hỗ trợ Moss và Misery một cách thích hợp.

ツンツンしたギャルっぽい見た目なのに、意外と親切な面もあるんだよね。まあ、カレラが頑張っているのだから、それを助けるのは当然という考えなのだろうけど。

Dù có vẻ ngoài như một cô nàng kiêu kì, nhưng cô ấy cũng có mặt tốt bụng một cách bất ngờ. Chà, vì Carrera đang cố gắng, nên có lẽ cô ấy nghĩ việc giúp đỡ là điều đương nhiên.

何にしろ、『防護結界』維持チームは問題なさそうだ。

Dù sao đi nữa, đội duy trì “Kết Giới Phòng Ngự” có vẻ không có vấn đề gì.

こうした状況だと、どうするのが正解なのか?

Trong tình huống này, làm thế nào mới là đúng?

悩むまでもなかった。

Không cần phải băn khoăn.

最善な手は、足枷となっている弱点をなくしてしまう事だ。

Cách tốt nhất là loại bỏ điểm yếu đang cản trở.

言い方は悪いが、旧ユーラザニアに結集していた戦力は足手纏いなのである。

Nói một cách không hay, nhưng lực lượng tập trung ở Eurazania cũ đang là gánh nặng.

相手が悪過ぎるだけなので、不名誉に思う必要はない。それどころか、別の場所だと大活躍間違いナシだろう。

Chỉ là đối thủ quá mạnh, nên không cần phải cảm thấy hổ thẹn. Ngược lại, ở một nơi khác, họ chắc chắn sẽ tỏa sáng.

という訳で、方針は決まった。

Vì vậy, phương hướng đã được quyết định.

俺は戦場を包み込むように、自分の『竜(りゅう)霊(れい)覇(は)気(き)』を展開させていく。

Tôi triển khai “Bá Khí Long Linh” của mình để bao trùm toàn bộ chiến trường.

ヴェルザードの妖気(オーラ)だけでなく、テスタロッサやギィの『虚無』までも。

Không chỉ yêu khí của Veruzard, mà cả “Hư vô” của Testarossa và Guy cũng vậy.

「テメエ、何しやがった!?」

“Tên khốn, ngươi đã làm gì thế!?”

と、ギィが言いがかりをつけながら、俺の胸ぐらを掴もうとしてきた。

Guy vừa nói một cách gây sự, vừa cố túm lấy cổ áo tôi.

俺はスルリとスライム形態になって、ギィの手をかいくぐって避ける。

Tôi nhanh chóng biến thành dạng slime và lách qua tay của Guy để né.

「何で避けるんだ?」

“Sao ngươi lại né?”

「いやいやいや、避けるだろ、普通」

“Không không không, bình thường thì phải né chứ.”

自由落下に任せて、空中からそのまま地上へ逃れる俺。すると、待ち構えていたようにディアブロの腕に収まってしまった。

Tôi để mặc cho trọng lực, rơi tự do từ trên không xuống đất để trốn thoát. Nhưng rồi, như thể đã chờ sẵn, tôi lại nằm gọn trong vòng tay của Diablo.

A black and white image of a person holding a bag

AI-generated content may be incorrect.

えっと?

Ừm?

シオンとかシュナ並みに、慣れているのが恐ろしい。

Sự thành thạo của hắn ngang ngửa Shion và Shuna, thật đáng sợ.

まあいいけど。

Thôi kệ đi.

「こっちに渡せ」

“Đưa đây.”

「クフフフフ、御冗談を」

“Kufufufu, ngài đang đùa đấy à.”

何故だか知らぬが、ギィとディアブロの間で言い争いが勃発した。

Không hiểu sao, một cuộc tranh cãi đã nổ ra giữa Guy và Diablo.

俺は巻き込まれないようにそっと逃げ出しつつ、速やかに状況を整えていく。

Tôi nhẹ nhàng lẩn ra để không bị cuốn vào, và nhanh chóng sắp xếp lại tình hình.

「流石ですわね、リムル様」

“Quả nhiên là ngài Rimuru.”

ふわりと香る、良い匂い。

Một mùi hương thơm ngát thoang thoảng.

全身を優しく包み込まれるような感覚がすると思ったら、テスタロッサに抱きかかえられていた。

Tôi cảm thấy như toàn thân được bao bọc một cách nhẹ nhàng, thì ra là đang được Testarossa ôm.

うむ。素晴らしい。

Ừm. Tuyệt vời.

実に珍しい体験なので、大変満足である。

Đây là một trải nghiệm hiếm có, nên tôi rất hài lòng.

おっと、そんな事を言っている場合ではなかった。

Ối, không phải lúc để nói những chuyện như vậy.

俺はガビルと違って、時と場合は選べる男なのだ。

Tôi không giống Gabiru, tôi là người biết chọn đúng thời điểm và hoàn cảnh.

という訳で、早速お仕事開始。

Vì vậy, tôi bắt đầu công việc ngay lập tức.

先ずは、テスタロッサやギィの『虚無』に代わって、俺の『竜霊覇気』を『虚無崩壊』に変換させた。この相殺効果でヴェルザードの攻撃を無効化させてしまえば、後は楽勝というものなのだ。

Trước hết, tôi thay thế “Hư vô” của Testarossa và Guy bằng cách chuyển đổi “Bá Khí Long Linh” của mình thành “Hư Vô Băng Hoại”. Nếu có thể vô hiệu hóa các đòn tấn công của Veruzard bằng hiệu ứng tương sát này, phần còn lại sẽ dễ dàng.

「素晴らしい御手並みですわね。感服致しましたわ」

“Thật là một kĩ năng tuyệt vời. Thần vô cùng khâm phục.”

と、テスタロッサが恍惚とした表情で述べた。

Testarossa nói với vẻ mặt ngây ngất.

ディアブロといがみ合っていたギィも、忌々しそうな顔で俺に近寄ってくる。

Guy, người đang cãi nhau với Diablo, cũng tiến lại gần tôi với vẻ mặt bực bội.

「えらくアッサリと、ヴェルザードを封じたじゃねーか」

“Ngươi phong ấn Veruzard dễ dàng quá nhỉ.”

そう言われたが、俺としてもビックリだ。

Bị nói vậy, nhưng chính tôi cũng ngạc nhiên.

直感的に出来るだろうなとは思ったのだが、実際にやってみると簡単に成功したのだから。

Tôi đã nghĩ rằng mình có thể làm được theo trực giác, nhưng khi thực hiện, nó lại thành công một cách dễ dàng.

シエルさんがサポートしてくれたというのも大きいが、俺の魔素(エネルギー)量がとんでもなく膨大になっているからだった。

Sự hỗ trợ của Ciel cũng là một yếu tố lớn, nhưng lí do chính là lượng ma tố (năng lượng) của tôi đã trở nên vô cùng khổng lồ.

これならもう、力任せでも大抵の問題を解決出来そうである。

Với điều này, tôi có thể giải quyết hầu hết các vấn đề chỉ bằng sức mạnh.

まあ、しないけどね。

Chà, tôi sẽ không làm vậy đâu.

今回だって、俺の出番はここまでだ。

Ngay cả lần này, vai trò của tôi cũng chỉ đến đây thôi.

「それで、ここからどうするつもりだったんだ?」

“Vậy, ngươi định làm gì tiếp theo?”

「何だよ、全部わかってるんじゃねーのか?」

“Gì vậy, không phải ngươi đã biết hết rồi sao?”

いやいや、来たばっかりで、わかるわけないじゃん。

Không không, tôi vừa mới đến, làm sao mà biết được chứ.

何の説明も受けていないまま、いきなり参戦してるのだ。暴走しているヴェルザードをどうにかしたいのだろうが、その手段までは思いつかなかった。

Tôi đã tham gia trận chiến mà không nhận được bất kì lời giải thích nào. Có lẽ họ muốn làm gì đó với Veruzard đang mất kiểm soát, nhưng tôi không nghĩ ra được cách nào.

「ヴェルザードがああなったのは、テメエんとこのカレラが原因だろうが!」

“Veruzard trở nên như vậy là do Carrera của nhà ngươi gây ra đấy!”

「そうなの?」

“Vậy sao?”

そうすっとぼけてみたが、無理だった。

Tôi cố tỏ ra ngây ngô, nhưng không được.

「そうですわね。ですが、あの場では適切な判断だったと思いますわよ」

“Đúng vậy. Nhưng thần nghĩ đó là một phán đoán thích hợp trong tình huống đó.”

「そうだろうとも!」

“Chắc chắn rồi!”

いつの間にかカレラも隣に浮かんでいて、褒めて欲しそうに俺を見ていた。

Carrera cũng đã lơ lửng bên cạnh tôi từ lúc nào, nhìn tôi như thể muốn được khen.

その要望に応えるべく、頭でも撫でてあげるべきだろうか?

Để đáp ứng yêu cầu đó, tôi có nên xoa đầu cô ấy không nhỉ?

しかし悲しいかな、今の俺はスライム状態なので撫でようとしても絵面が悪い。ここは簡単に「御苦労だったね」と労っておいた。

Nhưng buồn thay, bây giờ tôi đang ở dạng slime nên dù có cố xoa đầu cũng không đẹp mắt lắm. Tôi chỉ đơn giản nói “Vất vả cho cô rồi” để an ủi.

カレラも喜んでいるので、この判断で正解だったようだ。

Carrera cũng có vẻ vui mừng, nên có lẽ quyết định này là đúng đắn.

レインもいる。同じように褒めて欲しそうにしているが、彼女はそこまで活躍していない気がするし、そもそもの話、俺が褒めるのは違う気がするよね。

Rain cũng ở đó. Cô ấy cũng có vẻ muốn được khen, nhưng tôi cảm thấy cô ấy không có nhiều đóng góp lắm, và nói chung, tôi nghĩ việc tôi khen cô ấy có gì đó không đúng.

いや、もしかして……別件かな?

Không, hay là... một chuyện khác nhỉ?

「作業は順調なのかね?」

“Công việc có thuận lợi không?”

「順調でした」

“Đã thuận lợi ạ.”

過去形か。

Thì quá khứ à.

何があったのかなど、問うまでもない。

Không cần hỏi cũng biết đã xảy ra chuyện gì.

「ギィ様の命令に逆らえず、このような過酷な戦場に駆り出されてしまい──」

“Không thể chống lại mệnh lệnh của ngài Guy, thần đã bị điều đến một chiến trường khắc nghiệt như thế này...”

リムル様からの依頼を後回しにして、申し訳ありません──などと、レインがしおらしく謝罪してくる。

Rain cúi đầu xin lỗi, nói rằng cô ấy xin lỗi vì đã gác lại yêu cầu của ngài Rimuru.

「酷いよね、ギィって」

“Guy thật là quá đáng nhỉ.”

「まったくです!」

“Đúng vậy ạ!”

こそこそと話し合う、俺とレイン。

Tôi và Rain thì thầm với nhau.

しかし、速攻バレた。

Nhưng ngay lập tức bị phát hiện.

「リムルよう、オレんとこのレインを誑(たら)し込んでんじゃねーよ」

“Này Rimuru, đừng có mà dụ dỗ Rain của ta.”

「誑し込むなんて、人聞きの悪い……」

“Dụ dỗ gì chứ, nghe khó nghe quá...”

「ああん? 最近じゃ、オレよりテメエの命令に従ってんじゃねーか!」

“Hả? Gần đây, nó còn nghe lệnh của ngươi hơn cả ta nữa đấy!”

ごもっとも。

Rất đúng.

俺だって不思議に思ってる。

Ngay cả tôi cũng thấy lạ.

「そうですわね。レイン、貴女はギィの配下なのだから、リムル様に馴れ馴れしくし過ぎない方がいいわよ」

“Đúng vậy. Rain, cô là thuộc hạ của Guy, nên đừng quá thân thiết với ngài Rimuru.”

「お、御姉さま!?」

“Chị, chị à!?”

「それ、まだ続ける気なの?」

“Cô vẫn định tiếp tục trò đó à?”

何故かレインが、テスタロッサを『御姉さま』と呼んでいる。不思議と違和感はないが、テスタロッサはウンザリした様子。というか、とても嫌がっているようだ。

Vì lí do nào đó, Rain đang gọi Testarossa là “Chị”. Dù không thấy lạ, nhưng Testarossa có vẻ chán ngán. Hay đúng hơn là, cô ấy có vẻ rất ghét điều đó.

ここで、ディアブロが口を挟んだ。

Lúc này, Diablo xen vào.

「クフフフフ、その通りです。身の程を弁えるように」

“Kufufufu, đúng vậy. Hãy biết thân biết phận đi.”

レインに対して偉そうにしているが、これでも以前よりはマシ──どころか、かなり仲良くなっている。絵画の件で弱みを握られて以降、それなりに敬意を払っているみたいだしね。

Dù tỏ ra kẻ cả với Rain, nhưng như vậy vẫn tốt hơn trước đây... thậm chí là họ đã trở nên khá thân thiết. Kể từ khi bị nắm thóp vụ bức tranh, có vẻ như hắn cũng đã tỏ ra tôn trọng cô ấy ở một mức độ nào đó.

それにしても、ディアブロは全方位に向けて偉そうだから困ったものだ。今度はテスタロッサから俺を奪おうとして、険悪な雰囲気になっていた。

Dù sao đi nữa, Diablo lại tỏ ra kẻ cả với tất cả mọi người, thật là phiền phức. Lần này, hắn lại cố giành tôi từ tay Testarossa, khiến bầu không khí trở nên căng thẳng.

俺はモノじゃないので、好き勝手に扱うのは止めて頂きたい。

Tôi không phải là đồ vật, nên xin đừng đối xử với tôi một cách tùy tiện.

ともかく、改めて事情説明を受けた。

Dù sao đi nữa, tôi đã được giải thích lại tình hình.

聞けばカレラが、一日一発しか放てない〝神滅弾(ジャッジメント)〟で、ヴェルザードの肉体を奪っていた神祖トワイライトを撃ち抜いたのだとか。その思い切りのよさに、呆れつつも感心してしまった。

Nghe nói Carrera đã dùng “Thần Diệt Đạn (Judgement)”, thứ chỉ có thể bắn một lần mỗi ngày, để bắn hạ Thần Tổ Twilight đang chiếm giữ cơ thể của Veruzard. Sự quyết đoán của cô ấy khiến tôi vừa ngán ngẩm vừa thán phục.

俺なんて、可能な限り切り札を温存するタイプだしな。

Tôi là kiểu người sẽ giữ lại con át chủ bài của mình càng lâu càng tốt.

一日一発となると、なるべく使わずに済まそうとするだろう。

Nếu chỉ có một phát mỗi ngày, tôi sẽ cố gắng không sử dụng nó.

そんな大技を迷いなくぶっ放せるあたり、カレラの決断力は見事の一言である。

Việc có thể tung ra một đòn tấn công lớn như vậy mà không do dự, sự quyết đoán của Carrera thật đáng ngưỡng mộ.

もっとも、カレラも長命種だから、一日という時間の長さなんて一瞬のようなものなのかも。そこまで気にしていないというのも、十分にあり得る理屈だった。

Tuy nhiên, Carrera cũng là một loài sống lâu, nên có lẽ khoảng thời gian một ngày đối với cô ấy chỉ như một khoảnh khắc. Việc cô ấy không quá bận tâm đến điều đó cũng là một lí lẽ hoàn toàn có thể xảy ra.

「まあよ、トワイライトの野郎を消せたのはナイス判断だったがな」

“Chà, việc loại bỏ được tên Twilight đó là một quyết định sáng suốt.”

ヴェルザードの暴走はともかくとして、ギィもカレラを認めている様子。それなら文句を言わないで欲しいのだが、これを言ったら藪蛇になりそうな予感がするので黙っておいた。

Bỏ qua việc Veruzard mất kiểm soát, Guy cũng có vẻ công nhận Carrera. Nếu vậy thì tôi mong anh ta đừng phàn nàn nữa, nhưng tôi có cảm giác nói ra sẽ gây thêm rắc rối nên đã im lặng.

「取り敢えず、俺がヴェルザードさんを抑え込んでおくから、後は任せてもいいんだよね?」

“Tạm thời, tôi sẽ kiềm chế Veruzard-san, phần còn lại có thể giao cho anh chứ?”

「ああ。オレがヴェルザードの相手をする間は、完全に無防備になっちまうがな」

“À. Trong lúc ta đối phó với Veruzard, ta sẽ hoàn toàn không có khả năng phòng bị.”

「それなら、ちゃんと守るよ。多分」

“Vậy thì, tôi sẽ bảo vệ anh cẩn thận. Chắc thế.”

「ああん? 多分、だ?」

“Hả? Chắc thế à?”

「嘘です。ギィの事はしっかりと、ディアブロが責任を持って守ります」

“Tôi đùa thôi. Diablo sẽ có trách nhiệm bảo vệ Guy một cách cẩn thận.”

危ない危ない。お茶目な冗談のつもりで軽口を叩いたら、ギィの怒りを買いそうになってしまった。

Nguy hiểm quá. Tôi định nói đùa một chút cho vui, nhưng suýt nữa đã chọc giận Guy.

まだ不満そうなギィが、ディアブロと睨み合っている。とても仲が良くて微笑ましいねと、俺はその光景から目を背けたのだった。

Guy vẫn còn vẻ bất mãn, đang lườm nhau với Diablo. Thật là một cảnh tượng thân thiết và đáng yêu, tôi quay mặt đi khỏi cảnh đó.

結論としては、俺がヴェルザードを抑えている間に、ギィがヴェルザードを正気に戻す作戦だ。精神面に働きかけるつもりらしく、無防備となった本体の方はディアブロが守る形となる。

Kết luận là, trong khi tôi kiềm chế Veruzard, Guy sẽ thực hiện kế hoạch đưa Veruzard trở lại bình thường. Anh ta dự định tác động vào mặt tinh thần, và cơ thể thật không được bảo vệ sẽ do Diablo bảo vệ.

この戦場にはヴェルザード以外の敵が残っていないので、そこまで気にする事はないように思う。油断するのは違うが、警戒し過ぎて戦力を集中させておく必要もなさそうだ。

Trên chiến trường này không còn kẻ thù nào khác ngoài Veruzard, nên tôi nghĩ không cần phải quá lo lắng. Chủ quan là không đúng, nhưng cũng không cần phải quá cảnh giác và tập trung lực lượng.

「それではリムル様、わたくし達はどういたしましょう?」

“Vậy thì thưa ngài Rimuru, chúng thần nên làm gì ạ?”

そう問いかけてきたテスタロッサも、自分なりの答えを持っている様子である。

Testarossa hỏi vậy, nhưng có vẻ như cô ấy đã có câu trả lời của riêng mình.

「ヴェルドラ達を、対イヴァラージェ戦に向わせている。お前達も至急準備して、援軍に向かってくれ」

“Ta đã cử Verudora và những người khác đến trận chiến chống Ivalage. Các ngươi cũng hãy nhanh chóng chuẩn bị và đến chi viện.”

俺の命令は、テスタロッサの予想通りだったようだ。少し離れた避難地区では、ソーカ達がカリオンやフレイさんと打ち合わせをしていた。

Mệnh lệnh của tôi dường như đúng như Testarossa dự đoán. Ở khu vực sơ tán cách đó không xa, Souka và những người khác đang họp với Callion và Frey.

モスが伝令に走って、出陣するメンバーの選定に入っていた。

Moss đã chạy đi truyền tin và bắt đầu lựa chọn các thành viên xuất trận.

氷像から解放されたばかりで大変だとは思うが、世界の危機なので文句を言っている場合ではない。誰もがそれを理解しているようで、一糸乱れぬ動きで部隊が再編制されていた。

Tôi biết rằng họ vừa mới được giải thoát khỏi tượng băng nên rất vất vả, nhưng vì thế giới đang gặp nguy hiểm nên không phải lúc để phàn nàn. Mọi người dường như đều hiểu điều đó và đang tái tổ chức đội hình một cách nhịp nhàng.

なので、テスタロッサの真意は別にあるのだ。

Vì vậy, ý đồ thực sự của Testarossa nằm ở chỗ khác.

「手配済みです。それで、誰を残しますか?」

“Đã sắp xếp xong rồi ạ. Vậy, ngài sẽ để lại ai?”

この質問が出た途 Tarifi, カレラの目もキラリと光った。

Ngay khi câu hỏi này được đặt ra, mắt của Carrera cũng lóe sáng.

レインも期待に満ちた目で俺を見ている。

Rain cũng nhìn tôi với ánh mắt đầy mong đợi.

いや、君はギィの配下だから。俺には命令権などないので、軽くスルーして答えを伝えた。

Không, cô là thuộc hạ của Guy mà. Tôi không có quyền ra lệnh, nên tôi nhẹ nhàng lờ đi và trả lời.

「残るのは、ディアブロのみだ。テスタロッサ、大規模転移魔法で戦闘可能な者達を連れて行ってもらいたいんだが、可能か?」

“Chỉ có Diablo ở lại. Testarossa, ta muốn cô dùng ma pháp dịch chuyển quy mô lớn để đưa những người có thể chiến đấu đi, có được không?”

俺の命令を聞いて、少し残念そうな表情を浮かべるテスタロッサ。そして、カレラ。

Nghe mệnh lệnh của tôi, Testarossa và Carrera lộ ra vẻ mặt hơi thất vọng.

「御命令とあらば、速やかに」

“Nếu đó là mệnh lệnh, thần sẽ thực hiện ngay lập tức.”

テスタロッサは深々と一礼して、了承の意思を伝えてくれた。

Testarossa cúi đầu thật sâu và bày tỏ sự đồng ý.

それに続いて、カレラもやる気を見せる。

Tiếp theo đó, Carrera cũng tỏ ra hăng hái.

「任せてくれよ、我が君! 誰が相手だろうが、私がさっさと排除して見せるさ!」

“Cứ giao cho tôi, chủ nhân của tôi! Dù đối thủ là ai, tôi cũng sẽ nhanh chóng loại bỏ chúng cho ngài xem!”

うんうん、実に頼もしい限りだ。

Ừm ừm, thật là đáng tin cậy.

それなのに、残念なヤツがいた。

Thế nhưng, lại có một kẻ đáng thất vọng.

言うまでもなく、ディアブロだ。

Không cần phải nói, đó là Diablo.

満足そうに頷いて、テスタロッサやカレラに「フッ、リムル様は私だけを信頼しているのです。貴女達はまだまだという事ですね!」などとご高説を垂れたのだ。

Hắn gật đầu một cách hài lòng và nói với Testarossa và Carrera: “Hừ, ngài Rimuru chỉ tin tưởng một mình tôi thôi. Các cô vẫn còn non lắm!”

違うっての。

Không phải thế.

ディアブロが疲(ひ)労(ろう)困(こん)憊(ぱい)だと思ったから、戦線から遠ざけただけなんだよな……。

Tôi chỉ đưa Diablo ra khỏi chiến tuyến vì nghĩ rằng hắn đã kiệt sức...

ディアブロの煽りを受けて、テスタロッサが不快そうに眉を顰(ひそ)めた。

Bị Diablo khiêu khích, Testarossa nhíu mày một cách khó chịu.

カレラも喧嘩腰になったので、俺はやれやれと思いつつディアブロを叱ったのだった。

Carrera cũng trở nên gây hấn, nên tôi vừa thở dài ngao ngán vừa mắng Diablo.

テスタロッサはカレラを伴って、速やかに行動に移ってくれた。

Testarossa cùng với Carrera đã nhanh chóng hành động.

速やかにと言う前にちょっとしたトラブルがあった気もするが、忘れよう。

Tôi có cảm giác như đã có một chút rắc rối trước khi nói là nhanh chóng, nhưng thôi quên đi.

ディアブロを褒めてしまったのが原因だな。

Nguyên nhân là do tôi đã khen Diablo.

調子に乗せてしまった俺が悪いので、次からは気をつけよう。

Lỗi là do tôi đã khiến hắn tự mãn, lần sau tôi sẽ cẩn thận hơn.

だけどまあ、大変なのは俺だけではない。

Nhưng mà, không chỉ có mình tôi gặp khó khăn.

「えっと、私は残っても?」

“Ừm, tôi có thể ở lại không?”

「テメエも行け!!」

“Ngươi cũng đi đi!!”

レインがギィの怒気に触れて、慌てて逃げ出していた。

Rain đã chọc giận Guy và vội vàng bỏ chạy.

そんなところも御愛嬌なのだろうが、ギィも大変そうだなと思ったのだった。

Có lẽ đó cũng là một nét duyên dáng của cô ấy, nhưng tôi nghĩ Guy cũng đang gặp khó khăn.

目下、ヴェルザードは盲目的に暴れ狂っているが、被害は出ていない。

Hiện tại, Veruzard đang tàn phá một cách mù quáng, nhưng không có thiệt hại nào.

俺の『虚無崩壊』で戦場全体を包み込む事で、全ての攻撃を無効化させているからだ。

Bởi vì tôi đã bao trùm toàn bộ chiến trường bằng “Hư Vô Băng Hoại” của mình, vô hiệu hóa tất cả các đòn tấn công.

なので安心して、戦力の再編制を任せられるというものだった。

Vì vậy, tôi có thể yên tâm giao phó việc tái tổ chức lực lượng.

だが、このままという訳にはいかない。

Nhưng không thể cứ để như vậy mãi được.

今はいいが、ヴェルザードの動きがどんどん活発化しているからだ。

Bây giờ thì ổn, nhưng hành động của Veruzard ngày càng trở nên dữ dội hơn.

「それで、ギィ。ヴェルザード様を正気に戻すのに、どのくらいの時間を必要とするのですか?」

“Vậy, Guy. Ngài cần bao nhiêu thời gian để đưa ngài Veruzard trở lại bình thường?”

ディアブロからの質問を受けて、ギィはほんの少しだけ考え込んだ。

Nhận được câu hỏi từ Diablo, Guy suy nghĩ một chút.

「ふむん。潜ってみなきゃ確かな事は言えねーが、それなりにかかるだろうぜ」

“Hừm. Nếu không thử xâm nhập thì không thể nói chắc được, nhưng chắc cũng sẽ mất một khoảng thời gian kha khá.”

それを聞いて、俺は不安になる。

Nghe vậy, tôi cảm thấy lo lắng.

「数日とか、一週間単位とかじゃないよな?」

“Không phải là vài ngày hay cả tuần đâu nhỉ?”

正気に戻せるという話は疑っていないが、それに要する時間は問題だった。

Tôi không nghi ngờ việc có thể đưa cô ấy trở lại bình thường, nhưng thời gian cần thiết lại là một vấn đề.

ダマルガニアで世界の命運を賭けた戦いが繰り広げられている以上、ここで時間を浪費する訳にはいかないのだ。

Khi mà trận chiến quyết định vận mệnh thế giới đang diễn ra ở Damargania, tôi không thể lãng phí thời gian ở đây được.

まして、気になる点は他にもあった。

Hơn nữa, còn có những điểm khác đáng lo ngại.

ヴェルザードが正気に戻ったとして、果たして敵か味方か不明なのである。

Ngay cả khi Veruzard trở lại bình thường, vẫn không rõ cô ấy sẽ là địch hay bạn.

今の俺なら倒せる自信があるが、それは最後の手段だ。先ずは話し合い、ヴェルザードの望みを聞いて、落としどころを探りたいものである。

Bây giờ tôi tự tin có thể đánh bại cô ấy, nhưng đó là phương án cuối cùng. Trước hết, tôi muốn nói chuyện, lắng nghe mong muốn của Veruzard và tìm ra một giải pháp thỏa đáng.

もっとも、そんな余裕がなさそうなのが、最大の問題だった。

Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất là dường như không có thời gian cho việc đó.

「自主的に協力してくれたらいいんだけどな。そもそも何が原因で、ヴェルザードさんはフェルドウェイに味方してたんだ?」

“Sẽ tốt biết mấy nếu cô ấy tự nguyện hợp tác. Ngay từ đầu, nguyên nhân gì đã khiến Veruzard-san đứng về phía Feldway vậy?”

「痴話喧嘩ですよ。くだらない」

“Chuyện cãi vã tình cảm thôi. Vớ vẩn.”

「マジで?」

“Thật á?”

「ちげーよ」

“Không phải.”

ギィが怒りそうなので、軽口はこのくらいにしておいた。

Guy có vẻ sắp nổi giận, nên tôi dừng việc nói đùa ở đây.

ギィが言う。

Guy nói.

「まあよ、時間がかかるっつっても、一日も要らねーと思うぜ。今のオレじゃなく、とっておきの演算特化でやるからな」

“Chà, dù nói là mất thời gian, nhưng ta nghĩ không cần đến một ngày đâu. Vì ta sẽ không dùng trạng thái hiện tại, mà là trạng thái chuyên về tính toán đặc biệt.”

「演算特化とな?」

“Chuyên về tính toán à?”

「ああ。近接的な戦闘能力は大幅に減少するが、その分、演算能力が増大するのさ」

“Ừ. Khả năng chiến đấu cận chiến sẽ giảm đáng kể, nhưng bù lại, khả năng tính toán sẽ tăng lên.”

なるほど、それは凄い。

Ra vậy, thật tuyệt.

ここでのポイントは、〝総合的に見れば弱くなる訳ではない〟ってところだろうな。

Điểm mấu chốt ở đây có lẽ là ‘nếu nhìn tổng thể thì không có nghĩa là yếu đi’.

元来、悪魔族(デーモン)というのは魔法に特化した種族なので、近接戦闘を重視していないのだ。ギィやディアブロが異常なのであって、魔法しか使えなくても普通に強いのである。

Vốn dĩ, tộc Ác ma là một chủng tộc chuyên về ma pháp, nên họ không coi trọng cận chiến. Guy và Diablo là những trường hợp đặc biệt, và ngay cả khi chỉ có thể sử dụng ma pháp, họ vẫn rất mạnh.

なので、その点は心配していないのだが……。

Vì vậy, tôi không lo lắng về điểm đó, nhưng...

「ついでに言っとくが、オレがヴェルザードの精神に干渉している間は、その他一切の行動が出来なくなるからよ。オレの援護を期待するんじゃねーぜ?」

“Nhân tiện nói luôn, trong lúc ta can thiệp vào tinh thần của Veruzard, ta sẽ không thể thực hiện bất kì hành động nào khác. Đừng có mà mong đợi ta hỗ trợ đấy?”

あ、やっぱりか。

A, quả nhiên là vậy.

ヴェルザードが『虚無崩壊』で抑えきれるかどうか、そうした心配もあるのだ。放出系の技だけなら問題ないのだが、こちらに気付いて直接攻撃に出られたら面倒であった。

Tôi cũng lo lắng liệu “Hư Vô Băng Hoại” có thể kiềm chế được Veruzard không. Nếu chỉ là các kĩ năng phóng ra thì không vấn đề gì, nhưng nếu cô ấy nhận ra chúng tôi và tấn công trực tiếp thì sẽ rất phiền phức.

俺はともかく、無防備になったギィや極限状態であろうディアブロを狙われたら、無事である保証は何もない。そうなる前に、俺が何とかするしかなさそうだった。

Tôi thì không sao, nhưng nếu cô ấy nhắm vào Guy đang không phòng bị hay Diablo đang ở trạng thái giới hạn, thì không có gì đảm bảo họ sẽ an toàn. Trước khi điều đó xảy ra, có lẽ tôi sẽ phải tự mình giải quyết.

俺がヴェルザードを捕縛する。

Tôi sẽ bắt giữ Veruzard.

その間、ディアブロが意識の消えたギィを守る。

Trong lúc đó, Diablo sẽ bảo vệ Guy đã mất ý thức.

よし、この作戦でいこう!

Được, cứ theo kế hoạch này đi!

「問題ないとも」

“Không vấn đề gì.”

「ああ。それじゃ、始めるぜ」

“À. Vậy thì, bắt đầu thôi.”

そう言うなり、ギィの姿が変化した。

Nói xong, hình dạng của Guy thay đổi.

目の覚めるような、赤毛の美女に。

Thành một mỹ nữ tóc đỏ tuyệt đẹp.

「わお。マジで女性にもなれたんだな」

“Wow. Anh ta thực sự có thể biến thành phụ nữ được à.”

「当たり前だろ」

“Tất nhiên rồi.”

「リムル様、お望みであれば私も──」

“Thưa ngài Rimuru, nếu ngài muốn, tôi cũng...”

「よし、作戦開始だ!!」

“Được rồi, bắt đầu kế hoạch!!”

俺が余計な事を口走ってしまったせいで、ディアブロがまた可笑(おか)しな事を言い始めそうだった。

Vì tôi đã lỡ lời, Diablo lại sắp nói những điều kì quặc.

そうはさせない。

Tôi sẽ không để điều đó xảy ra.

ディアブロが何かを言い終わる前に、俺は作戦開始の合図を放ったのだった。

Trước khi Diablo kịp nói hết câu, tôi đã ra hiệu bắt đầu kế hoạch.

ギィはリムルを信じる事に決めた。

Guy đã quyết định tin tưởng Rimuru.

それ故に、実に久方ぶりに状態変化の儀式を開始、一瞬で完了させる。

Vì vậy, anh ta đã bắt đầu nghi thức biến đổi trạng thái sau một thời gian rất dài và hoàn thành nó trong chốc lát.

赤毛の美女となったギィだが、肉体性能は貧弱なものとなる。防御面でも弱体化するのだが、総合力が低下するのかというと、そうではなかった。

Guy đã biến thành một mỹ nữ tóc đỏ, nhưng hiệu suất thể chất của anh ta trở nên yếu kém. Khả năng phòng thủ cũng bị suy yếu, nhưng nếu hỏi liệu tổng thể sức mạnh có giảm đi không, thì không phải vậy.

演算特化とはつまり、魔法に特化した形態という意味なのだ。

Chuyên về tính toán có nghĩa là một hình thái chuyên về ma pháp.

防御は『多重結界』によって補えるので、様々な局面によっては強化されたようなものであった。

Phòng thủ có thể được bổ sung bằng “Đa Trùng Kết Giới”, nên tùy vào tình huống, nó lại giống như được tăng cường sức mạnh.

ただしそれも、時と場合による。

Tuy nhiên, điều đó cũng tùy thuộc vào thời gian và hoàn cảnh.

まさに今回のような場合においては、非常に判断に迷うのだ。

Trong những trường hợp như lần này, việc đưa ra quyết định là vô cùng khó khăn.

演算に特化させた意識を全力でヴェルザードに向ける以上、本体は完全に無防備となる。リムルを──そしてディアブロを信じていなければ、とてもではないが取れない作戦だった。

Khi tập trung toàn bộ ý thức chuyên về tính toán vào Veruzard, cơ thể thật sẽ hoàn toàn không được bảo vệ. Nếu không tin tưởng Rimuru... và Diablo, thì đây là một kế hoạch không thể thực hiện được.

それなら、テスタロッサやカレラ達を残して守らせればいいのでは──という話になるが、それはギィの誇り(プライド)が許さない。

Nếu vậy, có thể để lại Testarossa, Carrera và những người khác để bảo vệ... nhưng lòng tự trọng của Guy không cho phép điều đó.

リムルが大丈夫だと判断したのに、ギィが不安に思うなど有り得ない話なのだ。

Khi Rimuru đã phán đoán là ổn, việc Guy cảm thấy bất an là điều không thể xảy ra.

(まあよ。最悪、死んじまっても、それはそん時の話だぜ)

(Chà. Tệ nhất, dù có chết, thì đó cũng là chuyện của lúc đó.)

敗北し、自身が消滅する事になったとしても、最悪数百年以上かかる事もあるが復活可能なのだ。

Ngay cả khi thất bại và bản thân bị tiêu diệt, anh ta vẫn có thể hồi sinh, dù tệ nhất có thể mất vài trăm năm.

最強たるギィにとって、敗北は面白くはない。それでも体験した事はあるので、絶対に忌避すべきものでもないのだった。

Đối với Guy, người mạnh nhất, thất bại không phải là điều thú vị. Nhưng anh ta đã từng trải qua nó, nên đó không phải là điều cần phải tránh né bằng mọi giá.

退屈を紛わす事が出来ると考えれば、そうなったとしても悔いはなかった。

Nếu nghĩ rằng có thể giải khuây, thì dù có như vậy cũng không hối tiếc.

それに──

Hơn nữa...

リムルだけでなく、ディアブロも頼もしくなっていた。

Không chỉ Rimuru, mà Diablo cũng đã trở nên đáng tin cậy.

何があったのかは知らないが、少し前に会った時とは見違えるほどだ。

Anh không biết chuyện gì đã xảy ra, nhưng so với lần gặp trước, hắn đã thay đổi đến mức không nhận ra.

元々、ギィから見てもディアブロは異常だった。ギィに匹敵するほどの戦闘センスを有しているのに、〝力〟を求めない変人悪魔だったのだ。

Vốn dĩ, ngay cả trong mắt Guy, Diablo cũng là một kẻ bất thường. Hắn sở hữu một giác quan chiến đấu có thể sánh ngang với Guy, nhưng lại là một ác ma kì dị không tìm kiếm “sức mạnh”.

ただし、真の意味での〝強さ〟を追求しており、ギィとは違った意味で最強だった。同条件の相手には負ける事はないというのが、黒の王(ディアブロ)の真骨頂だったのである。

Tuy nhiên, hắn theo đuổi “sức mạnh” theo đúng nghĩa của nó, và mạnh nhất theo một cách khác với Guy. Điểm mạnh nhất của Hắc Vương (Diablo) là không bao giờ thua trước những đối thủ có cùng điều kiện.

そんなディアブロの存在値が、ギィに並ぼうとしていた。

Giá trị tồn tại của một Diablo như vậy đang sắp sửa ngang bằng với Guy.

(しかも、怪しげな『虚無』の残滓まで漂わせやがって……)

(Hơn nữa, hắn còn tỏa ra cả tàn dư của “Hư vô” đáng ngờ...)

ギィは相手の力量を簡単に見抜けるのだが、演算特化した今は、ほぼ完璧にディアブロの実力を把握出来ていた。

Guy có thể dễ dàng nhìn thấu thực lực của đối thủ, nhưng bây giờ khi đã chuyên về tính toán, anh ta có thể nắm bắt gần như hoàn hảo thực lực của Diablo.

ミリムの暴走を止めたのがリムルだとしたら、フェルドウェイの相手をしたのはディアブロだろう。つまり、同条件という縛りを失くしても、ギィと同格の存在に至っているのは間違いなかった。

Nếu người đã ngăn chặn sự mất kiểm soát của Millim là Rimuru, thì người đối phó với Feldway chắc chắn là Diablo. Điều đó có nghĩa là, ngay cả khi không còn ràng buộc về điều kiện, việc hắn đã đạt đến đẳng cấp ngang với Guy là không thể nghi ngờ.

(やるじゃねーか。ま、全身ガタガタみてーだが、そんじょそこらのヤツには負けねーだろうさ)

(Cũng được đấy chứ. Chà, dù cả người có vẻ rệu rã, nhưng chắc sẽ không thua những kẻ tầm thường đâu.)

ディアブロだけを残したリムルの判断は、ギィとしても納得のいくものだったのだ。

Quyết định của Rimuru chỉ để lại Diablo là điều mà Guy cũng có thể chấp nhận được.

それにしても、とギィは思う。

Dù vậy, Guy nghĩ.

ディアブロはいいとして、問題はリムルだ。

Diablo thì không sao, vấn đề là Rimuru.

今のギィから見ても、その存在そのものを見通せなかった。

Ngay cả từ góc nhìn của Guy hiện tại, anh cũng không thể nhìn thấu được bản chất tồn tại của cậu.

(何なんだ、コイツ?)

(Tên này là cái quái gì vậy?)

というのが、偽らざる本音だ。

Đó là suy nghĩ thật lòng của anh.

リムルに問うても「ただのスライムです」とか、ふざけた回答をされるだけだろう。

Dù có hỏi Rimuru, chắc cũng chỉ nhận được câu trả lời đùa cợt như “chỉ là một con slime thôi”.

だから聞かなかったが、事が終われば問い詰める気満々のギィなのである。

Vì vậy, anh đã không hỏi, nhưng Guy dự định sẽ tra hỏi sau khi mọi chuyện kết thúc.

今もリムルは、スライム形態から大きく膨らみ、怪しげな形になって、ヴェルザードに巻き付いている。

Ngay cả bây giờ, Rimuru cũng đang từ dạng slime phồng lên một cách to lớn, biến thành một hình dạng kì lạ và quấn lấy Veruzard.

それはまるで、赤子を優しく包み込むように──

Nó giống như đang nhẹ nhàng bao bọc một đứa trẻ sơ sinh...

テスタロッサですら苦戦した『虚無』を、自由自在に操るのも理解不能だが、暴走状態のヴェルザードを赤子扱いしているのは、もはや笑うしかない状況だった。

Việc cậu ta có thể tự do điều khiển “Hư vô” mà ngay cả Testarossa cũng phải vật lộn đã là điều không thể hiểu nổi, nhưng việc coi Veruzard trong trạng thái mất kiểm soát như một đứa trẻ thì chỉ có thể cười trừ.

ギィでさえ不可能な事を、いとも簡単に成し遂げているのだ。リムルという存在の異常性が、これでもかとばかりに発揮されている事案であった。

Cậu ta đã dễ dàng thực hiện được những điều mà ngay cả Guy cũng không thể làm được. Sự bất thường của tồn tại mang tên Rimuru đã được thể hiện một cách rõ ràng.

だが──それでもギィは、リムルを信じたのだ。

Nhưng... dù vậy, Guy vẫn tin tưởng Rimuru.

もう気にしても仕方ないので、ギィはヴェルザードに意識を集中させる事にしたのだった。

Vì đã không còn cách nào khác, Guy quyết định tập trung ý thức vào Veruzard.

………

...

……

...

...

物質体(マテリアル・ボディー)から抜け出して悪魔族(デーモン)本来の精神体(スピリチュアル・ボディー)となったギィは、再び男性の姿に戻っていた。

Thoát ra khỏi Thể vật chất (Material body) và trở thành Thể tinh thần (Spiritual body) vốn có của tộc Ác ma, Guy đã trở lại hình dạng nam giới.

本体と違って、精神の在り様は自由自在なのだ。

Khác với cơ thể thật, trạng thái tinh thần có thể thay đổi tùy ý.

ギィは手慣れたもので、幾重にもわたるヴェルザードの精神防壁を突破して、〝竜種〟の本質である〝魂〟の深淵へと向けて潜行(ダイブ)する。

Guy đã quen với việc này, anh ta xuyên qua nhiều lớp rào cản tinh thần của Veruzard và lặn sâu vào vực thẳm của “linh hồn”, bản chất của “Long chủng”.

ヴェルザードの心核(ココロ)に触れてからが本番だ。

Sau khi chạm vào Tâm hạch của Veruzard mới là lúc bắt đầu.

ギィは、精神体(スピリチュアル・ボディー)すらも脱ぎ捨てて、完全無防備な星幽体(アストラル・ボディー)となった。

Guy thậm chí còn cởi bỏ cả Thể tinh thần (Spiritual body) và trở thành Thể tinh u (Astral body) hoàn toàn không được bảo vệ.

気を抜くとヴェルザードの精神に自我を飲み込まれ、ギィが行っている『攻性心核侵食(スピリチュアルダイブ)』が破られてしまいそうだ。

Nếu lơ là, bản ngã của anh ta có thể bị tinh thần của Veruzard nuốt chửng, và “Tấn Công Ăn Mòn Tâm Hạch (Spiritual Dive)” mà Guy đang thực hiện có thể bị phá vỡ.

そうなると、ギィの意識そのものが消滅してしまうのだが、それでも一切の不安はなかった。

Nếu vậy, ý thức của Guy sẽ bị tiêu diệt, nhưng anh ta không hề cảm thấy lo lắng.

無理をする必要はない。

Không cần phải cố gắng quá sức.

丁寧に、慎重に、ヴェルザードの荒れ狂う心を宥めるように、ゆっくりと潜ればいいのだ。

Chỉ cần lặn xuống một cách cẩn thận, từ tốn, như thể đang dỗ dành trái tim đang cuồng loạn của Veruzard.

強引に力任せに突き進んだならば、ヴェルザードの心核(ココロ)を破壊してしまう事になる。そうなれば、今のヴェルザードは暴走の末に全てのエネルギーを解き放ち、消滅するだろう。

Nếu cứ thế lao vào một cách mạnh mẽ, anh ta sẽ phá hủy Tâm hạch của Veruzard. Nếu vậy, Veruzard hiện tại sẽ giải phóng toàn bộ năng lượng sau một cơn cuồng loạn và bị tiêu diệt.

そして──新たなる〝竜種〟がこの世のどこかで誕生するのだ。

Và rồi... một “Long chủng” mới sẽ được sinh ra ở một nơi nào đó trên thế giới này.

そうなるのが、ギィにとっての最悪なのだ。

Điều đó là tồi tệ nhất đối với Guy.

自身が死んでも、自我を残したまま完全復活出来るだろう。

Ngay cả khi bản thân chết đi, anh ta vẫn có thể hồi sinh hoàn toàn với bản ngã được giữ nguyên.

しかし、ヴェルザードはそうではないのである。

Tuy nhiên, Veruzard thì không như vậy.

霊子一粒の狂いもない完全同一の〝魂〟であろうとも、見た目や能力が完全に一致しようとも、その性格は別物となる。それは果たして、同一存在と言えるのであろうか?

Ngay cả khi đó là một “linh hồn” hoàn toàn giống hệt, không sai một hạt linh tử nào, dù ngoại hình và năng lực có hoàn toàn trùng khớp, tính cách của nó cũng sẽ khác. Liệu đó có thể được gọi là cùng một tồn tại không?

今まで疑った事などなかったが、ギィはふと、それが疑問に思えた。

Trước đây anh chưa bao giờ nghi ngờ, nhưng Guy chợt cảm thấy thắc mắc về điều đó.

気が急くものの焦る事なく、ギィは防壁を突破する。

Dù vội vã, Guy vẫn không nóng nảy và xuyên qua lớp rào cản.

そして見つけた。

Và anh đã tìm thấy.

膝を抱えて座り込む、幼き精神のヴェルザードを。

Veruzard với tâm trí non nớt, đang ngồi ôm gối.

「よう、探したぜ?」

“Yo, ta đã tìm ngươi đấy.”

ギィは自然に、そして慎重に話しかけた。

Guy nói chuyện một cách tự nhiên và cẩn thận.

ここが正念場なのだ。この会話を間違ったら、その時点でヴェルザードの動向が決する。

Đây là thời điểm quyết định. Nếu cuộc trò chuyện này sai lầm, hành động của Veruzard sẽ được quyết định ngay lúc đó.

ギィにとっては、生まれて初めて他者に気を遣っている心境だった。

Đối với Guy, đây là lần đầu tiên trong đời anh ta quan tâm đến người khác.

最初、ヴェルザードは反応しなかった。

Lúc đầu, Veruzard không phản ứng.

けれど、少しの間が空いてから、虚ろな目をギィに向けたのだ。

Nhưng sau một lúc, cô ấy hướng đôi mắt vô hồn về phía Guy.

そしてヴェルザードは、重々しく口を開く。

Và Veruzard nặng nề mở lời.

「何よ。何しに来たのよ? 私を笑いに来たの?」

“Gì vậy. Ngươi đến đây làm gì? Đến để cười nhạo ta à?”

精神の在り様に影響されたのか、ヴェルザードは少女の姿になっている。

Bị ảnh hưởng bởi trạng thái tinh thần, Veruzard đang ở trong hình dạng một cô bé.

ヴェルザードの問いに、ギィは苦笑した。

Guy cười khổ trước câu hỏi của Veruzard.

反応があったのが喜ばしい。

Anh vui mừng vì đã có phản ứng.

と、同時に。

Và đồng thời.

あのヴェルザードが見せる弱々しい姿に、思わず反応してしまったのだ。

Anh đã vô thức phản ứng trước dáng vẻ yếu đuối mà Veruzard đang thể hiện.

「いいや、迎えに来たんだよ。さっさと帰ろうぜ、ヴェルザード」

“Không, ta đến để đón ngươi. Mau về thôi, Veruzard.”

ギィは肩を竦めて、そう答えた。

Guy nhún vai và trả lời.

その返事は、ヴェルザードを苛立たせる。

Câu trả lời đó khiến Veruzard bực bội.

いつもそうなのだ。

Lúc nào cũng vậy.

ギィは常に、ヴェルザードに対して上から目線で、一方的に宣言するだけ。意見を聞いたりはせず、ただ自分の意思を伝えるのみだ。

Guy luôn nhìn Veruzard từ trên cao, và chỉ đơn phương tuyên bố. Anh ta không bao giờ hỏi ý kiến, chỉ truyền đạt ý muốn của mình.

ヴェルザードを気遣う事もなく、そうするのが当然とばかりに言い放つのである。

Anh ta nói ra mà không hề quan tâm đến Veruzard, như thể đó là điều hiển nhiên.

ヴェルザードは、そうしたギィの態度が嫌いだった。

Veruzard ghét thái độ đó của Guy.

「何よ! ギィはいつも、私の意見なんて聞かないくせに。いつもいつも私ばかり我慢させて!」

“Gì chứ! Guy lúc nào cũng vậy, không bao giờ nghe ý kiến của ta. Lúc nào cũng bắt ta phải chịu đựng!”

我慢出来ずに、ヴェルザードが叫んだ。

Không thể chịu đựng được nữa, Veruzard hét lên.

そうして一度口火を切ると、次から次へと文句が飛び出てくる。

Và một khi đã bắt đầu, những lời phàn nàn cứ thế tuôn ra.

「私には、兄の残した世界を導く役目があった。だからずっと貴方を監視して、貴方が暴走しないように見張っていたわ。本当はそんなの嫌だったのに……」

“Ta có nhiệm vụ dẫn dắt thế giới mà anh trai đã để lại. Vì vậy, ta đã luôn theo dõi ngươi, để đảm bảo ngươi không mất kiểm soát. Mặc dù ta thực sự không muốn làm vậy...”

そうなのだ。

Đúng vậy.

ヴェルザードは常に、一歩引いた立場で自分自身をも客観的に眺めていた。

Veruzard luôn lùi lại một bước và quan sát chính mình một cách khách quan.

自制に自制を重ねて、ずっと我慢し続けていたのだ。

Cô đã tự kiềm chế hết lần này đến lần khác, và luôn phải chịu đựng.

妹のヴェルグリンドは、自由気ままに愛した男を追いかけている。

Em gái của cô, Verugrynd, đang tự do theo đuổi người đàn ông mà cô yêu.

弟のヴェルドラは、好き放題に暴れていた。

Em trai của cô, Verudora, thì quậy phá tùy thích.

ヴェルザードだけが、ずっと我慢していたのだ。

Chỉ có Veruzard là luôn phải chịu đựng.

「それもこれもギィ──貴方が、私の兄に認められたから!!」

“Tất cả là vì Guy... vì ngươi đã được anh trai ta công nhận!!”

ギィは、ヴェルダナーヴァに認められ、世界を託された存在だった。

Guy là một tồn tại được Verudanava công nhận và giao phó thế giới.

つまりは、ヴェルザード以上の存在だということになる。

Điều đó có nghĩa là anh ta là một tồn tại vượt trên cả Veruzard.

兄を除いて唯一、この世界を滅ぼし得る存在だったギィ。

Guy là tồn tại duy nhất, ngoài anh trai cô, có thể hủy diệt thế giới này.

しかし、ギィにはそんなつもりなど微塵もなかった。

Tuy nhiên, Guy không hề có ý định đó.

傲慢で、我儘で、優しいギィ。

Guy kiêu ngạo, ích kỉ, và tốt bụng.

それなのに、ヴェルザードにはとても残酷だった。

Thế nhưng, đối với Veruzard, anh ta lại rất tàn nhẫn.

ヴェルザードは、ずっとギィを監視していた。

Veruzard đã luôn theo dõi Guy.

いつか超えようと願っていた。

Cô đã mong ước một ngày nào đó sẽ vượt qua anh.

でも、いつしかその願いは変質していて、より強い渇望となっていた。

Nhưng rồi, mong ước đó đã thay đổi, trở thành một khao khát mạnh mẽ hơn.

それなのにギィは、そんなヴェルザードの気持ちなどお構いなしなのだ。

Thế nhưng Guy lại không hề quan tâm đến cảm xúc của Veruzard.

ずっとそうだった。

Luôn là như vậy.

ルドラとのゲームに熱中して、ヴェルザードには目もむけない。

Anh ta say mê trò chơi với Rudra và không thèm để mắt đến Veruzard.

そのゲームが終わったと思ったら、今度は謎のスライムに肩入れする始末。いつまで経っても、ヴェルザードを気にかけてくれはしないのだ。

Khi trò chơi đó kết thúc, anh ta lại bắt đầu ủng hộ một con slime bí ẩn. Dù bao lâu trôi qua, anh ta cũng không bao giờ quan tâm đến Veruzard.

その事実は悔しいけれど、ヴェルザードはそれでもよかった。無限の寿命がある彼女としては、いつか振り向いてもらえればそれでいいから。

Sự thật đó thật đáng tiếc, nhưng Veruzard vẫn chấp nhận. Với tuổi thọ vô hạn của mình, cô chỉ cần một ngày nào đó anh ta quay lại nhìn mình là đủ.

しかし、状況がそれを許さなかった。

Tuy nhiên, tình hình đã không cho phép điều đó.

「私はずっと待っていたわ。貴方の傍を離れず……私ばかりが我慢して……それなのに、貴方は私を置いて行こうとしていた!!」

“Ta đã chờ đợi rất lâu. Không rời xa ngươi... chỉ có ta là phải chịu đựng... thế mà, ngươi lại định bỏ ta đi!!”

「いやいや、そんな事はねーぜ? お前はオレの女(モノ)だ。オレはお前を大事に思ってだな──」

“Không không, không có chuyện đó đâu? Ngươi là người phụ nữ của ta. Ta rất quý trọng ngươi...”

ギィのその言葉は、ヴェルザードの凍った心に火を付けた。

Những lời đó của Guy đã đốt cháy trái tim băng giá của Veruzard.

ヴェルザードは怒りのままに、今までの不満をぶちまける。

Veruzard trút bỏ mọi bất mãn từ trước đến nay trong cơn giận dữ.

「いいえ、違うわ!! 私は貴方の所有物になりたくないの。対等でいたかった。貴方より強くなっても意味がないけど、守られるだけよりよっぽどマシなのよ!!」

“Không, không phải!! Ta không muốn trở thành vật sở hữu của ngươi. Ta muốn được bình đẳng. Dù có mạnh hơn ngươi cũng vô nghĩa, nhưng còn tốt hơn nhiều so với việc chỉ được bảo vệ!!”

ああそうか──と、ヴェルザードはようやく自分の気持ちを理解した。

À, ra vậy... Veruzard cuối cùng cũng hiểu được cảm xúc của mình.

ギィに勝ちたかったのではなく、役に立ちたかったのだ、と。

Không phải cô muốn thắng Guy, mà là muốn có ích cho anh.

だからもう、ヴェルザードの感情は止まらない。

Vì vậy, cảm xúc của Veruzard không thể kìm nén được nữa.

思いのままに叫ぶのだ。

Cô hét lên theo cảm xúc của mình.

「何で今更、あんな怪しいスライムに肩入れしないといけないのよ!? 大人しく私と一緒に、今までと同じように北の地で暮らしていれば良かったじゃないっ!!」

“Tại sao bây giờ lại phải ủng hộ một con slime đáng ngờ như thế!? Cứ ngoan ngoãn sống cùng ta ở phương Bắc như trước đây thì có phải tốt hơn không!!”

ヴェルザードは怒りを剥き出しにして、激しい意志をギィへと叩きつける。

Veruzard bộc lộ cơn giận dữ và dồn ý chí mạnh mẽ vào Guy.

それは空想の刃となりギィの身体を切り刻んでいくが、ギィはその攻撃を避けようとはしなかった。

Nó biến thành những lưỡi dao tưởng tượng chém vào cơ thể Guy, nhưng Guy không hề né tránh.

ただただヴェルザードの怒りと不満を受け止めようとするかの如く、無抵抗で攻撃に晒されるのみだ。

Anh ta chỉ đứng đó chịu đựng các đòn tấn công mà không chống cự, như thể muốn chấp nhận mọi cơn giận và sự bất mãn của Veruzard.

ヴェルザードは幼子のように、ギィへと文句を吐き出した。

Veruzard phàn nàn với Guy như một đứa trẻ.

「いや、だからよ──」

“Không, vì vậy...”

「それに……脆弱な人間如きを認める癖に、私の事を認めようともしないなんて……私は一体何なのよ!? ずっと貴方に認められたくて、ずっと頑張ってきたのに……私の立場がないじゃない!」

“Hơn nữa... ngươi công nhận những con người yếu đuối, nhưng lại không chịu công nhận ta... ta là cái gì chứ!? Ta đã luôn muốn được ngươi công nhận, đã luôn cố gắng... nhưng lại không có chỗ đứng nào cả!”

攻撃は徐々に弱々しくなり、やがてヴェルザードは、ギィの胸を力なく叩き始める。

Các đòn tấn công dần yếu đi, và cuối cùng Veruzard bắt đầu đấm nhẹ vào ngực Guy.

それは、隠しようもないヴェルザードの本音だった。

Đó là suy nghĩ thật lòng không thể che giấu của Veruzard.

ヴェルザードはギィに勝ちたかったのではなく、ただ並び立ちたかっただけなのだ。

Veruzard không muốn thắng Guy, cô chỉ muốn đứng ngang hàng với anh.

「馬鹿だな? オレはお前の事を認めてるぜ? オレの相棒はお前一人だよ」

“Ngốc thật? Ta công nhận ngươi mà? Người đồng hành của ta chỉ có một mình ngươi thôi.”

「馬鹿ですって!? いつも好き勝手な事ばかりする貴方に言われたくないわ!」

“Ngươi nói ta ngốc á!? Ta không muốn nghe điều đó từ ngươi, kẻ luôn làm những điều mình thích!”

「仕方ねーだろ。嫌ならそう言えば良かったじゃねーか? つまんねーことを気にし過ぎなんだよ」

“Biết làm sao được. Nếu không thích thì cứ nói ra là được rồi? Ngươi lo lắng những chuyện vớ vẩn quá đấy.”

「気にするわよ!! だって貴方、このままだと兄に殺されるもの──」

“Ta có lo lắng chứ!! Bởi vì ngươi, cứ thế này sẽ bị anh trai ta giết mất...”

いつしかヴェルザードは、ギィを叩くのを止めていた。

Từ lúc nào, Veruzard đã ngừng đấm Guy.

そして、ギィの胸に顔を埋(うず)める。

Và rồi, cô vùi mặt vào ngực Guy.

「どういうこったよ?」

“Chuyện là sao?”

ヴェルダナーヴァは未だに復活していない。ヴェルザードの発言は、その前提を無視する事になる。

Verudanava vẫn chưa hồi sinh. Lời nói của Veruzard đã bỏ qua tiền đề đó.

ヴェルザードはギィに抱き着いたまま、暫(しばら)く沈黙した。

Veruzard ôm chặt Guy và im lặng một lúc.

それから、言いたくなさそうに口を開く。

Sau đó, cô miễn cưỡng mở lời.

「兄は──復活しているの」

“Anh trai... đã hồi sinh rồi.”

驚天動地の真実が、今、明かされた。

Sự thật kinh thiên động địa, giờ đây đã được tiết lộ.

それは衝撃の事実だったが、ギィの胸に驚きは少ない。

Đó là một sự thật gây sốc, nhưng trong lòng Guy lại không có nhiều sự ngạc nhiên.

もしかして、という思いがあった。

Anh đã có một linh cảm.

復活の兆しなどなかったものの、虫の知らせのような予感を覚えていたのだ。

Dù không có dấu hiệu hồi sinh, anh vẫn có một linh cảm như thể có điềm báo.

「いつだ? あの野郎は、いつ復活してやがったんだ?」

“Khi nào? Tên đó đã hồi sinh từ khi nào?”

「……」

“...”

「多分────ずっと、昔に」

“Có lẽ... từ rất lâu rồi.”

思い詰めたように告げるヴェルザードに向けて、ギィは「そうかよ」と気安く応じた。

Trước lời nói đầy suy tư của Veruzard, Guy đáp lại một cách thản nhiên: “Vậy à.”

この返事を聞いて、ヴェルザードがまたも激高する。

Nghe câu trả lời này, Veruzard lại nổi giận.

「貴方が兄に敵対しても、勝てる訳がないじゃない! どうせ兄に殺されるくらいなら、いっそ私の手で楽にしてあげるわ!」

“Dù ngươi có chống lại anh trai ta, cũng không thể thắng được! Nếu đằng nào cũng bị anh ấy giết, thì thà để ta kết liễu ngươi một cách nhẹ nhàng còn hơn!”

自分でも無理なのを理解しているが、ヴェルザードは我慢ならなかったのだ。

Dù biết rằng mình không thể làm được, nhưng Veruzard không thể chịu đựng được.

ギィが誰かに殺されるなど、そんなのは絶対に許せない。

Việc Guy bị ai đó giết là điều cô tuyệt đối không thể tha thứ.

それがヴェルダナーヴァなのだとしたら、復活出来るという保証もないのである。

Nếu đó là Verudanava, thì cũng không có gì đảm bảo anh ta có thể hồi sinh.

そうなるくらいならいっそ、自分の手で殺してしまいたかった。

Nếu vậy, thà tự tay giết anh ta còn hơn.

そうすれば、少なくともギィは復活出来るから。

Như vậy, ít nhất Guy cũng có thể hồi sinh.

しかしギィは、そんなヴェルザードの気持ちになどお構いなしだった。

Nhưng Guy lại không hề quan tâm đến cảm xúc của Veruzard.

これだから──と思うものの、ギィらしいなとヴェルザードは思った。

Đúng là... Veruzard nghĩ, nhưng đó lại rất giống Guy.

「オレがヴェルダナーヴァに負けたのは、遥か大昔の話だぜ? 次は勝つさ!」

“Ta thua Verudanava là chuyện từ rất lâu rồi? Lần sau ta sẽ thắng!”

「……私を馬鹿だと言ったけど、貴方の方がよっぽどよ。勝てる訳ないじゃない────」

“...Ngươi nói ta ngốc, nhưng ngươi còn ngốc hơn nhiều. Làm sao mà thắng được chứ...”

ギィの胸にしがみつきつつ、ヴェルザードが見上げるように言う。

Veruzard vừa bám vào ngực Guy, vừa ngước lên nói.

「一人では無理かも知れねーな。だから、オレに協力してくれ。一緒に戦ってくれるだろ? なあ、ヴェルザード?」

“Một mình thì có lẽ không được. Vì vậy, hãy hợp tác với ta. Ngươi sẽ chiến đấu cùng ta, đúng không? Này, Veruzard?”

「──なっ!?」

“...Cái gì!?”

絶句するヴェルザード。

Veruzard chết lặng.

ギィの余りの傲慢さに。

Trước sự kiêu ngạo quá mức của Guy.

──そして、その余りにもギィらしい言葉に。

...Và, trước những lời nói quá đỗi giống Guy.

だからヴェルザードは、ギィに向けて本音をぶつける。

Vì vậy, Veruzard đã nói ra suy nghĩ thật lòng của mình với Guy.

「私は貴方が嫌いだわ。本当に本当に本当に本当に、大嫌い。嫌いで嫌いで嫌いで嫌いで──どうしようもないほどに大嫌いで、そして大好きなのよ」

“Ta ghét ngươi. Thật sự, thật sự, thật sự, thật sự rất ghét. Ghét, ghét, ghét, ghét... ghét đến mức không thể nào chịu đựng được, và rồi ta lại yêu ngươi.”

思いの丈を込めて、ヴェルザードは告白した。

Veruzard đã thổ lộ với tất cả tình cảm của mình.

それに対するギィの返答はあっさりとしたもので──

Câu trả lời của Guy cho điều đó rất đơn giản...

「ああ、知ってたよ」

“À, ta biết rồi.”

という、何でもないとでも言うかのような簡単な一言のみ。

Chỉ một câu nói đơn giản như thể không có gì to tát.

これにはもう、ヴェルザードとしては唖然とするしかない。

Đối với điều này, Veruzard chỉ có thể chết lặng.

「傲慢ね、嫌味なほどに──」

“Kiêu ngạo thật, đến mức đáng ghét...”

「だろ? それが、オレがオレである証明だからな」

“Đúng không? Đó là bằng chứng cho thấy ta là chính ta mà.”

「これじゃあ、私が一人で悩んで、馬鹿みたいじゃない……」

“Như thế này, chẳng phải ta cứ một mình lo lắng, giống như một con ngốc sao...”

ヴェルザードの白い頬を、美しい水滴が流れ落ちる。

Những giọt nước mắt xinh đẹp lăn dài trên gò má trắng ngần của Veruzard.

それはまるで、彼女の凍った心が融けかけている証のようだ。

Nó giống như bằng chứng cho thấy trái tim băng giá của cô đang tan chảy.

「そうだな。オレもそう思うぜ?」

“Đúng vậy. Ta cũng nghĩ thế.”

「……そこは否定して、私を慰めるところでしょ?」

“...Đáng lẽ ngươi phải phủ nhận và an ủi ta chứ?”

「何でだよ、面倒くせーじゃねーか。それよりヴェルザード、さっさと肉体の支配権を取り戻して、正気に戻りやがれ!」

“Tại sao chứ, phiền phức quá. Hơn nữa, Veruzard, mau chóng lấy lại quyền kiểm soát cơ thể và tỉnh lại đi!”

今も物質世界では、ヴェルザードが荒れ狂うままだ。どうせリムルが何とかするだろうが、長話をしている場合ではないのである。

Ngay cả bây giờ, ở thế giới vật chất, Veruzard vẫn đang hoành hành. Dù sao thì Rimuru cũng sẽ giải quyết, nhưng không phải lúc để nói chuyện dài dòng.

「相変わらず、私には優しくないわね──」

“Ngươi vẫn chẳng dịu dàng với ta gì cả...”

「そうか? お前はオレの相棒だからな。オレが気を遣わなくてもいい、身内みたいなもんだからだろ?」

“Vậy sao? Ngươi là người đồng hành của ta mà. Chắc là vì ngươi giống như người thân, ta không cần phải câu nệ.”

「相棒……身内……? 身内ぃ──ッ!?」

“Đồng hành... người thân...? Người thân á!?”

ギィの胸に埋めていたヴェルザードの顔が、一瞬で真っ赤に染まった。

Khuôn mặt của Veruzard đang vùi vào ngực Guy đỏ bừng trong chốc lát.

慌ててギィから飛びのくヴェルザード。

Veruzard vội vàng nhảy ra khỏi Guy.

自分が思い願ったような、そんな意味じゃない。違うと思った。

Không phải ý nghĩa mà cô đã mong muốn. Cô nghĩ là khác.

(だって、ギィは優しいから……)

(Bởi vì, Guy rất tốt bụng...)

ギィはただ、自分を説得しようとしているだけなのだ、と。

Guy chỉ đang cố gắng thuyết phục cô mà thôi.

そんなヴェルザードの動揺に気付く事もなく、ギィは平然としたままだ。

Không hề nhận ra sự bối rối của Veruzard, Guy vẫn giữ vẻ bình tĩnh.

「違うのかよ? ずっと連れ添ってんだ、人間流に言えば〝夫婦〟ってヤツじゃねーか」

“Không phải à? Chúng ta đã ở bên nhau rất lâu, nói theo kiểu con người thì là ‘vợ chồng’ rồi còn gì.”

「夫婦!?」

“Vợ chồng!?”

憎々しいまでに傲慢に、ギィの声がヴェルザードの心に響いた。

Giọng nói của Guy vang lên trong tim Veruzard một cách kiêu ngạo đến đáng ghét.

愛の告白すらされた事がないのに、全ての過程を飛び越えて夫婦などと、ギィの思考のぶっ飛び具合にヴェルザードはタジタジだった。

Chưa từng được tỏ tình, vậy mà đã bỏ qua mọi quá trình để trở thành vợ chồng, Veruzard choáng váng trước lối suy nghĩ táo bạo của Guy.

だけど、嫌な気はしない。

Nhưng, cô không cảm thấy khó chịu.

(ギィと夫婦……)

(Vợ chồng với Guy...)

その言葉を噛み締めるだけで、ヴェルザードは心が温かくなるようだ。

Chỉ cần nghiền ngẫm những lời đó, Veruzard đã cảm thấy lòng mình ấm áp.

火照った頬は、万物を凍らせる冷気でも冷やすのは大変そうである。

Đôi má nóng bừng của cô dường như khó có thể nguội đi ngay cả với khí lạnh có thể đóng băng vạn vật.

「おいおい、バカみてーに呆けてねーで、さっさと戻ってこい」

“Này này, đừng có mà ngẩn ra như một con ngốc, mau trở về đi.”

ヴェルザードの気持ちに忖(そん)度(たく)する事なく、ギィが言う。

Guy nói mà không hề quan tâm đến cảm xúc của Veruzard.

再び促されて、ヴェルザードも苦笑するしかない。

Bị thúc giục một lần nữa, Veruzard chỉ có thể cười khổ.

ギィの態度を少し残念に思うものの、普段通りの対応に安心していた。

Dù có hơi thất vọng với thái độ của Guy, nhưng cô lại cảm thấy an tâm với cách đối xử thường ngày của anh.

もういつも通りだ、と。

Mọi thứ đã trở lại như thường lệ.

「ええ、そうね……本当に私、馬鹿みたい……」

“Ừm, đúng vậy... tôi thật giống một con ngốc...”

「そうか? だがよ、オレは嫌いじゃないぜ? お前のそういうところもな」

“Vậy sao? Nhưng ta không ghét đâu? Cả những điểm đó của ngươi nữa.”

ギィの言葉に、小さく笑うヴェルザード。

Veruzard mỉm cười trước lời nói của Guy.

そこにはもう、幼いヴェルザードはいない。本来の彼女らしく、美しくたおやかに、悩みが晴れたような笑みを浮かべた美女に戻っている。

Không còn Veruzard non nớt ở đó nữa. Cô đã trở lại là một mỹ nữ xinh đẹp, dịu dàng, với nụ cười như thể mọi phiền muộn đã tan biến, đúng với bản chất của mình.

ヴェルザードの心から、迷いが消えた証拠だ。

Đó là bằng chứng cho thấy sự do dự đã biến mất khỏi trái tim Veruzard.

その瞳には、強い理性の光が戻っていた。

Trong đôi mắt cô, ánh sáng của lí trí mạnh mẽ đã trở lại.

誰もが見蕩れるようなはにかむ笑顔で、ヴェルザードは「ただいま」と、ギィに向けて小さく呟いたのだった。

Với một nụ cười e thẹn khiến ai cũng phải say đắm, Veruzard thì thầm với Guy: “Em đã về rồi đây”.

美しい女性体となったヴェルザードが、ギィに向けて真顔で問う。

Veruzard, trong hình dạng một người phụ nữ xinh đẹp, hỏi Guy với vẻ mặt nghiêm túc.

「本当にいいの? 本当に兄と敵対する気?」

“Thật sự ổn chứ? Anh thật sự muốn đối đầu với anh trai em sao?”

「今更だぜ。オレの知ってるヴェルダナーヴァは、陰でコソコソするようなヤツじゃなかった。ヤツが本気なら、この世界を滅ぼすなんて、一人でも出来るだろうからな」

“Bây giờ đã quá muộn rồi. Verudanava mà ta biết không phải là kẻ lén lút làm việc sau lưng. Nếu hắn nghiêm túc, hắn có thể hủy diệt thế giới này một mình.”

それが、ギィの本音であった。

Đó là suy nghĩ thật lòng của Guy.

だからこそ迷いなく、自分の中のヴェルダナーヴァへの思いを断ち切れるのである。

Chính vì vậy, anh có thể dứt khoát cắt đứt tình cảm của mình đối với Verudanava.

ヴェルダナーヴァは滅んだのだ、と。

Verudanava đã bị tiêu diệt.

「貴方はやっぱり強いわね、ギィ。私はね、兄が怖かった。復活した兄は、力を回復させる為に〝天(てん)星(せい)宮(きゅう)〟で眠っていたの。私かフェルドウェイしか入れない最奥の間で、ずっと」

“Anh quả nhiên rất mạnh, Guy. Em thì lại sợ anh trai. Anh trai sau khi hồi sinh đã ngủ trong “Thiên Tinh Cung” để hồi phục sức mạnh. Ở căn phòng sâu nhất mà chỉ có em hoặc Feldway mới có thể vào, suốt một thời gian dài.”

「ふむん」

“Hừm.”

「そして、つい最近目覚めたわ」

“Và rồi, anh ấy đã thức dậy gần đây.”

「フェルドウェイの野郎を止めなかったのも、ヴェルダナーヴァの意思って事か?」

“Việc không ngăn chặn tên Feldway đó cũng là ý muốn của Verudanava à?”

「ええ、そうよ。兄は、この世界の破滅を望んでいたもの。だから私は、貴方を凍らせて助けようとしたのよ」

“Ừm, đúng vậy. Anh trai đã mong muốn sự hủy diệt của thế giới này. Vì vậy, em đã cố gắng cứu anh bằng cách đóng băng anh.”

それが、ヴェルザードにとっての真実だった。

Đó là sự thật đối với Veruzard.

ヴェルダナーヴァには逆らえない。だからこそ、その計画に乗じてギィや、可能な限りの者達を生き残らせようと考えた。

Cô không thể chống lại Verudanava. Chính vì vậy, cô đã lợi dụng kế hoạch đó để cố gắng cứu sống Guy và càng nhiều người càng tốt.

新たなる世界で再び生きられるように、と。

Để họ có thể sống lại trong một thế giới mới.

その策がなくなった今となっては、全か無か(オールオアナッシング)だ。

Bây giờ khi kế hoạch đó không còn nữa, chỉ còn lại tất cả hoặc không có gì.

ヴェルダナーヴァを倒すか、全て滅ぼされてゼロから再生されるか、である。

Hoặc là đánh bại Verudanava, hoặc là tất cả bị hủy diệt và tái sinh từ con số không.

「相談しろよ」

“Sao không bàn với ta.”

「ふふっ、それを貴方が言うの?」

“Fufu, anh lại nói thế à?”

「まあよ」

“Chà.”

ギィはヴェルダナーヴァに対して、複雑な思いがある。

Guy có những cảm xúc phức tạp đối với Verudanava.

もう何千年も会っていないが、懐かしき思い出は色褪せていなかった。

Dù đã không gặp nhau hàng ngàn năm, nhưng những kỉ niệm xưa cũ vẫn không phai mờ.

いや、だからこそ──

Không, chính vì vậy...

ヴェルザードが語るヴェルダナーヴァを、許してはおけなかった。

Anh không thể tha thứ cho Verudanava mà Veruzard đã kể.

(アイツは、こんな姑息な真似はしねーだろうよ)

(Tên đó sẽ không làm những chuyện hèn hạ như thế này đâu.)

というのが、ギィが到達した結論なのだ。

Đó là kết luận mà Guy đã đi đến.

ギィがヴェルダナーヴァを敵認定したのは、まさにこの瞬間だったのである。

Guy đã coi Verudanava là kẻ thù chính vào khoảnh khắc này.

ヴェルザードも意識を切り替える。

Veruzard cũng thay đổi suy nghĩ.

「わかったわ、私も覚悟を決めました。でも、私の裏切りは、直ぐに兄にバレるでしょうね……」

“Em hiểu rồi, em cũng đã quyết tâm. Nhưng, sự phản bội của em chắc chắn sẽ bị anh trai phát hiện ngay lập tức...”

ヴェルダナーヴァから与えられた権能を有している以上、ヴェルザードの動向は筒抜けなのだ。それ以前の話として、敵対する相手から借り受けた力では、勝負の土俵に上がる事さえ不可能であった。

Khi cô còn sở hữu quyền năng do Verudanava ban cho, mọi hành động của Veruzard đều bị theo dõi. Hơn nữa, với sức mạnh mượn từ đối thủ, việc đứng trên cùng một võ đài để thi đấu cũng là không thể.

ギィもそれを察して、思案する。

Guy cũng nhận ra điều đó và suy nghĩ.

(オレの『傲慢之王(ルシファー)』と違って、ヴェルザードの『忍耐之王(ガブリエル)』はヴェルダナーヴァが手掛けた純粋な権能だからな。これを残したままってのは、今後を考えるとマズイ気がするぜ)

(Khác với “Ngạo Mạn Vương (Lucifer)” của ta, “Nhẫn Nại Vương (Gabriel)” của Veruzard là một quyền năng thuần túy do Verudanava tạo ra. Cứ để như vậy thì sau này sẽ rất phiền phức.)

ヴェルダナーヴァと敵対する以上、勝たなければならない。

Khi đã đối đầu với Verudanava, phải chiến thắng.

その為には、取れるだけの対策を行わなければならないし、弱点となりそうな要素は可能な限り潰しておかなければならないのである。

Để làm được điều đó, cần phải thực hiện mọi biện pháp có thể, và loại bỏ càng nhiều yếu tố có thể trở thành điểm yếu càng tốt.

最低でも、敵と見(み)做(な)した相手から借り受けたような力など、この機会に清算しておかねばならないだろう。

Ít nhất, những sức mạnh mượn từ kẻ được coi là kẻ thù phải được thanh toán trong dịp này.

「お前の権能は『忍耐之王(ガブリエル)』だけじゃねーんだろ?」

“Quyền năng của ngươi không chỉ có “Nhẫn Nại Vương (Gabriel)” thôi đúng không?”

「ええ、そうよ。貴方ならお見通しだと思うけど、私は究極能力(アルティメットスキル)『嫉妬之王(レヴィアタン)』を獲得していたお陰で、ミカエルの〝天使長の支配(アルティメットドミニオン)〟から逃れられたのよ」

“Ừm, đúng vậy. Em nghĩ anh cũng đã nhìn thấu rồi, nhưng nhờ có được Kĩ năng Tối thượng “Tật Đố Vương (Leviathan)”, em đã có thể thoát khỏi “Thiên Sứ Trưởng Chi Phối (Ultimate Dominion)” của Michael.”

ヴェルザードは、ギィに自分の権能を説明する。

Veruzard giải thích quyền năng của mình cho Guy.

相反する二つの究極能力(アルティメットスキル)を活用する事で、フェルドウェイ達の目を欺いていた事を。

Cô đã lừa dối Feldway và những người khác bằng cách sử dụng hai Kĩ năng Tối thượng đối lập nhau.

「って事はよ、フェルドウェイの野郎もヴェルダナーヴァの復活に気付いていないのかよ?」

“Vậy có nghĩa là, tên Feldway đó cũng không nhận ra sự hồi sinh của Verudanava à?”

「そうね。兄は何故か、復活した事実を隠していたもの。力を取り戻すまで黙っているつもりなのだと思っていたけど、どうやら別の目的があったみたい……」

“Đúng vậy. Không hiểu sao anh trai lại che giấu sự thật về việc hồi sinh. Em cứ nghĩ anh ấy định im lặng cho đến khi lấy lại được sức mạnh, nhưng có vẻ như có một mục đích khác...”

それが何なのかは不明だけど──と、ヴェルザードが答える。

Veruzard trả lời, nhưng cô không biết đó là gì.

「フェルドウェイも憐れな野郎だな」

“Feldway cũng là một kẻ đáng thương.”

「どうかしら? 昔と違い過ぎて、会わない方が幸せかも知れないわよ」

“Em không chắc đâu? Anh ấy đã thay đổi quá nhiều so với trước đây, không gặp có lẽ sẽ hạnh phúc hơn.”

「それほどなのかよ?」

“Đến mức đó à?”

「ええ。〝竜種〟は不滅だけど、生まれ変わったら自我が変わるもの。記憶は継承されているけど、貴方が知っている兄ではないわ」

“Ừm. “Long chủng” là bất diệt, nhưng khi tái sinh, bản ngã sẽ thay đổi. Kí ức được kế thừa, nhưng đó không phải là người anh mà anh biết.”

と、ヴェルザードは断言した。

Veruzard khẳng định.

そうかよと、ギィが頷く。

Guy gật đầu, “Vậy à.”

「だったら、遠慮なくぶちのめしてやるぜ」

“Vậy thì, ta sẽ không nương tay mà đập cho hắn một trận.”

「具体的にはどうする気?」

“Cụ thể thì anh định làm gì?”

「それはこれから考えるんだがよ、先ずは、お前の権能を何とかしなきゃな」

“Chuyện đó ta sẽ nghĩ sau, nhưng trước hết, phải giải quyết quyền năng của ngươi đã.”

相変わらず、ギィは行き当たりばったりだった。

Như mọi khi, Guy vẫn hành động tùy hứng.

下手に最強だからこそ、難しく物事を考える必要がない。そんな悪癖はあるものの、これまで何とでもしてきた実績があるので、文句も言えないヴェルザードである。

Chính vì quá mạnh nên không cần phải suy nghĩ phức tạp. Dù có tật xấu đó, nhưng vì đã có thành tích giải quyết mọi chuyện từ trước đến nay, Veruzard cũng không thể phàn nàn.

(だから私が振り回されるのよね……)

(Vì vậy mà em luôn bị anh xoay như chong chóng...)

という不満がないではないが、それもまた嬉しいのだから困ったものだ。

Dù có chút bất mãn, nhưng điều đó lại khiến cô vui mừng, thật là phiền phức.

「私の権能をどうするつもり? 一応、『嫉妬之王(レヴィアタン)』で『忍耐之王(ガブリエル)』を抑え込めるから、権能に頼らなければ問題はないわよ」

“Anh định làm gì với quyền năng của em? Tạm thời, em có thể dùng “Tật Đố Vương (Leviathan)” để kiềm chế “Nhẫn Nại Vương (Gabriel)”, nên nếu không dựa vào quyền năng thì không có vấn đề gì.”

権能に頼らずとも戦えるというヴェルザードの主張に、ギィは納得しなかった。

Guy không đồng ý với lập luận của Veruzard rằng cô có thể chiến đấu mà không cần dựa vào quyền năng.

「あの胡散臭いリムルが言ってたんだが、権能が進化する事もあるらしい。お前の『嫉妬之王(レヴィアタン)』もそうして誕生したんだろうが、もっと上を目指せるはずだぜ」

“Tên Rimuru đáng ngờ đó đã nói rằng quyền năng cũng có thể tiến hóa. “Tật Đố Vương (Leviathan)” của ngươi cũng đã được sinh ra như vậy, nhưng chắc chắn có thể tiến xa hơn nữa.”

「本当なの、それ?」

“Thật sao?”

「ああ。あのヴェルグリンドだって、リムルが何とかしやがったようだしな」

“À. Ngay cả Verugrynd cũng đã được Rimuru giải quyết rồi.”

「そうなのね……」

“Ra vậy...”

ギィの言葉には迷いがなく、リムルなら出来ると確信した力強さがあった。

Lời nói của Guy không hề do dự, và có một sức mạnh cho thấy anh ta tin chắc rằng Rimuru có thể làm được.

その信頼している様子に嫉妬しそうになるが、心は穏やかなままなヴェルザードである。ただし、よくわからないスライムに身を委ねろと言われても、はいそうですかと頷けるものではなかった。

Dù gần như ghen tị với sự tin tưởng đó, nhưng tâm trí của Veruzard vẫn bình yên. Tuy nhiên, dù được yêu cầu giao phó bản thân cho một con slime không rõ lai lịch, cô cũng không thể dễ dàng gật đầu đồng ý.

ヴェルザードとしても、リムルを嫌っている訳ではないし、ある意味では信用もしている。

Đối với Veruzard, cô không ghét Rimuru, và ở một khía cạnh nào đó, cô cũng tin tưởng cậu.

確かに胡散臭い面もあるが、リムルはヴェルドラを矯正した実績を持つのだ。あの暴れん坊を躾けられるという一点だけ見ても、十分凄いと認められるのである。

Đúng là có những mặt đáng ngờ, nhưng Rimuru đã có thành tích uốn nắn Verudora. Chỉ riêng việc có thể dạy dỗ tên quậy phá đó cũng đủ để được công nhận là rất giỏi.

ここは任せてみよう──と、ヴェルザードも決心した。

Hãy giao phó cho cậu ta... Veruzard cũng quyết định.

「気軽に言ってくれるわね。いいでしょう、貴方の期待に応える為にも、リムルを信じてみるわ」

“Anh nói dễ dàng nhỉ. Được thôi, để đáp lại sự mong đợi của anh, em sẽ thử tin tưởng Rimuru.”

「そう言ってくれると思ったぜ。それじゃあ、オレは戻ってリムルに伝えるから、お前は心の準備をして大人しく待ってな」

“Ta đã nghĩ là ngươi sẽ nói vậy. Vậy thì, ta sẽ trở về và nói với Rimuru, còn ngươi hãy chuẩn bị tinh thần và ngoan ngoãn chờ đợi.”

そう言い残すなり、ヴェルザードの心核(ココロ)からギィの星幽体(アストラル・ボディー)が去って行く。

Nói xong, Thể tinh u (Astral body) của Guy rời khỏi Tâm hạch của Veruzard.

ギィの意識は一瞬にして、自分の身体へと舞い戻ったのだった。

Ý thức của Guy ngay lập tức trở về với cơ thể của mình.

女体となったギィは、意識を手放してディアブロの腕に抱かれていた。

Guy trong hình dạng nữ giới đã mất ý thức và đang được Diablo ôm trong vòng tay.

黒と赤、美男美女で、とてもお似合いですね。

Đen và đỏ, trai tài gái sắc, thật là một cặp đôi đẹp.

ギィは今、ヴェルザードの心核(ココロ)に直接語り掛けるべく、星幽体(アストラル・ボディー)となって接触しているのだろう。

Guy bây giờ chắc đang ở dạng Thể tinh u (Astral body) để tiếp xúc và nói chuyện trực tiếp với Tâm hạch của Veruzard.

俺がヒナタを助ける為にクロエの心核(ココロ)に触れた時と同様、無防備な状態になっているはずだ。

Giống như lúc tôi chạm vào Tâm hạch của Chloe để cứu Hinata, anh ta chắc chắn đang ở trong trạng thái không phòng bị.

無茶をすると思ったが、そうしなければヴェルザードを助けられないと判断したのだろう。

Tôi nghĩ anh ta đang làm một việc liều lĩnh, nhưng có lẽ anh ta đã phán đoán rằng nếu không làm vậy thì không thể cứu được Veruzard.

両者の間には、余人には立ち入れないような信頼関係があるのだと思う。是非とも説得に成功して欲しいものだと、俺も成功を祈る事にしたのだった。

Tôi nghĩ giữa họ có một mối quan hệ tin tưởng mà người ngoài không thể xen vào. Tôi cũng cầu nguyện cho anh ta thành công trong việc thuyết phục.

そして、数分経過。

Và rồi, vài phút trôi qua.

ぶっちゃけ、何もする事がなくて暇だった。

Nói thật, tôi chẳng có gì để làm và cảm thấy chán.

精神世界では時の流れが違うので、ギィやヴェルザードがいつ目覚めても不思議ではない。

Trong thế giới tinh thần, dòng chảy thời gian khác nhau, nên không có gì lạ nếu Guy hay Veruzard tỉnh dậy bất cứ lúc nào.

だから気を張っていないとダメなのだが、ヴェルザードが放つ冷気や魔力波動なんかは、俺が『虚無崩壊』で包み込んでいるので外部まで影響が及ばない。

Vì vậy, tôi phải luôn cảnh giác, nhưng những thứ như khí lạnh hay sóng ma lực mà Veruzard tỏa ra đều bị tôi bao bọc bằng “Hư Vô Băng Hoại” nên không ảnh hưởng đến bên ngoài.

つまり、何事も起こらないのである。

Nói cách khác, không có chuyện gì xảy ra cả.

見ているだけだと暇なので、俺はヴェルザードを観察してみた。

Chỉ nhìn không thì chán, nên tôi đã thử quan sát Veruzard.

俺の『虚無崩壊』で包み込まれたヴェルザードは、美しいまでの竜形態(ドラゴンモード)である。

Veruzard, được bao bọc bởi “Hư Vô Băng Hoại” của tôi, đang ở dạng rồng (Dragon Mode) đẹp đến ngỡ ngàng.

その魔素(エネルギー)量は絶大で、進化後のヴェルグリンドを上回っている。ヴェルドラと比べても、ほぼ互角という凄まじさであった。

Lượng ma tố (năng lượng) của cô ấy là vô cùng lớn, vượt qua cả Verugrynd sau khi tiến hóa. So với Verudora, sức mạnh của họ gần như ngang bằng.

そんなヴェルザードを、苦もなく抑え込める俺。

Và tôi, người có thể dễ dàng kiềm chế một Veruzard như vậy.

自分でもビックリだが、俺の魔素(エネルギー)量も相当なものになっていそうだった。

Ngay cả tôi cũng ngạc nhiên, nhưng lượng ma tố (năng lượng) của tôi dường như cũng đã trở nên đáng kể.

こうした荒業が可能になったのは、どうやら『虚空之神(アザトース)』を獲得したお陰らしい。

Việc có thể thực hiện những kĩ năng phi thường như vậy dường như là nhờ vào việc tôi đã có được “Hư Không Thần (Azathoth)”.

聞けば聞くほど、とんでもない権能だと思う。

Càng nghe, tôi càng thấy đó là một quyền năng phi thường.

フェルドウェイの〝時空跳激震覇(クロノサルテーション)〟で果ての世界まで跳ばされたわけだが、それはシエルさんに研究時間を与える結果に繋がった。

Tôi đã bị dịch chuyển đến tận cùng thế giới bởi “Thời Không Khiêu Kích Chấn Bá (Chrono Saltation)” của Feldway, nhưng điều đó lại tạo cơ hội cho Ciel có thời gian nghiên cứu.

俺も色々と説明を受けたのだが、ほとんど理解不能だったのは言うまでもない。

Tôi cũng đã được giải thích rất nhiều, nhưng không cần phải nói, hầu hết đều không thể hiểu được.

それなりに頭がいいと自負していたが、〝光の速さは一定ではない〟とか〝時間は不変ではない〟とか、『それって君の感想ですよね?』みたいな概念の話を聞かされても、それと能力とどういう関係があるのかさえも理解出来なかったのだ。

Tôi tự cho mình là người khá thông minh, nhưng khi nghe những khái niệm như ‘tốc độ ánh sáng không phải là hằng số’ hay ‘thời gian không phải là bất biến’, giống như kiểu ‘đó chỉ là cảm nhận của bạn thôi đúng không?’, tôi thậm chí còn không hiểu được mối liên hệ giữa chúng và kĩ năng.

世の中には〝諦めが肝心〟という言葉もある。

Trên đời có câu nói ‘từ bỏ là điều quan trọng’.

俺は俺なりに、小市民らしく実用的な部分だけ覚えておく事にしたってわけだ。

Tôi đã quyết định theo cách của mình, giống như một người dân bình thường, chỉ ghi nhớ những phần thực tế.

それはどういう事かと言うと、究極能力(アルティメ-トスキル)『虚空之神(アザトース)』というのは、極論すれば圧倒的なまでのエネルギーの塊だという話だね。

Nói một cách đơn giản, Kĩ năng Tối thượng “Hư Không Thần (Azathoth)” về cơ bản là một khối năng lượng khổng lồ.

俺が今使っている『虚無崩壊』というのも、果ての世界で溜め込まれた絶対的な崩壊因子(マイナスエネルギー)が正体なのである。

“Hư Vô Băng Hoại” mà tôi đang sử dụng cũng chính là nhân tố hủy diệt tuyệt đối (năng lượng âm) được tích lũy ở thế giới tận cùng.

シエルさんでさえ扱いに困っていたようだが、無限に時間をかけて研究した成果として、今ではお手軽に流用出来るようになったのだと。

Ngay cả Ciel cũng có vẻ gặp khó khăn trong việc xử lí nó, nhưng sau khi nghiên cứu trong một thời gian vô hạn, giờ đây cô ấy đã có thể dễ dàng sử dụng nó.

うん、凄いね。

Ừm, tuyệt thật.

原子炉から核融合炉に変わった感じ? と聞いたら、《違う》と、真顔っぽい雰囲気で断言されたよね。

Tôi hỏi có phải cảm giác như từ lò phản ứng hạt nhân chuyển sang lò phản ứng nhiệt hạch không? thì bị <<Sai rồi>> với một vẻ mặt nghiêm túc.

もっと褒めて欲しかったらしいが、俺に細かい気配りを求める方が間違っていると思うのだよ。

Có vẻ như cô ấy muốn được khen nhiều hơn, nhưng tôi nghĩ rằng việc đòi hỏi sự tinh tế từ tôi là một sai lầm.

まあ、ともかく。

Thôi, dù sao đi nữa.

このエネルギーを実験するのは、迷宮内でさえ危険だったらしい。

Việc thử nghiệm năng lượng này dường như rất nguy hiểm ngay cả trong mê cung.

手加減とか出来るような代物ではなかったらしく、果ての世界は最高の実験場所だったのだそうだ。

Dường như nó không phải là thứ có thể nương tay, nên thế giới tận cùng là một nơi thử nghiệm tuyệt vời.

敵を利してどうする──と、俺はフェルドウェイを憐れに思ったのだった。

Làm lợi cho kẻ thù thì sao chứ... tôi cảm thấy thương hại cho Feldway.

ちなみに、俺が試しで魔法の発動に利用してみたら、大爆発が生じた。

Nhân tiện, khi tôi thử sử dụng nó để kích hoạt ma pháp, một vụ nổ lớn đã xảy ra.

初歩の初歩である元素魔法:火炎球(ファイア)だったのだが、いきなり大炎上。核撃魔法:破滅の炎(ニュークリアフレイム)に匹敵するか上回るほどの、広範囲を焼き尽くす極大魔法になってしまったのである。

Đó là Ma Pháp Nguyên Tố cơ bản nhất: Hỏa Viêm Cầu (Fire), nhưng nó đã bùng cháy dữ dội ngay lập tức. Nó đã trở thành một ma pháp cực đại thiêu rụi một khu vực rộng lớn, có sức mạnh ngang bằng hoặc hơn cả Ma Pháp Hạch Kích: Ngọn Lửa Hủy Diệt (Nuclear Flame).

これはもう、俺の技量(レベル)では制御とか論外だった。

Với trình độ (level) của tôi, việc kiểm soát nó là không thể.

慌てて『虚空之神(アザトース)』で制御して、程よく使えるようになった次第である。

Tôi đã vội vàng dùng『Hư Không Thần (Azathoth)』để khống chế nó, và cuối cùng cũng có thể sử dụng một cách vừa phải.

何もない果ての世界だったから大惨事には至らなかったのだが、こんな危険な実験を基軸世界では行えない。今後は『虚空之神(アザトース)』頼りになってしまうが、俺としてはそれで問題ないと考えていた。

Vì đó là thế giới tận cùng không có gì cả nên mới không dẫn đến thảm họa, chứ tôi không thể tiến hành một thí nghiệm nguy hiểm như vậy ở thế giới cốt lõi được. Sau này tôi sẽ phải phụ thuộc vào『Hư Không Thần (Azathoth)』, nhưng cá nhân tôi nghĩ như vậy cũng không có vấn đề gì.

それに比べて、ディアブロは凄い。

So với điều đó, Diablo thật đáng kinh ngạc.

というか、ぶっ飛んでいる。

Hay đúng hơn là, hắn ta quá điên rồ.

この凶悪な『虚無崩壊(エネルギー)』を制御して、自分自身の身体能力強化に利用するなんてね……。

Kiểm soát được thứ『Hư Vô Băng Hoại (Năng lượng)』đáng sợ này và sử dụng nó để cường hóa năng lực thể chất của bản thân... Thật không thể tin nổi.

単純に攻撃手段として敵に喰らわせるだけでも、大概の相手には通用する。

Chỉ đơn giản dùng nó như một phương thức tấn công kẻ địch thôi cũng đã đủ để áp đảo hầu hết đối thủ.

抵抗を許さずに滅ぼす事だって可能だろう。

Thậm chí có thể tiêu diệt họ mà không cho phép bất kì sự kháng cự nào.

けれど、当然ながら代償も大きいのだ。

Tuy nhiên, cái giá phải trả đương nhiên cũng rất lớn.

自分の魔素(エネルギー)もゴッソリと消費するし、継続戦闘が困難となるのである。

Ma tố (Năng lượng) của chính mình cũng sẽ bị tiêu hao một lượng lớn, khiến cho việc chiến đấu liên tục trở nên khó khăn.

だからこそ、ここぞという場面で奥の手に用いるのが望ましいと思うのだが……意外と、俺の考え方が少数派なのかもしれない。

Chính vì vậy, tôi nghĩ tốt nhất là nên dùng nó như một con át chủ bài trong những thời khắc quyết định... nhưng có lẽ cách nghĩ của tôi lại thuộc về thiểu số.

カレラだって、切り札となる〝神滅弾(ジャッジメント)〟を初手で放ったし、テスタロッサも惜しみなく『虚無崩壊』を駆使していた。

Carrera cũng đã tung ra con át chủ bài “Thần Diệt Đạn (Judgement)” ngay từ đòn đầu tiên, và Testarossa cũng đã sử dụng『Hư Vô Băng Hoại』một cách không hề tiếc nuối.

気軽に使える技ではないと思うのだが、戦闘巧者にとっては違うのだろう。

Tôi nghĩ đó không phải là một kĩ năng có thể sử dụng tùy tiện, nhưng có lẽ đối với những người giỏi chiến đấu thì lại khác.

そして、ディアブロだ。

Và rồi, Diablo.

自身を強化するように『虚無崩壊』を利用するというのは、一見すると堅実そうに見えるが、危険極まりない方法であった。

Việc sử dụng『Hư Vô Băng Hoại』để cường hóa bản thân, thoạt nhìn có vẻ là một phương pháp chắc chắn, nhưng thực chất lại cực kì nguy hiểm.

シエルさんも、似たような利用方法を考案していた。

Ciel-san cũng đã nghĩ ra một phương pháp sử dụng tương tự.

閉じた世界でエネルギーを循環させる利用方法なのだが、名付けて〝円環の秘法〟という。

Đó là một phương pháp sử dụng năng lượng tuần hoàn trong một thế giới khép kín, được đặt tên là “Bí pháp Viên Hoàn”.

恰好良く言ってみたが、要するにエネルギーの再利用だ。空間支配系能力でエネルギーの拡散を防ぐ状態を作り出し、循環させたエネルギーを損耗させないようにする訳である。

Nói cho ngầu vậy thôi, chứ tóm lại nó là tái sử dụng năng lượng. Bằng cách sử dụng kĩ năng hệ chi phối không gian để tạo ra một trạng thái ngăn chặn sự khuếch tán năng lượng, năng lượng tuần hoàn sẽ không bị hao hụt.

まあ、理解するのは困難なので、その時不思議な事が起こった、と思っておけば大丈夫なハズだ。

Mà, vì nó khó hiểu nên cứ nghĩ rằng ‘lúc đó đã có chuyện kì diệu xảy ra’ là được rồi.

これが可能なのは、俺のスライム細胞に『無限再生』という特性があるからだった。凶悪極まりない『虚無』による崩壊速度を上回って再生可能だからこそ、マイナスエネルギーを利用出来るって事だな。

Điều này có thể thực hiện được là nhờ tế bào slime của tôi có đặc tính『Tái Sinh Vô Hạn』. Chính vì có thể tái sinh với tốc độ vượt qua cả tốc độ phân rã của『Hư Vô』cực kì đáng sợ, nên tôi mới có thể sử dụng năng lượng âm.

ところがディアブロは、『誘惑世界』という権能を駆使して自分の肉体を騙し、〝円環の秘法〟と似たような現象を起こしていたのである。

Thế nhưng, Diablo đã sử dụng quyền năng mang tên『Thế Giới Cám Dỗ』để lừa gạt cơ thể của chính mình, tạo ra một hiện tượng tương tự như “Bí pháp Viên Hoàn”.

普通に考えたら自殺行為なので、よく無事だったなと呆れたものだ。

Nếu nghĩ theo cách thông thường thì đó là hành vi tự sát, nên tôi đã kinh ngạc vì hắn vẫn bình an vô sự.

もう少し俺の帰還が遅れていたら、ディアブロの肉体は塵となって消滅していたはずだ。

Nếu tôi trở về muộn hơn một chút, cơ thể của Diablo chắc chắn đã tan thành tro bụi.

いや──そうならないように、シエルさんがタイミングを見計らっただろうけど……。

Không... chắc là Ciel-san đã canh đúng thời điểm để chuyện đó không xảy ra...

そんなディアブロだが、今はシエルさんから〝円環の秘法〟を教授されている。俺の言葉として説明しているが、どう考えても無理筋だよね。

Diablo đó hiện đang được Ciel-san truyền dạy “Bí pháp Viên Hoàn”. Dù được giải thích dưới danh nghĩa lời của tôi, nhưng nghĩ thế nào đi nữa thì cũng thật vô lí.

俺も流石にシエルさんほど頭が良くないので、ディアブロだって違和感を抱いているに違いない。

Đến cả tôi cũng không thông minh bằng Ciel-san, nên chắc chắn Diablo cũng đang cảm thấy có gì đó không đúng.

ともかく、俺と違ってディアブロは、シエルさんの説明を理解している様子。流石である。

Dù sao thì, khác với tôi, Diablo có vẻ như đã hiểu được lời giải thích của Ciel-san. Quả không hổ danh.

嬉々として会話が成立しているので、疎外感が半端なかった。

Cuộc trò chuyện của họ diễn ra một cách vui vẻ, khiến tôi cảm thấy bị ra rìa một cách khủng khiếp.

シエルさんと会話が成立するとは羨ましい。

Thật ghen tị khi có thể trò chuyện với Ciel-san.

ベニマルとかも無理なハズ……。

Benimaru chắc chắn cũng không thể...

他に可能なのは、テスタロッサとかウルティマくらいかな?

Những người khác có thể làm được chắc chỉ có Testarossa và Ultima thôi nhỉ?

カレラは理屈や理論より本能と直感って感じなので、理詰めの会話は好まないだろうしね。

Carrera thì có vẻ thuộc tuýp người hành động theo bản năng và trực giác hơn là lí lẽ và lí thuyết, nên chắc sẽ không thích những cuộc trò chuyện logic.

穏やかな時間が経過する。

Thời gian trôi qua một cách yên bình.

戦場でこんな事を考えるのはダメなのだが、余りにも今の状態が安定しているので、暇に思うのも仕方のない話だと思ったのだった。

Suy nghĩ những chuyện như vậy trên chiến trường là không nên, nhưng vì tình hình hiện tại quá ổn định, tôi nghĩ việc cảm thấy rảnh rỗi cũng là điều khó tránh khỏi.

ああ、俺も参加出来るような面白い会話をしてくれればいいのに──などと油断していたら、突如、ギィが目覚めて起き上がったのだ。

Aah, giá mà họ nói chuyện gì đó thú vị để mình cũng tham gia được nhỉ... Trong lúc tôi đang lơ là nghĩ vậy thì đột nhiên, Guy tỉnh dậy và ngồi thẳng lên.

「さ、サボってませんけど?」

“T-Tôi không có lười biếng đâu nhé?”

俺はドキッとして、思わず言い訳してしまった。

Tôi giật mình, buột miệng thanh minh.

そんな俺を、ギィがジロッと睨む。

Guy lườm tôi một cái sắc lẹm.

「サボってたんだな?」

“Ngươi lười biếng đúng không?”

「いえいえ、とんでもないです」

“Không không, làm gì có chuyện đó.”

男の姿では威圧感があったが、美女に睨まれると別の意味で恐ろしい。

Khi ở hình dạng đàn ông, anh ta có một vẻ uy압, nhưng khi bị một mỹ nữ lườm thì lại đáng sợ theo một nghĩa khác.

俺ってやっぱり『美人には超弱いみたいだ』と、再確認してしまった。

Tôi lại một lần nữa xác nhận rằng ‘mình siêu yếu lòng trước người đẹp’.

「それじゃあ、事情は理解しているな?」

“Vậy thì, ngươi đã hiểu tình hình rồi chứ?”

Tôi có hiểu gì đâu?

「あの……」

“À thì...”

「御託はいいから、さっさと始めやがれ!」

“Đừng có lắm lời nữa, nhanh bắt đầu đi!”

Bắt đầu cái gì cơ?

「無茶言うなって! 先ずは説明してくださいよ!」

“Đừng có nói chuyện vô lí như vậy chứ! Trước tiên hãy giải thích đi chứ!”

俺は思わず、実に正当な意見を言い返した。

Tôi bất giác đáp lại bằng một ý kiến hoàn toàn chính đáng.

「チッ」

“Chậc.”

Hả, mình sai à?

え、俺が悪いの?

Anh ta vừa tặc lưỡi với mình đó...?

舌打ちされましたけど……?

Về sự bất công của thế gian này, tôi đã định suy ngẫm một chút, nhưng đúng lúc đó Guy đã giải thích.

この世の理不尽について思いを馳せかけたのだが、そのタイミングでギィが説明してくれた。

Sau khi『Gia Tốc Tư Duy』được đẩy lên mức tối đa, một dòng thông tin chính đã được nện thẳng vào đầu tôi.

最大限に『思考加速』された上で、俺の頭に情報の本流が叩き込まれた訳だ。

Vì vừa nuốt chửng Long Tinh Bộc Viêm Bá (Drago Nova) xong và cảm thấy như bị say rượu, nên tôi đã cảm thấy vô cùng đau đớn.

竜星爆炎覇(ドラゴ・ノヴァ)を呑み込んで二日酔いみたいになっていたので、かなりの苦痛を感じてしまった。

Đúng là một hành động quấy rối, nhưng vì đã nắm được tình hình nên thôi cũng được.

嫌がらせそのものだが、事情は把握出来たのでヨシとしよう。

“Tóm lại là, Verudanava đã hồi sinh, nên hãy làm gì đó với『Nhẫn Nại Vương (Gabriel)』của ngài Veruzard, đúng không?”

「つまり、ヴェルダナーヴァが復活したから、ヴェルザードさんの『忍耐之王(ガブリエル)』を何とかしろ、と?」

Không không không, đây là thông tin cần phải họp đến ba ngày mới xong chứ hả?

いやいやいや、それって三日くらい会議しないとダメな情報ですよね?

Làm ơn đừng có tin tưởng tôi một cách bí ẩn như vậy nữa.

というか、俺への謎の信頼は止めて欲しい。

Trong bữa tiệc Ma vương Walpurgis trước đây, tôi đã nghĩ mình chắc chắn bị nghi ngờ.

前の魔王達の宴(ワルプルギス)の際、絶対に疑われていると思ったんだよね。

Xem ra việc đánh lừa Guy là không thể.

やっぱり、ギィを誤魔すのは無理だったみたいである。

《Đây là một cơ hội tốt! Nhân dịp này, chúng ta sẽ triệt để...》

《いい機会です! この際、徹底的に──》

Ừm, đúng vậy nhỉ.

うーん、そうだね。

Vì Ciel-san đã có hứng rồi, nên có lẽ tôi cũng không có lí do gì để ngăn cản.

シエルさんがやる気なんだから、俺が止める理由はないかもね。

Hỏi xem cô ấy định ‘triệt để’ cái gì thì thật là vô duyên. Tôi nghĩ cứ giao hết cho Ciel-san là được.

何を徹底的にする気なのか、聞くのも野暮というものだし。ここは一つ、シエルさんにお任せでよかろうと思ったのだった。

Vậy là, tôi đã chấp nhận lời đề nghị của Guy.

という事で、俺はギィの申し出を承諾した。

Việc đầu tiên Ciel-san làm là nắm bắt trạng thái của Veruzard.

シエルさんが先ず行ったのは、ヴェルザードの状態を把握する事だ。

Thông tin được liệt kê một cách trôi chảy trong đầu tôi.

至極スムーズに、脳内に情報が羅列されていく。

Theo lời giải thích của Guy, Veruzard hiện tại đã ở trong tư thế sẵn sàng chấp nhận mọi thứ.

ギィの説明によると、今のヴェルザードは受け入れ態勢はバッチャリらしい。

Nói cách khác là có thể tùy ý tôi... à không, Ciel-san... xử lí.

俺の──シエルさんの──好きにしちゃって大丈夫とのこと。

Vậy thì, Ciel-san.

それじゃあ、シエルさん。

《Cứ để cho tôi!》

《お任せを!》

Ciel-san có vẻ rất vui.

シエルさんが嬉しそうだ。

Và ngay khoảnh khắc tiếp theo, Veruzard biến mất.

そして次の瞬間、ヴェルザードが消えた。

“...!?”

「──ッ!?」

“Tên khốn, Rimuru! Ngươi vừa làm cái quái gì vậy!?”

「テメエ、リムル! 今、何をしやがった!?」

“Ơ, ơ?”

「え、えっと?」

Cô đã làm gì vậy, Ciel-sensei...!?

何をしたんですか、シエル先生──ッ!?

《Tôi đã Săn mồi rồi nên xin ngài cứ yên tâm. Tôi sẽ hoàn thành『Phân Tích Giám Định』trong nháy mắt và bắt đầu công việc ngay ạ ♪》

《捕食しましたので、御安心を。一瞬で『解析鑑定』を終わらせて、作業に移ります♪》

Đúng vậy, là vậy đó...

そうね、そういう事ですね……。

Tôi nhận ra rằng mình không còn cách nào khác ngoài việc phó mặc cho cô ấy.

任せておくしかないなと、俺は悟った。

“Không sao đâu. Cứ tin ở tôi!”

「大丈夫だ。俺を信じてくれ!」

Tôi nói vậy với vẻ mặt cương quyết.

俺はキリッとそう言った。

...thế nhưng, Guy lại tỏ ra nghi ngờ.

──のだが、ギィは疑わしそうな表情だ。

Thấy vậy, Diablo tiến lại gần Guy với vẻ khó chịu.

すると、ディアブロが不快そうにギィに詰め寄る。

“Thật bất kính với ngài Rimuru đấy!”

「リムル様に対して不敬ですよ!」

“Ồn ào quá! Ta không giống ngươi, không có tôn sùng hắn đến mức đó đâu!!”

「うるせえよ! オレはテメエと違って、そこまでソイツに傾倒してねーんだよ!!」

“Thật đáng buồn. Chính vì vậy mà những kẻ ngu dốt thiếu hiểu biết mới không thể được cứu rỗi...”

「なんと嘆かわしい。これだから、無知蒙昧なる者は救いようが──」

“Câm miệng!”

「黙れ!」

“Đúng vậy đó, Diablo. Ngươi đừng có nói những lời thừa thãi nữa.”

「そうだぞ、ディアブロ。お前はもう、余計な事を言うのはヤメロ」

Việc hắn hỗ trợ tôi thì tôi rất vui, nhưng trường hợp của Diablo thì lại quá đà. Để không làm Guy bực mình thêm nữa, tôi vội vàng xen vào giữa.

俺の援護をしてくれる分には嬉しいのだが、ディアブロの場合はやり過ぎだ。これ以上ギィの機嫌を損ねないようにと、俺は慌てて間に入った。

Để Guy yên tâm, tôi quyết định hình ảnh hóa quá trình làm việc.

ギィを安心させるべく、作業状況を視覚化してもらう事にする。

Theo lệnh của tôi, Ciel-san tạo ra một quả cầu nước lớn giữa không trung. Đó là một lớp màng mỏng làm từ tế bào slime của tôi, và bên trong là Veruzard đang cuộn tròn như một bào thai.

俺の命令に従って、シエルさんが中空に大きな水玉を出現させた。俺のスライム細胞を薄い膜にしたもので、その中には胎児のように丸まったヴェルザードがいた。

“Hô...”

「ほう……」

“Tuyệt vời!”

「素晴らしい!」

Guy và Diablo ngừng tranh cãi, say sưa nhìn cảnh tượng đó.

ギィとディアブロが言い争いを止めて、その光景に魅入っている。

Họ đã im lặng thì tốt rồi, nhưng tôi tự hỏi tại sao mình lại phải xen vào giữa.

大人しくなったのは何よりなのだが、どうして俺が間に入らなければならないのか疑問であった。

Trong lúc tôi đang bận rộn với những chuyện như vậy...

そんなこんなでバタバタしている内に──

《...Đã hoàn thành『Cải Biến Kĩ Năng (Alteration)』một cách an toàn. Kĩ năng Tối thượng『Nhẫn Nại Vương (Gabriel)』và『Tật Đố Vương (Leviathan)』đã được hợp nhất, tiến hóa thành Kĩ năng Tối thượng『Băng Thần Vương (Cthulhu)』》

《──無事に『能力改変(オルタレーション)』が完了しました。究極能力(アルティメットスキル)『忍耐之王(ガブリエル)』と『嫉妬之王(レヴィアタン)』を統合し、究極能力(アルティメットスキル)『氷神之王(クトゥルフ)』へと進化させました》

Một báo cáo như vậy được Ciel-san gửi đến.

という報告が、シエルさんから届けられたのだ。

Hả, xong rồi sao? Tôi vừa nghĩ vậy thì Ciel-san vui vẻ báo cáo thêm.

え、もう? と思ったら、シエルさんが嬉しそうに追加で報告してくれた。

《Tất nhiên, thông tin đã được thu thập đầy đủ cả rồi ạ ♪》

《当然、情報は完全収集済みです♪》

Chắc chắn rồi... tôi vừa gật đầu vừa nhìn xa xăm.

そうでしょうね──と、俺は遠い目になりながら頷いたのだった。

Veruzard kinh ngạc.

ヴェルザードは驚愕した。

Cảm giác như được bao bọc một cách dịu dàng đã mang lại cho cô một cảm giác an tâm lần đầu tiên trong đời.

優しく包み込まれるような感覚が、生まれて初めての安堵感を与えてくれたのだ。

Veruzard nhận thức được rằng đó là ảnh hưởng từ việc bị Rimuru『Săn mồi』.

それがリムルに『捕食』された影響なのだと、ヴェルザードは自覚している。

Nhưng, không có chút lo lắng nào.

けれど、不安はない。

Veruzard bình tâm lại và đối mặt với nội tâm của mình.

ヴェルザードは心を落ち着かせて、己の内面と向き合った。

Cô cho Kĩ năng Tối thượng『Nhẫn Nại Vương (Gabriel)』mà anh trai đã ban tặng và quyền năng là Kĩ năng Tối thượng『Tật Đố Vương (Leviathan)』, thứ được cụ thể hóa từ chính nguyện vọng của cô, tương tác với nhau.

兄から授けられた究極能力(アルティメットスキル)『忍耐之王(ガブリエル)』と、自身の願望が具現化した権能である究極能力(アルティメットスキル)『嫉妬之王(レヴィアタン)』を相互に作用させていく。

Việc tìm kiếm hiệu ứng cộng hưởng của các quyền năng như thế này, hoặc ngược lại, triệt tiêu chúng để loại bỏ ảnh hưởng lên bản thân, đến mức đó thì vẫn còn đơn giản.

こうして権能の相乗効果を求めたり、その逆に相殺して自身への影響を失くしたり、そこまでなら簡単だった。

Thế nhưng, việc tiến hóa quyền năng như Guy mong muốn, nghĩ thế nào cũng không thể thực hiện được.

けれど、ギィの求めるような権能の進化など、どう考えても実現不可能だ。

(Vốn dĩ, việc can thiệp vào quyền năng mà anh trai đã tạo ra để dẫn đến một định luật hoàn hảo là một ý tưởng có thể làm rung chuyển cả nền tảng của thế giới cốt lõi này. Mình không nghĩ nó sẽ thành công...)

(そもそも、兄が完璧なる法則を導くべく創り出した権能を弄るなんて、この基軸世界の根幹すら揺るがすような発想だものね。成功するとは思えない……)

Đó là suy nghĩ thật lòng của Veruzard.

というのが、ヴェルザードの本音なのだ。

Dù vậy, vì muốn đáp lại kỳ vọng của Guy, Veruzard quyết định thử cố gắng hết sức mình.

それでもギィの期待に応えたくて、ヴェルザードなりに最大限の努力を試してみる事にする。

Theo sự thay đổi trong ý thức của Veruzard, các Kĩ năng Tối thượng được khắc ghi trên “linh hồn” của cô bắt đầu tranh giành quyền kiểm soát lẫn nhau.

ヴェルザードの意識の変化を受けて、彼女の〝魂〟に刻まれた究極能力(アルティメットスキル)が互いに互いを支配下に置こうと争いを開始した。

Theo lệnh của Veruzard, Kĩ năng Tối thượng『Tật Đố Vương (Leviathan)』lao vào cắn nuốt『Nhẫn Nại Vương (Gabriel)』. Tuy nhiên,『Nhẫn Nại Vương (Gabriel)』quả nhiên rất kiên cố, ngoan cố không hề có dấu hiệu thay đổi.

ヴェルザードが命ずるままに、究極能力(アルティメットスキル)『嫉妬之王(レヴィアタン)』が『忍耐之王(ガブリエル)』へと喰らいつく。しかし、『忍耐之王(ガブリエル)』は流石の堅牢さで、頑ななまでに変化の兆しすら見せなかった。

(Quả nhiên, là không thể...)

(やはり、不可能なのよ──)

Cuộc chiến trong thế giới tinh thần của Veruzard đã đi vào bế tắc. Tưởng chừng như sẽ rơi vào trạng thái giằng co thì...

ヴェルザードの精神世界での戦いは、手詰まりだった。そのまま膠着状態へと陥るかに見えたのだが──

《Giao phó mọi thứ cho ta là một quyết định sáng suốt. Từ bây giờ ta sẽ bắt đầu can thiệp vào quyền năng, không có vấn đề gì chứ?》

《私に全てを委ねるとは、賢明な判断です。これより権能への干渉を開始しますが、問題ありませんね?》

Một giọng nói bí ẩn vang vọng trong tâm hạch (kokoro) của Veruzard.

という謎の声が、ヴェルザードの心核(ココロ)に響いたのだ。

‘...!?’

『──ッ!?』

Cô định phản ứng lại nhưng không thể thốt nên lời.

思わず反応しかけてしまったが、声にはならなかった。

Bởi vì tình huống quá phi thực tế, khiến cô chậm trễ trong việc nắm bắt tình hình.

余りにも非現実的で、状況把握に出遅れてしまったからだ。

(Đây là sự giúp đỡ của Rimuru mà Guy đã nói sao? Nhưng mà, hình ảnh khác xa quá...)

(これが、ギィが言っていたリムルの手助け? それにしては、イメージが違い過ぎるけれど……)

Nó rất giống với “Giọng nói Thế giới” do Verudanava thiết lập.

それは、ヴェルダナーヴァが定めた〝世界の言葉〟と酷似していた。

Tuy nhiên, bản năng cho cô biết nó hoàn toàn khác biệt.

しかし、全くの別物だと本能で悟る。

Sau khi bình tĩnh xem xét, Veruzard cũng đoán ra được danh tính của “giọng nói” đó. Cô nhận ra rằng đó có lẽ là một Lõi Thần Trí (Manas), tương tự như Twilight đã từng kí sinh trên cô.

落ち着いて検討してみると、ヴェルザードもその〝声〟の正体に察しがついた。ヴェルザードに寄生していたトワイライトと同様、神智核(マナス)であろうと思い当たったのだ。

Tuy nhiên, khó có thể khẳng định đó có phải là Rimuru hay không.

ただし、それがリムルなのかどうかとなると断言は難しい。

Dù sao thì, để có thể nói chuyện trực tiếp với Veruzard, ngay cả Guy cũng phải rất vất vả. Một tồn tại có thể làm điều đó một cách dễ dàng chỉ có thể là một thể sống thông tin (Digital nature) như Twilight.

何しろ、ヴェルザードに直接語り掛けるには、ギィでさえも苦戦したのだ。それを難なく行える存在となると、トワイライトのような情報生命体(デジタルネイチャー)でしか有り得なかった。

(Khoan đã, Rimuru đã trở thành Lõi Thần Trí (Manas) sao? Nhưng có gì đó không đúng...)

(えっと、リムルが神智核(マナス)化しているってこと? それにしては違和感が……)

Nếu tin lời Guy, thì đáng lẽ Rimuru sẽ hợp tác. Chính vì vậy, người tiếp xúc vào thời điểm này không thể là ai khác ngoài Rimuru, nhưng...

ギィの言葉を信じるならば、リムルが協力してくれる手筈となっているはずだ。だからこそ、このタイミングで接触してきたのはリムル以外に考えられないのだが……。

Rimuru là một con slime đáng ngờ, nhưng chắc chắn không phải là Lõi Thần Trí (Manas). Hay là, cậu ta đã đạt đến một tồn tại tương đương với nó?

リムルは怪しげなスライムではあるが、神智核(マナス)ではないはず。もしくは、それに準じる存在へと至っているのだろうか?

Veruzard không thể phán đoán được.

ヴェルザードには判断出来なかった。

Chính vì vậy, cô đã hỏi.

だからこそ、質問した。

『Ngươi là Rimuru sao?』

『貴方、リムルなの?』

《Hừ, cứ tự mình tưởng tượng đi. Quan trọng hơn là! Ta yêu cầu ngươi trả lời ngay lập tức.》

《フッ、想像にお任せします。それよりも! 早急に返答を要求します》

Kẻ đó có vẻ rất kiêu ngạo, và dường như không có ý định trả lời câu hỏi của Veruzard.

その何者かはとても偉そうで、ヴェルザードの質問に答える気などなさそうだった。

Nếu là kẻ thù thì cô sẽ đối phó, nhưng có vẻ như đó là đồng minh. Vì một lí do nào đó, cô cảm thấy bình yên, nên Veruzard quyết định tin vào chủ nhân của “giọng nói” đó.

敵性存在であれば対応するのだが、どうやら味方ではある様子。何故か穏やかな気分になれるので、ヴェルザードはその〝声〟の主を信じる事にしたのである。

『Được thôi, ta giao phó cho ngươi.』

『いいわ、任せます』

Liệu quyết định đó sẽ mang lại may mắn hay tai họa.

その判断が吉と出るのか、それとも凶と出るのか。

Kết quả đã được tiết lộ ngay sau đó.

その結果は、直ぐに判明した。

《Xác nhận sự đồng ý của đối tượng... Bắt đầu thực hiện『Cải Biến Kĩ Năng (Alteration)』.》

《対象の応諾を確認──これより『能力改変(オルタレーション)』を実行します》

Một “giọng nói” vui vẻ vang lên, và ngay sau đó, một sự thay đổi kịch tính đã xảy ra với Veruzard.

という嬉々とした〝声〟が響き、その直後、ヴェルザードに劇的な変化が生じたのである。

《Hợp nhất Kĩ năng Tối thượng『Nhẫn Nại Vương (Gabriel)』và『Tật Đố Vương (Leviathan)』để tạo ra một quyền năng mới.》

《究極能力(アルティメットスキル)『忍耐之王(ガブリエル)』と『嫉妬之王(レヴィアタン)』を統合させて、新たな権能を創出します》

Hả? Cô không có thời gian để hỏi lại.

え? と、問い返す暇もない。

Một hiện tượng không thể hiểu nổi đã can thiệp vào “linh hồn” của Veruzard và bắt đầu thay đổi quyền năng chắc chắn đã tồn tại ở đó.

理解不能な現象がヴェルザードの〝魂〟に干渉して、そこに確かにあった権能を弄り始めたのである。

Tốc độ đó không thể hiểu được, thậm chí không thể nhận thức được, và những chuỗi thông tin trôi qua với tốc độ thần sầu có thể sánh ngang với những con số thiên văn.

その速度は理解どころか認識すらも不可能で、神速で流れ去った情報の羅列は天文学的数字に匹敵する。

Veruzard sững sờ.

ヴェルザードは唖然となった。

Rốt cuộc đã có chuyện gì xảy ra... trong lúc cô đang nghĩ vậy, công việc đã hoàn thành.

一体何が──と思っている内に、その作業は完了したのである。

《...Đã hoàn thành『Cải Biến Kĩ Năng (Alteration)』một cách an toàn. Kĩ năng Tối thượng『Nhẫn Nại Vương (Gabriel)』và『Tật Đố Vương (Leviathan)』đã được hợp nhất, tiến hóa thành Kĩ năng Tối thượng『Băng Thần Vương (Cthulhu)』》

《──無事に『能力改変(オルタレーション)』が完了しました。究極能力(アルティメットスキル)『忍耐之王(ガブリエル)』と『嫉妬之王(レヴィアタン)』を統合し、究極能力(アルティメットスキル)『氷神之王(クトゥルフ)』へと進化させました》

Sau khi được thông báo, Veruzard tập trung ý thức vào quyền năng của mình.

と告げられて、ヴェルザードは自分の権能に意識を向けた。

Nó đã hoàn toàn khác biệt.

それはもう、全くの別物だった。

Không có cảm giác khó chịu hay kháng cự, và không có một chút chậm trễ nào.

違和感も抵抗感もなく、一瞬の遅延もない。

Cô có thể nắm bắt tất cả các quyền năng một cách hoàn hảo theo ý muốn.

完璧に意のままに、全ての権能を把握出来るのだ。

Kĩ năng Tối thượng『Băng Thần Vương (Cthulhu)』... đó là một hiệu suất được cường hóa vượt trội so với trước đây, nơi mà khả năng cố hữu và quyền năng của Veruzard đã được tối ưu hóa và tương thích một cách tự nhiên đến mức không thể nào hơn được nữa.

究極能力(アルティメットスキル)『氷神之王(クトゥルフ)』──それはまさに、ヴェルザードの固有能力と権能の相性が、これ以上にないほど最適化されて自然な形で適合された、今までとは比較にならないほど超強化された性能となっていた。

『Với sức mạnh này, có lẽ mình đã có thể thắng được Guy...』

『この力があれば、ギィに勝てたかも……』

Veruzard đã bất giác lẩm bẩm như vậy.

と、ヴェルザードが思わず呟いてしまったほどである。

(Mà, chắc là không được đâu nhỉ.)

(まあ、無理だったでしょうけど)

Dù ngay lập tức nghĩ lại, nhưng Kĩ năng Tối thượng『Băng Thần Vương (Cthulhu)』có hiệu suất đủ để cô nghĩ như vậy.

直ぐに思い直したものの、究極能力(アルティメットスキル)『氷神之王(クトゥルフ)』はそう思えるだけの性能であった。

Các quyền năng đối lập cùng tồn tại một cách hài hòa.

相反する権能が、無理なく同居している。

Hiệu suất năng lượng đã được cải thiện, không còn lãng phí, và lượng ma tố (năng lượng) vốn đã khổng lồ của Veruzard giờ đây có thể thao túng các hiện tượng mà gần như không bị tiêu hao.

エネルギー効率など無駄がなくなり、ただでさえ巨大だったヴェルザードの魔素(エネルギー)量が、ほぼ消費される事なく事象を操れるようになっていた。

Veruzard và quyền năng đã hợp nhất một cách đẹp đẽ và hoàn hảo.

見事なまでに美しく、ヴェルザードと権能が一体化していたのである。

(Verugrynd-chan cũng đã đạt đến cảnh giới này sao!? Mà lại còn nhờ bàn tay của Ma vương Rimuru...?)

(ヴェルグリンドちゃんも、この境地に到達したというの!? それも、魔王リムルの手によって……?)

Thật là vô lí... Veruzard nghĩ vậy.

でたらめでしょ──と、ヴェルザードは思った。

Liệu ngay cả anh trai Verudanava của cô có thể làm được điều tương tự không...

果たして、兄たるヴェルダナーヴァでさえも、このような真似が可能なのかどうか……。

(Rốt cuộc, Ma vương Rimuru là ai...?)

(魔王リムルって、一体何者なの……?)

Dù đang chìm trong nội tâm, Veruzard vẫn nắm bắt được tình hình bên ngoài. Chính vì vậy cô mới biết rằng, ngay cả cô, một “Long chủng” mạnh nhất, cũng không thể nào sánh được với Rimuru.

心の内面に閉じこもっているヴェルザードも、外界の様子を把握していた。それ故に判明しているのだが、最強の〝竜種〟である彼女でさえも、リムルにはまるで歯が立たないのであろう。

Đó là sự chênh lệch áp đảo không thể nào đo đếm được.

そこにあるのは、数値化出来ないほどの圧倒的格差であった。

Cơ thể đó đã tương thích với “nhân tố rồng”, và giờ đây đã ngang hàng với “Long chủng”. Không những thế, lượng ma tố (năng lượng) áp đảo đó còn dễ dàng vượt qua cả Veruzard.

その身体は〝竜の因子〟に適合しており、今や〝竜種〟と同等だ。それどころか、その圧倒的なまでの魔素(エネルギー)量は、ヴェルザードすらも軽く凌駕している。

Một kẻ nuốt chửng tất cả và đứng đó một cách bình thản.

全てを呑み込み、平然と佇む者。

Rimuru là một tồn tại như vậy.

リムルとは、そんな存在だった。

Nghe nói không chỉ Verudora mà cả Verugrynd cũng đã được Rimuru cứu giúp.

聞けば、ヴェルドラだけでなくヴェルグリンドまでも、リムルの手によって救われたのだという。

Liệu có thể tồn tại một người như vậy không?

そんな者が有り得るのか?

Không, chắc chắn là có. Vì nó tồn tại trong thực tế, nên không thể nghi ngờ.

いや、有り得るのだろう。現実に存在する以上、それは疑いようがない。

Nhưng mà...

だが、しかし──

Việc cậu ta chỉ là một ma vật độc nhất được sinh ra từ vũng ma tố rò rỉ của Verudora một cách tình cờ... nghĩ thế nào cũng thấy vô lí.

偶然(たまたま)ヴェルドラから洩れ出る魔素溜まりから生まれ出た、ただのユニークモンスターだった──というのは、どう考えても無理がある。

Suy nghĩ của Veruzard quay trở lại câu hỏi ban đầu.

ヴェルザードの思考は、最初の疑問に戻った。

──Rốt cuộc, Rimuru là ai?──

──リムルとは、一体何者なのか──

Veruzard cảm thấy như mình đang được tái sinh.

ヴェルザードは、自身が生まれ変わるような感覚に包まれていた。

Hiệu suất được cải thiện rõ rệt, và cô có cảm giác như tổng lượng ma tố (năng lượng) của mình cũng đã tăng lên.

目に見えて効率化されていき、心なしか魔素(エネルギー)量の絶対量まで増えた気がする。

Dù vừa mới có một trận đại chiến với Guy, nhưng cô đang ở trong trạng thái tốt nhất.

ギィとの大立ち回りをしたばかりだというのに、絶好調というヤツだ。

Tất cả những thay đổi đó đều do Rimuru mang lại.

それらも全て、リムルによってもたらされた変化だった。

(Không thể tin được. Một tồn tại có thể làm được điều này... không, ngay cả anh trai cũng không thể...)

(信じられないわ。こんな真似が可能な存在なんて──いいえ、兄にだって不可能──)

Cô vẫn còn bị trói buộc bởi lời nguyền của anh trai Verudanava.

彼女は未だに、兄たるヴェルダナーヴァの呪縛に縛られたままだ。

Verudanava đã lấy lại được sức mạnh.

ヴェルダナーヴァは、力を取り戻していた。

Và hắn đang âm mưu điều gì đó, thế giới đang tiến đến sự hủy diệt...

そして何かを画策し、世界は破滅に向かっている……。

Veruzard không có cách nào để chống cự.

ヴェルザードには、抗う術(すべ)などなかった。

...nhưng đó là câu chuyện của một lúc trước.

──しかしそれは、少し前までの話だ。

Bây giờ... trái tim cô đang bị cuốn vào một vòng xoáy suy nghĩ sâu sắc.

今──彼女の心は、深い思考の渦に囚われていた。

Biết đâu được, cô nghĩ.

もしかしたら、と。

Đúng vậy, biết đâu được...

そう、もしかしたら……。

Một tia hi vọng lóe lên trong lòng Veruzard.

ヴェルザードの心に、希望の明かりが灯る。

Cô đơn một mình, cô đã canh giữ sự thức tỉnh của anh trai tại “Thiên Tinh Cung”. Cô đã chứng kiến khoảnh khắc đó và tận mắt thấy sự biến đổi của Verudanava.

孤独にひとり、〝天(てん)星(せい)宮(きゅう)〟にて兄の目覚めを見守った。その瞬間に立ち会い、ヴェルダナーヴァの変貌を目の当たりにした。

Veruzard đã chạm vào sự tuyệt vọng đó, từ bỏ tất cả và cố gắng gửi gắm hi vọng vào một thế giới mới, nhưng...

その絶望に触れ、全てを諦めて、新世界へと希望を託そうとしたヴェルザードだったが──

(Biết đâu được, mình thực sự có thể ngăn chặn anh trai!)

(もしかすると、本当に兄を止められるかも知れないわ!)

Khi chứng kiến sức mạnh của Rimuru, cô đã nghĩ như vậy.

リムルの力を目にした事で、そう思えたのだ。

Quan niệm cố hữu rằng cô không thể chống lại anh trai và làm gì cũng vô ích... đã vỡ tan. Đó là một ý tưởng mà cô chưa từng tưởng tượng đến, nhưng cô đã nghĩ rằng mình có thể đánh bại anh trai.

兄には逆らえないし、何をやっても無駄だ──という固定観念が、砕けて消えた。今まで想像した事すらなかった発想だが、兄を倒せるかも知れないと思い至ったのだ。

Nỗi tuyệt vọng mà Veruzard ôm ấp đã vỡ tan thành từng mảnh dễ dàng hơn cả thủy tinh.

ヴェルザードが抱え込んでいた絶望が、ガラス細工よりも簡単に粉々に砕け散る。

Dù đã triệu hồi “Diệt Giới Long” Ivalage vào thế giới này, nhưng có vẻ vẫn còn cách giải quyết.

この世界に〝滅(めっ)界(かい)竜(りゅう)〟イヴァラージェを呼び込んでしまったが、まだ何とかなりそうだった。

Nếu cô và Guy hiện tại hợp tác, thì trên thế gian này không có kẻ thù nào cả.

今の自分とギィが協力したのなら、この世に敵など存在しないのだ。

Hơn nữa, còn có Rimuru.

まして、リムルもいる。

Vẫn còn quá sớm để từ bỏ thế giới này... Veruzard tự nhiên nghĩ vậy.

世界を諦めるにはまだ早い──と、ヴェルザードは自然とそう思えたのだった。

Trên gương mặt Guy đang dõi theo Veruzard, có thể thấy một chút lo lắng.

ヴェルザードを見守るギィの表情には、若干の焦りが見えた。

Dù là do chính mình đề xuất, nhưng hắn vẫn cảm thấy có chút bất an về việc để Rimuru thực hiện『Cải Biến Kĩ Năng (Alteration)』cho Veruzard.

自分で勧めた事だが、リムルにヴェルザードの『能力改変(オルタレーション)』を行わせてもよかったものかと、少なからず不安に思っていたのだ。

Hắn đã tin chắc rằng Rimuru có thể làm được.

リムルならば可能だろうと確信していた。

Căn cứ cho điều đó là sự tồn tại của những kẻ mạnh sống ở quốc gia của ma vật.

その根拠としては、魔物の国に住む強者達の存在がある。

Trong khoảng thời gian ngắn như một cái chớp mắt đối với Guy, họ đã trưởng thành đến mức Guy cũng phải công nhận.

ギィにとっては瞬きほどの時間で、ギィが認知するほどの成長を遂げていた。

Không, đó là sự tiến hóa.

いや、それは進化だ。

Họ đã có một bước nhảy vọt lớn, trở thành những tồn tại ở một chiều không gian khác với tư cách là một sinh vật.

生命体として別次元の存在へと、大きく飛躍していたのである。

Và điều đó, ngay cả “Long chủng” cũng không phải là ngoại lệ.

そしてそれは、〝竜種〟でさえも例外ではなかった。

Verudora đó đã tuân theo lời của Rimuru.

あのヴェルドラが、リムルの言葉には従っていた。

Ngay cả Verugrynd cao ngạo cũng đã thay đổi lớn về cách tồn tại của mình.

孤高のヴェルグリンドまでも、その在り様を大きく変化させていたのである。

Không biết đã có chuyện gì xảy ra, nhưng quyền năng của Verudora và Verugrynd đã được mài giũa một cách tinh xảo. Nguyên nhân có thể nghĩ đến chỉ có thể là sự tồn tại của Rimuru.

何があったのか知らないが、ヴェルドラやヴェルグリンドの権能は磨き抜かれたものとなっていた。その原因として考えられるのは、リムルの存在しか該当しなかった。

Và, bây giờ...

そして、今──

Điều đó đang được chứng minh ngay trước mắt.

目の前でそれが証明されていた。

Veruzard đang thay đổi một cách nhanh chóng.

ヴェルザードが急激に変化していく。

Không phải ngoại hình, mà là nội tâm.

外見ではなく、その内面が。

(...hay đúng hơn, cái quái gì đây? Cái này không còn ở cấp độ thay đổi kĩ năng nữa rồi!?)

(──っていうか、何なんだコレは? コレはもう、能力を改変するとかいうレベルじゃねーぞ!?)

Guy kinh ngạc.

ギィは驚愕していた。

Vốn dĩ, việc can thiệp vào kĩ năng là vô cùng khó khăn, và đó là một kì tích chỉ Guy mới có thể thực hiện được.

そもそも、能力(スキル)を弄るというのは非常に困難で、ギィだからこそ成し得る御業だったのだ。

………

………

……

……

Rất lâu về trước, khi chiến đấu với Verudanava.

遥か大昔、ヴェルダナーヴァと戦った時。

Guy đã chứng kiến sức mạnh đó.

ギィはその力を目撃した。

Thuật thao túng các định luật của thế giới, khác với ma pháp, nó được đơn giản hóa một cách đáng kinh ngạc.

世界の法則を操るその術は、魔法と違って実に簡素化されていた。

Vậy mà, hiệu quả lại vô cùng lớn.

それなのに、効果は絶大だったのだ。

Guy cũng có thể thao túng ma pháp và viết lại các định luật. Tuy nhiên, việc viết lại bằng kĩ năng lại phát huy hiệu quả ở một đẳng cấp khác với ma pháp.

ギィも魔法を操り、法則の書き換えを行う事が可能だ。しかし、スキルによる書き換えは、魔法とは次元の異なる効果を発揮させていた。

Trong trường hợp của ma pháp, việc tạo ra một hiện tượng đã là giới hạn. Bằng cách kết hợp nhiều hiện tượng đó, có thể tạo ra những hiệu quả phức tạp hơn.

魔法の場合は、一つの現象を起こすのが精一杯。それを多数組み合わせていく事で、複雑な効果を発揮させられるようになる。

Ngay cả một người có thể thao túng ma pháp theo ý muốn như Guy cũng phải tuân thủ trình tự đó.

ギィのように意のままに魔法を操れる者でも、そうした手順を守らねばならなかった。

Thế nhưng.

ところが、だ。

Kĩ năng... quyền năng của Verudanava, có thể thực hiện việc viết lại các hiện tượng đó một cách đồng thời. Nếu thiết lập ban đầu như vậy, nó có thể phát huy hiệu quả vượt xa ma pháp mà không cần ý thức sâu sắc.

スキル──ヴェルダナーヴァの権能は、そうした事象の書き換えを、複数同時に可能としたのである。最初にそう設定しておけば、深く意識せずとも魔法以上の効果を発揮出来たのだ。

Chính vì vậy, cơ chế của nó rất khó hiểu.

だからこそ、その仕組みは難解だった。

Chỉ có Guy mới có thể hiểu và tái tạo lại nó.

ギィだからこそ、それを理解して再現させる事が可能だったのである。

Thứ đầu tiên hắn có được là Kĩ năng Độc nhất『Ngạo Mạn Giả (Pride)』. Không phải do Verudanava ban tặng, mà là quyền năng do chính tay hắn tạo ra.

最初に手にしたのが、ユニークスキル『傲慢者(プライド)』だ。ヴェルダナーヴァに譲られたのではなく、自らの手で生み出した権能だった。

Làm được điều đó là vì Guy sở hữu một khả năng tính toán phi thường. Dù vậy, việc mô phỏng những gì đã thấy một lần cũng là giới hạn...

そんな真似が出来たのも、ギィが異常なまでの演算能力を有していたからである。それでも、一度目にしたものを模倣するのが限界で……。

Guy đã nâng cao trình độ của mình, có thể hiểu được bất kì quyền năng nào chỉ bằng một cái nhìn. Thông qua cuộc chiến với Veruzard, hắn đã trở nên thông thạo hơn về quyền năng, và đã thành công trong việc tiến hóa nó thành Kĩ năng Tối thượng『Ngạo Mạn Vương (Lucifer)』.

ギィは自身の練度を高めて、どんな権能であろうと一目見て理解出来るようになった。ヴェルザードとの戦いを通して権能により精通し、究極能力(アルティメットスキル)『傲慢之王(ルシファー)』へと進化させる事にも成功した。

Nhưng đó là giới hạn.

しかし、それが限界だった。

Mô phỏng và tái tạo... nói trắng ra, đó là tất cả những gì Guy được phép làm.

模倣して、再現する──言ってしまえばそれだけが、ギィに許された全てだったのだ。

Tuy nhiên, với khả năng chiến đấu của Guy, chỉ cần như vậy thôi cũng đã đủ để trở thành kẻ mạnh nhất...

とはいえ、ギィの戦闘センスをもってすれば、それだけでも十分に最強たり得るのだが……。

Việc xây dựng một quyền năng can thiệp vào các hiện tượng của thế giới từ con số không là điều không thể nếu không phải là một kì tích của thần.

世界の事象に干渉する権能をゼロから構築するなど、神の御業でなければ不可能だったのである。

………

………

……

……

Vừa tìm hiểu sâu về hiện tượng đang diễn ra trước mắt, Guy trôi dạt trong biển suy nghĩ.

目の前で起きている現象を深く探りながら、ギィは思考の海に漂流する。

Guy có thể phân giải và tái cấu trúc quyền năng mà hắn đã thấy, tùy chỉnh nó để dễ sử dụng hơn cho riêng mình. Hắn cũng có thể kích hoạt nhiều quyền năng khác loại cùng một lúc, nhưng đó chỉ là khi giới hạn sử dụng (tài nguyên) của kĩ năng còn lỏng lẻo.

ギィならば、目にした権能を分解して再構築し、それを扱いやすく自分専用にカスタマイズ出来る。別種の権能を複数同時に発動させたりも可能だが、それは飽く迄もスキルの利用制限(リソース)が緩い場合の話だった。

Việc Guy dường như có thể sử dụng vô số quyền năng là do hắn đã kích hoạt chúng liên tiếp với kĩ thuật siêu việt và chuyển đổi chúng không một chút chậm trễ. Ngay cả Guy cũng không thể kích hoạt đồng thời nhiều Kĩ năng Tối thượng cấp cao nhất.

ギィが数多(あまた)の権能を扱っているように見えるのは、卓絶した技巧で次々に発動させて、それを時間差なく切り替えているからだ。最上位の究極能力(アルティメットスキル)を同時起動など、ギィであっても不可能なのである。

Tuy nhiên, những gì Rimuru đang làm không ở cấp độ đó.

ところが、リムルが行っているのは、そんなレベルの話ではない。

Hắn đã tái cấu trúc... không, tái sinh hai Kĩ năng Tối thượng có bản chất khác nhau thành một quyền năng duy nhất.

性質の異なる二つの究極能力(アルティメットスキル)を、一つの権能として再構築──否、新生させていた。

Đó chính xác là một kì tích của thần.

それはまさに、神の御業そのものだ。

(Không... không phải. Hắn đã tiến hóa một quyền năng mà Verudanava đã định là hoàn hảo thành một thứ có hiệu suất cao hơn sao? Làm gì có chuyện nực cười như vậy chứ!!)

(いいや──違うな。ヴェルダナーヴァが完璧だと定めた権能を、より高性能に進化させやがったのか? そんなバカな話があってたまるかよ!!)

Tuy nhiên, sự thay đổi của Veruzard là thực tế.

しかし、ヴェルザードの変化は現実だった。

Guy chỉ còn biết sững sờ, gần như muốn trốn tránh thực tại.

オイオイと、現実逃避気味に呆れるしかないギィである。

Trong lúc đó, Rimuru đã có sự thay đổi.

そうこうしている内に、リムルに変化が生じた。

Từ trạng thái slime trở lại hình người, đồng thời lớp màng mỏng bao bọc Veruzard cũng tan biến.

スライム状態から人の姿へと戻ると同時に、ヴェルザードを包み込んでいた薄い膜が消え去ったのだ。

Và ngay sau đó, Rimuru đã đỡ lấy Veruzard.

そしてその直後、リムルがヴェルザードを受け止めていた。

Veruzard được Rimuru ôm trong tay, khẽ mở mắt.

リムルに抱きかかえられたヴェルザードが、薄っすらと目を開ける。

Thời gian đã hết, nhưng câu trả lời vẫn chưa có.

時間切れだが、答えは出なかった。

Rốt cuộc Rimuru đã làm gì?

リムルは一体何をしたのか?

Tại sao cậu ta lại có thể làm được điều đó?

どうしてこんな真似が可能なのか?

Vốn dĩ...

そもそも──

Đến nước này thì chỉ còn cách chất vấn trực tiếp Rimuru. Đi đến kết luận đó, Guy từ từ mở miệng.

こうなったらもう、リムル本人を問い詰めるしかない。そういう結論に至り、ギィはゆっくりと口を開いた。

Dù bị Guy ép buộc một cách vô lí, nhưng tôi đã vượt qua được.

ギィに無茶ぶりされたが、何とか乗り切れた。

Tất cả là nhờ có Ciel-san.

これも全て、シエルさんがいてくれたお陰である。

Tôi từ từ buông tay khỏi Veruzard.

俺はゆっくりと、ヴェルザードから手を離した。

Cô ấy đã tỉnh dậy và lơ lửng giữa không trung một cách rất bình thản.

目覚めた彼女は、実に平然と宙に浮かぶ。

Đến đây thì tôi đã có thể yên tâm.

これでもう、一安心だった。

Tôi vừa nghĩ vậy thì bắt gặp ánh mắt của Guy đang mỉm cười.

と思ったら、笑顔のギィと目が合った。

“Rimuru-kun.”

「リムル君」

“...”

「……」

Tôi có một linh cảm rất xấu.

実に嫌な予感がするよね。

“Cậu này, vừa rồi cậu đã làm gì và làm như thế nào vậy?”

「君さあ、今、何をどうやったのかな?」

Có hỏi tôi câu đó thì tôi cũng không thể trả lời được.

そんな事、俺に聞かれても答えられる訳がない。

Giống như là gian lận trong bài kiểm tra vậy, người thực hiện công việc là Ciel-san mà.

テストでカンニングしたようなもので、実務を担当したのはシエルさんだからね。

“Đó là bí mật kinh doanh...”

「企業秘密っていうか──」

“Ta không cho phép ngươi bào chữa như vậy đâu.”

「そんな言い逃れは許さねーぜ」

Tôi chùn bước, nhưng nếu gục ngã ở đây thì sẽ thua.

うぐっと怯むが、ここで折れたら負けだ。

Tôi đưa mắt tìm kiếm sự giúp đỡ thì lại bắt gặp ánh mắt của Veruzard.

救いを求めて視線を巡らせたら、今度はヴェルザードと視線が合った。

“Ngươi, rốt cuộc là ai?”

「貴方、一体何者なの?」

“Ơ?”

「えっと?」

Một câu hỏi thẳng thắn, nhưng tôi không hiểu rõ ý đồ.

ド直球な質問だが、ちょっと意図がわからない。

Tôi là tôi mà.

俺は、俺だもんな。

“Đừng có giả ngây, tên khốn! Rõ ràng là ngươi bất thường!!”

「惚(とぼ)けるなよ、テメエ! どう考えても異常なんだよ!!」

“Đúng vậy. Vì là bạn của Verudora-chan nên ta đã im lặng, nhưng ta đã thấy ngươi đáng ngờ ngay từ đầu rồi!”

「そうよ。ヴェルドラちゃんの友達だから黙ってたけど、最初から怪しいと思っていたわ!」

Này này, bây giờ mới nói thì có muộn quá không!?

おいおい、今更でしょうが!?

Guy và Veruzard ăn ý như một cặp vợ chồng, truy hỏi tôi là ai.

ギィとヴェルザードは、夫婦(めおと)かってくらい息ピッタリに、俺が何者なのかと追及してきた。

Hơn nữa, việc nói là đáng ngờ ngay từ đầu, nói sau khi mọi chuyện đã rồi như vậy khiến tôi thật sự bối rối.

しかも、最初から怪しかったとか、後出しジャンケン過ぎて困ったものである。

“Thật bất kính!”

「不敬ですよ!」

Diablo đã xen vào giúp tôi.

と、ディアブロが割って入ってくれた。

Bình thường thì hắn ta làm quá đến mức phiền phức, nhưng chỉ lần này thôi, tôi xin cảm ơn.

いつもは過剰演出過ぎてウザいまであるが、今だけは感謝しておく。

Guy tranh cãi với Diablo.

ディアブロと言い争うギィ。

Veruzard cũng tham gia vào.

それに加わるヴェルザード。

Chỉ một bước nữa là thành cãi nhau, nhưng tôi mong họ hãy xem xét thời gian và địa điểm hơn một chút.

喧嘩になる一歩手前だが、もう少し時と場合を考えて欲しい。

Đến nước này, chỉ có người lớn như tôi mới có thể giải quyết được thôi.

ここはもう、大人である俺が何とかするしかあるまいよ。

“Thôi nào, các vị. Bây giờ không phải là lúc đồng đội cãi nhau đâu? Chúng ta hãy nhanh chóng đến Damargania và giải quyết tên Ivalage đó đi!”

「まあまあ、君達。今は仲間同士でいがみ合っている場合じゃないだろ? さっさとダマルガニアに行って、イヴァラージェとやらを何とかしようじゃないか!」

Và rồi trở lại cuộc sống thường ngày, tận hưởng một cuộc sống tao nhã.

そして日常に戻り,優雅な生活を送るのだ。

Chỉ cần giải quyết xong vụ này, cuộc sống chậm rãi trong mơ đang chờ đợi tôi. Chắc chắn là vậy.

今回の件さえ片付けば、夢のスローライフが待っている。ハズ。

Cố lên nào.

頑張ろう。

Tôi là một người đàn ông có thể nỗ lực không ngừng nghỉ để được lười biếng và thoải mái.

俺は自分が楽してサボる為なら、どこまでも努力出来る男なのである。

Vừa suy nghĩ như vậy, tôi vừa kích hoạt ma pháp giám sát “Thần Nhãn (Argos)”.

そんなふうな事を考えながら、俺は監視魔法〝神之瞳(アルゴス)〟を発動させた。

Tôi định điều tra tình hình tại đó để có cơ sở phán đoán xem nên hỗ trợ như thế nào.

現地の様子を調べて、どう加勢すべきか判断材料にしようと考えたのである。

Chiến trường dường như đang ở thế giằng co, nhưng có rất nhiều dấu hiệu bất ổn.

戦場は膠着状態のようだが、色々と不穏な気配が満ちている。

“Nhanh lên nào! Nếu không nhanh chóng viện trợ thì Luminous và những người khác sẽ gặp nguy hiểm đó!”

「ほらほら! さっさと加勢しないと、ルミナス達が大変そうだぞ!」

Tôi nói vậy và định di chuyển ngay lập tức, nhưng Guy và Veruzard lại lườm tôi một cái sắc lẹm.

俺はそう言って、早速移動しようと思ったのだが、ギィとヴェルザードからジトッと睨まれた。

“...Đúng là một tên vô tư.”

「……能天気な野郎だぜ」

“Ngược lại, lại thấy đáng tin cậy mới ghê chứ.”

「逆に、頼もしく思えるから凄いわね」

Có vẻ không phải là lời khen, nhưng tôi nghĩ dòng chảy câu chuyện đã thay đổi theo hướng tích cực.

褒められてはなさそうだが、前向きな方向に流れが変わったと思う。

Hay đúng hơn, chỉ có mình tôi lo lắng cho Luminous và những người khác thôi sao?

というか、ルミナス達を心配しているのは俺だけなの?

Trong khi tôi đang sốt ruột nhìn cảnh tượng được chiếu ra, Guy đã ngăn tôi lại.

映し出された光景を見て焦る俺に、ギィが待ったをかけたのだ。

“Đừng vội. Đến nơi đó rồi ai sẽ làm gì, chúng ta hãy quyết định trước đã.”

「慌てんなよ。行った先で誰がどう動くのか、それを決めておこうじゃねーか」

Veruzard cũng đồng ý với điều này.

これに、ヴェルザードも同意する。

“Chắc ngươi cũng biết rồi, anh trai của ta... Verudanava đã hồi sinh. Ta nghĩ chúng ta sẽ phải đối đầu với hắn, nhưng ngươi có kế hoạch để chiến thắng chứ?”

「貴方も知っていると思うけど、私の兄──ヴェルダナーヴァが復活しているのよ。敵対する事になると思うけど、勝てる算段はあるのでしょうね?」

Không chỉ Ivalage, mà còn bị hỏi xem sẽ làm gì với Verudanava.

イヴァラージェだけならともかく、ヴェルダナーヴァをどうする気なのかと問われてしまった。

Một yêu cầu vô lí đột ngột khiến đầu tôi đông cứng lại.

いきなりの無茶ぶりで、頭がフリーズする。

Việc Verudanava hồi sinh thì tôi đã nghe rồi.

ヴェルダナーヴァの復活は聞いていた。

Nhưng mà... không không, chờ một chút đã.

けど……いやいや、ちょっと待って欲しい。

“À thì... đó là vấn đề mà mọi người nên cùng nhau suy nghĩ chứ?”

「えっと……それは皆で悩むべき案件だよね?」

Thật sự, điểm này rất quan trọng.

本当に、この点が重要だ。

Đừng có đổ hết mọi việc lên đầu tôi.

何でもかんでも、俺に押し付けないでほしいのである。

“Ngươi không nghe chuyện sao?”

「話を聞いてなかったのかよ?」

“Tôi có nghe, nhưng tôi nghĩ đó không phải là vấn đề mà một mình tôi có thể giải quyết được!!”

「聞いてたけど、俺だけで何とかする問題じゃないと思ってたよ!!」

Khi tôi đáp lại như vậy, Guy tặc lưỡi một cái.

俺がそう言い返すと、ギィは「チッ」と舌打ちした。

Không không, tôi không có lỗi đâu nhỉ.

いやいや、俺は悪くないでしょうよ。

Để lôi kéo mọi người vào cuộc thì việc chia sẻ thông tin là rất quan trọng, nên ở đây tôi phải yêu cầu một lời giải thích rõ ràng.

皆を巻き込む為にも情報共有は大事なので、ここはきちんと説明を求めねばなるまい。

“Vậy thì, để ta giải thích nhé.”

「それじゃあ、説明するわね」

Nói rồi, Veruzard bắt đầu giải thích.

そう言ってから、ヴェルザードが説明してくれた。

Theo lời cô ấy.

曰く。

Gần đây, Verudanava đang ngủ say đã thức tỉnh.

最近になって、眠っていたヴェルダナーヴァが目覚めたのだと。

Verudanava, là người đó đúng không?

ヴェルダナーヴァって、アレでしょ?

Là anh cả của ba chị em “Long chủng” gồm Verudora, và là một tồn tại giống như đấng sáng tạo của thế giới này, đúng không?

ヴェルドラとか〝竜種〟姉弟の長男で、この世界の創造主みたいな存在でしょ?

Và là cha của Millim.

そして、ミリムの父親。

Hồi xưa đã bị con người tiêu diệt, và không có dấu hiệu hồi sinh, đúng không nhỉ?

遥か昔に人間によって滅ぼされたけど、復活の兆しが見えなかったって話だったハズ。

Feldway và những người khác đã cố gắng hết sức để hồi sinh hắn ta.

フェルドウェイとか、必死になって復活させようとしてたよね。

Vậy mà, hắn đã hồi sinh từ lâu và đang nghỉ ngơi để lấy lại sức mạnh.

それなのに、復活はとうの昔にしていて、力を取り戻すべく休眠していたのだそうだ。

Rốt cuộc là sao, đầu tôi sắp rối tung lên rồi.

どういう事だよと、俺の頭じゃ混乱しそうになった。

“À thì, xác định là kẻ thù sao?”

「えっと、敵で確定なの?」

“Có lẽ.”

「多分な」

Veruzard đã bị Verudanava ra lệnh để mở toang cánh cổng dẫn đến “Thiên Thông Các”.

ヴェルザードはヴェルダナーヴァに命令されて、〝天通閣〟に至る大門を開いたままにしておいたそうだ。

Kết quả là, “Diệt Giới Long” Ivalage đã xuất hiện ở thế giới cốt lõi.

その結果、〝滅(めっ)界(かい)竜(りゅう)〟イヴァラージェが基軸世界に出現してしまったという話だった。

Đến nước này thì không thể không coi Verudanava là kẻ thù được nữa.

これはもう、ヴェルダナーヴァも敵だと見做さねばなるまい。

Veruzard nói với giọng nặng nề.

ヴェルザードが重々しく発言する。

“Khác với ngày xưa, cảm giác khó lại gần. Có vẻ như hắn định phá hủy thế giới này một lần rồi tái sinh nó.”

「昔と違って、近寄りがたい感じだったわ。この世界を一度破壊してから、再誕させるつもりみたい」

“Ra là vậy...”

「なるほど……」

Đó là một vấn đề lớn.

大問題だった。

Nếu cứ thế đến chiến trường mà không chuẩn bị gì, chắc chắn sẽ gặp rắc rối lớn.

何も準備せず戦地に向かっていたら、大変な事になるところだ。

Ngay cả Diablo cũng đang suy nghĩ với vẻ mặt nghiêm trọng.

ディアブロでさえも、深刻な表情を浮かべて思案している。

Tôi cảm thấy chỉ có mình là thiếu ý thức về khủng hoảng.

俺だけ危機意識が足りていない感じがする。

Mà, cũng đành thôi.

まあ、仕方ない。

Khác với ba người kia, tôi không hề quen biết hắn...

俺は三名と違って、面識がないからな……。

Thẳng thắn mà nói, hình ảnh của hắn trong tôi chỉ là một người từng rất vĩ đại.

ぶっちゃけ、昔は凄かった人、というイメージでしかない。

Điểm đáng bận tâm là.

気になる点としては、だ。

“Verudanava, không phải là vì Millim ra đời nên mới mất đi sức mạnh sao? Bây giờ hắn ta như thế nào rồi?”

「ヴェルダナーヴァって、ミリムが生まれたから力を喪失したんじゃなかったっけ? 今はどんな感じだったんですかね?」

Nghe câu hỏi này, Veruzard rùng mình.

この問いを聞いて、ヴェルザードが身震いした。

Và rồi, một câu.

そして、一言。

“Anh trai bây giờ rất đáng sợ.”

「今の兄は恐ろしいわ」

Có vẻ như ngay cả Veruzard cũng không muốn chiến đấu với hắn.

ヴェルザードでさえも戦いたくない相手、という事らしい。

“Không phải là chuyện có nên chiến đấu hay không nữa.”

「戦うとか、そういう次元の話じゃないのだけど」

Dù sao thì, có vẻ rất nguy hiểm.

ともかく、とてもヤバそうだった。

“Vậy thì, để ta đối phó.”

「ならよ、オレが相手するさ」

Nếu Guy đã nói vậy, thì tôi rất hoan nghênh.

ギィがそう言うのなら、俺としては大歓迎だ。

Tất nhiên, tôi định giao phó cho hắn.

勿論、お任せしようと思う。

Chỉ có điều đáng lo ngại là những tín đồ của Verudanava.

ただ気になるのは、ヴェルダナーヴァの信奉者だな。

“Nếu chắc chắn rằng Verudanava đang cố gắng hủy diệt thế giới, thì chẳng phải cũng sẽ có những kẻ đi theo hắn sao?”

「ヴェルダナーヴァが世界を滅ぼそうとしているのが間違いないとして、これに追従しそうなヤツもいるんじゃないの?」

Mục tiêu của Verudanava là hủy diệt thế giới... đó là tiền đề lớn.

ヴェルダナーヴァの目的は、世界の破滅──これが大前提として、だ。

Tôi định sẽ chống cự hết sức mình, nhưng liệu tất cả mọi người có như vậy hay không.

俺は全力で抗うつもりだが、果たして全員がそうとは限らない。

“Guy này, ngày xưa các ngươi có quan hệ tốt mà đúng không? Ngài Veruzard nữa, đối đầu với anh trai mình cũng không sao chứ?”

「ギィとか、昔は仲が良かったんだろ? ヴェルザードさんだって、お兄さんと敵対しちゃっても大丈夫なの?」

Tôi muốn làm rõ điểm này.

この点をハッキリさせておきたい。

Bị đâm sau lưng thì không thể chịu đựng được, và việc xác nhận ý kiến của hai người trước là rất quan trọng.

後から背中を刺されたらたまったものじゃないし、先ずは二人の意見を確認しておくのは大事なのだ。

“Ta nghĩ tên Verudanava đó đã thay đổi rồi. Dù chưa gặp mặt hắn hiện tại, nhưng hắn đang có những hành động không thể tưởng tượng được so với trước đây.”

「オレはよ、ヴェルダナーヴァの野郎は変わったと思ってる。今のアイツを見た訳じゃねーが、以前からは考えられねーような行動を取ってやがるからな」

Ừm ừm.

ふむふむ。

“Thật lòng mà nói, ta không muốn đối đầu... nhưng cũng không thể nói như vậy được. Bởi vì, anh trai hiện tại và Guy chắc chắn không thể có chung ý kiến. Nếu vậy thì sẽ xảy ra chiến tranh, và anh trai sẽ không bao giờ nương tay, nên Guy sẽ bị giết mất.”

「私としては、敵対はしたくないというのが本音──なんだけど、そうも言ってられないわ。だって、今のお兄様とギィでは、意見が一致するはずないもの。そうなれば戦いになるだろうし、お兄様は決して手加減しないでしょうから、ギィが殺されてしまうもの」

“Ta không nghĩ mình sẽ thua đâu.”

「負ける気はしねーけどな」

“Ufufufu, đúng vậy nhỉ.”

「ウフフフ、そうね」

Vâng vâng.

はいはい。

Những chuyện như vậy thì xin hai người hãy làm khi chỉ có hai người thôi.

そういうのは、二人っきりの時にお願いします。

“Mà, thực tế thì phải thử mới biết, nhưng ta cũng khác xưa rồi. Ta sẽ thử đối đầu hết sức với Verudanava một lần.”

「まあよ。実際んとこは,やってみなきゃわかんねーが、オレも昔とは違う。ヴェルダナーヴァとは、一度本気でぶつかり合ってみるさ」

“Vậy thì xin hãy hết sức nhé.”

「それはもう、本気でお願いします」

Không ai phản đối, nên việc đối phó với Verudanava được giao cho Guy.

誰も反対しないので、ヴェルダナーヴァはギィに任せる事にした。

Vấn đề là không biết ai sẽ phản bội.

問題は、誰が離反するか不明な点だ。

“Feldway chắc chắn sẽ vui vẻ đi theo Verudanava.”

「フェルドウェイなんか、喜んでヴェルダナーヴァに付き従うだろうしな」

“Kufufufu, hắn ta không phải là đối thủ của tôi đâu.”

「クフフフフ、私の敵ではありませんがね」

“Luminous thì không nói, nhưng Dino thì sao nhỉ? Dù trông vậy thôi chứ hắn ta từng là tâm phúc của Verudanava đó.”

「ルミナスはともかく、ディーノはどうだろうな? ああ見えてもヤツは、かつてヴェルダナーヴァの腹心だったからよ」

Ừm, Dino có thể sẽ phản bội một lần nữa nhỉ...

うーむ、ディーノがまた裏切るかも知れないのね……。

Không, lần này có lẽ không phải là phản bội.

いやまあ、今回は裏切りとかじゃないかもだけど。

Millim và Lamrys cũng có mối quan hệ sâu sắc với Verudanava. Đến nước này, những người có thể tin tưởng chắc chắn là có hạn.

ミリムやラミリスだって、ヴェルダナーヴァと関係が深い。こうなってくると、確実に信用出来る者は限られてくる感じだな。

“Ngược lại, ai là người có thể tin tưởng được?”

「逆に、誰なら信じられるんだ?」

Đối đầu với Verudanava, ai cũng sẽ do dự. Dù vậy, liệu có ai sẽ trở thành đồng minh của chúng ta không?

ヴェルダナーヴァと敵対するとなると、誰もが二の足を踏むだろう。それでも俺達の味方になってくれそうなのは、果たして誰かいるのだろうか?

“Luminous có vẻ ổn không?”

「ルミナスは大丈夫そうなの?」

“Chắc là. Hắn ta không phải do Verudanava trực tiếp tạo ra, và hắn rất coi trọng thế giới này. Có lẽ hắn sẽ đứng về phía chúng ta.”

「まあな。アイツはヴェルダナーヴァが直接生み出した訳じゃねーし、この世界を大事にしてるからよ。多分、オレ達側に立ってくれると思うぜ」

Chữ “có lẽ” làm tôi lo lắng.

多分、というのが気になるね。

Dù vậy, có hi vọng vẫn là một điều đáng mừng.

それでも、希望があるのは喜ばしい事だ。

Nói theo nghĩa đó thì...

そういう意味で言えば──

“Millim cũng nói là không biết mặt cha mình. Có lẽ sẽ không sao đâu.”

「ミリムも、父親の顔も知らないと言ってたからな。多分、大丈夫な気がする」

Khi tôi nói vậy, Guy liền châm chọc “Có lẽ hả?”.

俺がそう言うと、「多分かよ」とギィから突-こまれた。

“Thì đúng rồi! Ở đây làm sao mà nói ‘tuyệt đối’ được chứ!!”

「そりゃそうだろ! ここで〝絶対〟とか言えるわけねーだろ!!」

Ngươi vừa nãy cũng nói “có lẽ” mà! Tôi nuốt lại những lời đó và tiếp tục câu chuyện.

お前だって、さっき〝多分〟って言ったでしょうよ! という言葉をグッと呑み込み、俺は話を先に進める。

“‘Thất Thiên sứ Nguyên thủy’ đúng không? Bao gồm cả Dino, tất cả đều đáng nghi nhỉ?”

「〝始原の七天使〟だっけ? ディーノを含めて、全員疑わしいよね?」

“Ngoài Feldway, những người còn sống sót hiện tại là Dino, Pico, Garasha, Obera, và Zalario.”

「フェルドウェイ以外で今生き残っているのは、ディーノ、ピコ、ガラシャ、オベーラ、そしてザラリオですね」

Tôi muốn tin Dino và hai người kia nhưng...

ディーノ達三名は信じたいが……。

Obera đã thề trung thành với Millim, nhưng nếu Verudanava xuất hiện, liệu cô ta có thay lòng đổi dạ không?

オベーラはミリムに忠誠を誓ったそうだが、ヴェルダナーヴァが登場したら心変わりするかも?

Zalario thì... ừm, ấn tượng quá mờ nhạt nên không thể đoán được.

ザラリオは……うーん、印象が浅すぎてイマイチ読めないな。

“Cả năm người đều không thể nói là chắc chắn được.”

「五名とも、確実とは言えないな」

“Đồng ý. Mà, Dino và mấy đứa kia chắc là không sao đâu, nhưng nếu đối đầu thì ta cũng không nương tay.”

「同感だな。ま、ディーノ達は多分大丈夫だと思うがよ、敵対するなら容赦しねーだけの話さ」

Thật là vô tư...

そんなお気楽な……。

Tuy nhiên, với quá nhiều thông tin không chắc chắn như vậy, cuộc chiến sắp tới sẽ rất u ám.

しかし、こうも不確定情報ばかりだと、この先の戦いが憂鬱になるな。

“Verugrynd-chan và Verudora-chan chắc chắn sẽ ổn thôi. Bởi vì chúng ta, chỉ cần có người mình yêu thương, là có thể chống lại cả thế giới.”

「ヴェルグリンドちゃんとヴェルドラちゃんは大丈夫よ、きっと。だって、私達は愛する者さえいれば、世界を敵に回せるのだもの」

Đúng là, có lẽ vậy.

確かに、そうかもですね。

“Long chủng” có hình ảnh của một tình yêu nặng nề mà.

〝竜種〟って、愛が重たいイメージがあるもんね。

Chủ yếu là do Verugrynd để lại ấn tượng sâu sắc, nhưng bây giờ tôi nghĩ Veruzard cũng không kém cạnh.

主にヴェルグリンドのせいで印象深かったけど、今ではヴェルザードも大概だなと思えるし。

Verudora thì, giống như là một thể với tôi vậy.

ヴェルドラはまあ、俺と一心同体みたいなものだしな。

“Nếu Rudra còn sống, hắn sẽ không tha thứ cho Verudanava hiện tại đâu.”

「ルドラが生きてりゃ、今のヴェルダナーヴァを許さなかっただろうぜ」

Nếu là nhà lí tưởng đó, hắn chắc chắn sẽ ngăn chặn việc hủy diệt thế giới... Guy có vẻ tin chắc như vậy. Vậy thì, Verugrynd có lẽ cũng sẽ ổn.

あの理想主義者なら、世界を滅ぼすなど絶対に阻止するはずだ──と、ギィは確信を持っている様子。それなら、ヴェルグリンドも大丈夫そうだ。

《Trong trường hợp xấu nhất, chỉ cần giải trừ『Giải Phóng Long Chủng』của Verugrynd là được. Phản bội là điều tuyệt đối không thể xảy ra.》

《万が一の場合は、ヴェルグリンドの『竜種解放』を解除するだけです。裏切りは絶対に起こり得ません》

Một lời chỉ trích lạnh lùng và vô tình được Ciel-san đưa ra.

という冷静にして非情な指摘が、シエルさんより発せられた。

Tôi đã lờ đi việc mình đã quên mất quyền năng đó.

そんな権能もあったねと、忘却していたのを誤魔す俺である。

Dù sao thì, “Long chủng” sẽ không sao.

ともかく、〝竜種〟は大丈夫という話だ。

Có vẻ như sẽ là một cuộc huynh đệ tương tàn kinh khủng, nhưng tôi mong họ sẽ quyết tâm đối mặt.

とんでもない兄弟喧嘩になりそうだが、覚悟を決めて挑んでもらいたい。

Trong số Bát Tinh Ma Vương (Octagram), Luminous và Leon được tạm thời xếp vào nhóm tin tưởng.

八星魔王(オクタグラム)からは、ルミナスとレオンを暫定的に信用枠に入れる。

Dagruel đang bị phong ấn.

ダグリュールは封印中。

Lamrys thì sao nhỉ?

ラミリスはどうだろう?

Bản thân cô bé vô hại, nhưng nếu trở thành kẻ thù thì sẽ rất tệ.

本人は人畜無害だが、敵に回ると最悪だ。

Millim thì, ừm, vẫn là nên tạm thời giữ lại.

ミリムは、うーん、やはり保留だな。

Dino cũng tương tự, quyết định tạm thời giữ lại.

ディーノも同様、保留しておく事にした。

“Được rồi, có lo lắng thêm cũng không có tiến triển gì đâu.”

「よし、これ以上は悩んでいても進展はないな」

Tôi nhún vai và kết luận như vậy.

俺は肩を竦めて、そう断じた。

“Mà, chỉ có thể tùy cơ ứng biến thôi.”

「まあよ、ぶっつけ本番でいくしかねーわな」

Guy cũng cho rằng không cần thảo luận thêm nữa.

ギィも、これ以上の議論は不要だという意見である。

“Xin ngài cứ yên tâm, ngài Rimuru. Tôi tuyệt đối sẽ không phản bội, và sẽ loại bỏ tất cả kẻ thù cho ngài xem.”

「御安心を、リムル様。私は絶対に裏切りませんし、敵は全て排除して御覧に入れますので」

“Ừm, thật đáng tin cậy.”

「うん、頼もしいヨ」

Diablo vẫn như thường lệ.

ディアブロは平常通り。

Dù có chút kinh ngạc, nhưng việc cậu ta đáng tin cậy là sự thật.

呆れもするが、頼もしいのは事実だった。

Phương hướng vẫn chưa được xác định rõ ràng, nhưng có vẻ như cũng không có ý tưởng nào tốt hơn.

方針は全然定まっていないが、これ以上の良案など出そうもない。

“A, tình hình tại đó có vẻ đã có sự thay đổi.”

「あ、現地の様子に変化がありそう」

Nghe lời lẩm bẩm của Veruzard, ánh mắt của mọi người đều tập trung vào ma pháp giám sát “Thần Nhãn (Argos)”.

ヴェルザードの呟きを聞いて、皆の視線が監視魔法〝神之瞳(アルゴス)〟へと集中した。

Chiến trường vốn đang ở thế giằng co, nhờ sự tham chiến của Millim và những người khác, phe nhân loại đã chiếm ưu thế.

膠着状態のままだった戦場は、ミリム達の参戦によって人類側が優勢となっていた。

Tôi không hề chủ quan khi nghĩ như vậy, nhưng có vẻ như bây giờ không phải là lúc để thong thả thảo luận xem ai nên đảm nhận vai trò gì.

そう思って油断していた訳ではないが、ここで悠長に誰がどういう役割を担うべきかの相談を行っている場合ではなさそうである。

Dù đã sử dụng gia tốc tư duy để thảo luận, nhưng có vẻ như không còn thời gian nữa.

思考加速しての相談だったが、もう猶予はなさそうだった。

“Tôi không có ý định chết đâu, nên cố gắng thêm chút nữa nào.”

「死ぬ気はないから、もうひと頑張りだな」

Nhân tiện, tôi cũng muốn giải quyết luôn cuộc khủng hoảng của thế giới.

ついでに、世界の危機も何とかしたいものである。

Nghĩ vậy, tôi cùng mọi người hướng đến chiến trường và sử dụng『Dịch Chuyển Tức Thời (Teleport)』.

そんなふうに思いつつ、俺は皆を伴い戦場へと向けて『瞬間移動(テレポート)』するのだった。

Chương 2: Hy vọng và thất vọng

第二章 希望と落胆

ルミナスは、戦場の全てを認識している。

Luminous nhận thức được mọi thứ trên chiến trường.

故に、信じ難い状況に頭を悩ませる事になった。

Do đó, nàng đã phải đau đầu vì một tình huống khó tin.

〝滅(めっ)界(かい)竜(りゅう)〟イヴァラージェがルシアの姿となって、桜金色(プラチナピンク)の髪をなびかせている。

“Diệt Giới Long” Ivalage đã biến thành hình dạng của Lucia, với mái tóc màu hồng bạch kim bay trong gió.

その圧倒的な存在感から察するに、誰が相手しようが勝率は絶望的であろう。

Từ sự hiện diện áp đảo đó, có thể đoán rằng dù ai có đối đầu thì tỉ lệ chiến thắng cũng là tuyệt vọng.

それだけではなく、イヴァラージェの三つの従僕(シモベ)達がいる。各々が人型へと変化した事で、サイズ感も変化していた。

Không chỉ vậy, còn có ba thuộc hạ của Ivalage. Mỗi tên đã biến thành hình người, kích thước cũng đã thay đổi.

一番大きいのが、男型になったカケアシだ。

Tên lớn nhất là Kakeashi, đã biến thành hình dạng đàn ông.

その逆に、一番小さいのがスイームである。こちらは性別不詳だが、少女っぽい見た目となっていた。

Ngược lại, tên nhỏ nhất là Swim. Tên này không rõ giới tính, nhưng có vẻ ngoài giống một cô gái.

そして、ハバタキは女型だ。バランスの良い背格好となっていた。

Và Habataki thì ở hình dạng phụ nữ. Tên đó có vóc dáng cân đối.

この三体からも、常識の範(はん)疇(ちゅう)から外れた力を感じ取れる。正直に言えば、ルミナスでさえ勝負にならないと思われた。

Từ ba tên này, cũng có thể cảm nhận được một sức mạnh vượt xa lẽ thường. Thẳng thắn mà nói, ngay cả Luminous cũng nghĩ rằng mình không thể nào thắng được.

Phía Bắc.

北方面にて。

Sự tàn phá của Habataki còn phiền phức hơn cả tưởng tượng.

ハバタキの猛威は、想像以上に厄介だった。

Việc bay xuyên thứ nguyên thực chất chính là『Dịch Chuyển Tức Thời』. Nó có thể dịch chuyển bất kể khoảng cách gần xa, không cần bất kì động tác chuẩn bị nào.

次元を飛翔するというのは、実際には『瞬間移動』そのものだ。近距離遠距離お構いなしに、予備動作も何もなしに跳躍可能なのである。

Nếu có dấu hiệu báo trước thì còn có thể đối phó, nhưng lại không hề có.

予兆があれば対策も立てられるが、そんなものはない。

Habataki tấn công mà bỏ qua khái niệm về khoảng cách.

距離という概念を無視して、ハバタキは襲ってくるのである。

Ma pháp cũng là một khái niệm, phát động mà bỏ qua khoảng cách.

魔法というのも概念で、距離を無視して発動する。

Tuy nhiên.

しかし、だ。

Cần phải nhìn thấy hoặc bằng cách nào đó chỉ định tọa độ.

目視するなり何なりして、座標を指定してやる必要があるのである。

Việc trực tiếp đốt cháy đối tượng... cũng không phải là không thể, nhưng độ khó sẽ tăng vọt.

対象を直接燃やす──というのも出来なくはないが,一気に難易度が跳ね上がるのだった。

Với ma pháp quy mô lớn hay ma pháp cực đại, đương nhiên không thể cho phép thay đổi tọa độ. Vì đối thủ không phải là kẻ có thể đối phó bằng ma pháp thông thường, nên những anh hùng chuyên về hệ ma pháp cũng đành bó tay.

大規模魔法や極大魔法などでは、当然ながら座標変更など許されるはずがなかった。通常魔法でどうにかなる相手でない以上、魔法系を得意とする英雄達に為す術(すべ)はなかったのだ。

Tuy nhiên, nếu để mặc Habataki thì thiệt hại sẽ rất lớn...

しかし、ハバタキを放置していると被害が甚大で……。

Người đã tỏa sáng ở đây là Mai Furuki, người đã trở về từ thế giới khác cùng với Yuki.

ここで活躍したのが、ユウキ達と一緒に異界から帰還した古城舞衣(マイ・フルキ)だった。

Dù bị ném vào một tình huống khó khăn mà không có lời giải thích nào, Mai đã cố gắng hết sức. Cô đã tìm hiểu xem điều gì đang được yêu cầu trong tình hình chiến sự hiện tại và cố gắng hành động một cách thích hợp.

厄介な場面に何の説明もなく放り込まれた訳だが、マイは頑張った。今の戦況で何が求められているのか探り、適切に動こうとしたのである。

“Việc không biết nó sẽ xuất hiện ở đâu thật là phiền phức nhỉ.”

「どこに出現するのかわからないのって、本当に厄介なのね」

Mai đã nghĩ như vậy.

マイはそう考えた。

Và rồi, cô đã sử dụng Kĩ năng Tối thượng『Tinh Giới Vương (Terra Mater)』để can thiệp vào pha của tọa độ, cản trở việc Habataki có thể『Dịch Chuyển Tức Thời』.

そして、ハバタキが『瞬間移動』出来ないようにと究極能力(アルティメットスキル)『星界之王(テラ・マーテル)』を駆使して、座標の位相に干渉して妨害したのである。

Nhờ vậy, phép tính của Habataki đã thất bại. Habataki, kẻ đã tung hoành ngang dọc trên chiến trường theo ý muốn, đã bị phong ấn kĩ năng『Dịch Chuyển Tức Thời』tự hào của mình.

これによって、ハバタキの演算は失敗する。望むがままに戦場を跳(ちょう)梁(りょう)跋(ばっ)扈(こ)していたハバタキは、御自慢の『瞬間移動』を封じられる事になったのだった。

Việc này có thể thực hiện được là nhờ sự trùng hợp của một vài may mắn.

これが可能だったのは、幾つかの幸運が重なった結果だった。

Đầu tiên và quan trọng nhất,『Dịch Chuyển Tức Thời』đòi hỏi kĩ thuật tinh vi.

先ず重要なのが、『瞬間移動』が繊細な技術を要した点だ。

Nó yêu cầu một phép tính toán phức tạp, và nếu thông tin (dữ liệu) nhập vào có sai sót, nó sẽ không thể kích hoạt.

緻密な演算を行わなければならず、入力した情報(データ)に誤りがあると発 độngしないのである。

Những gì Mai đã làm là thay đổi thông tin đó.

マイが行ったのは、その情報の改(かい)竄(ざん)であった。

Để di chuyển trong không gian, cần ít nhất hai thông tin là “tọa độ vị trí hiện tại” và “thông tin vị trí mục tiêu”, nhưng Mai đã làm nhiễu loạn bước sóng của không gian chiến trường, khiến cho không thể đọc được thông tin chính xác.

空間を移動するには、最低でも〝現在位置の座標〟と〝目標地点の位置情報〟の二つが必須なのだが、マイは戦場空間の波長を乱す事で、正確な情報を読み取れないようにしていたのだ。

Tuy nhiên, đây không phải là một chuyện đơn giản.

もっとも、これは簡単な話ではない。

Dù có hiểu lí thuyết, nhưng việc có thể thực hiện được hay không lại là một chuyện khác.

理屈や理論がわかっても、それを実行可能かどうかは別の話だった。

Chỉ với Gadra và Adalmann thì không thể làm gì được, và nếu không có Mai ở đây, sẽ không có cách nào để ngăn chặn『Dịch Chuyển Tức Thời』của Habataki.

ガドラやアダルマンだけでは手の打ちようもなく、この場にマイがいなければ、ハバタキの『瞬間移動』を阻止する術などなかったのだ。

Ở đây, may mắn cũng đã phát huy tác dụng.

ここでも幸運が生かされていたのである。

Nhờ việc Mai đã có được『Tinh Giới Vương (Terra Mater)』và có thể sử dụng quyền năng đó một cách trọn vẹn, đã dẫn đến thành quả lần này.

マイが『星界之王(テラ・マーテル)』を獲得しており、その権能を十全に扱えたからこそ、今回の成果に繋がったのだった。

Mà, đến đây thì vẫn tốt...

とまあ、ここまでは良かったのだが……。

Một con chim không thể bay chỉ là một con gà... điều đó không hề đúng.

跳べない鳥は、ただの雑魚──とはならなかった。

Thật không may, Habataki, dù không dựa vào『Dịch Chuyển Tức Thời』, vẫn sở hữu một năng lực chiến đấu vô cùng mạnh mẽ.

残念ながら、ハバタキは『瞬間移動』に頼らなくても、十分に強力な戦闘能力を秘めていたのだ。

Habataki có thể bay với tốc độ gấp hàng chục lần tốc độ âm thanh.

ハバタキは、音速の数十倍という速度で飛翔可能だった。

Sau khi tấn công, nó nhắm vào con mồi tiếp theo và bay đi. Do có độ trễ thời gian trong việc chuyển đổi và từ tốc độ ban đầu đến khi đạt tốc độ tối đa, nên thực tế tốc độ không đến mức đó. Tuy nhiên, Habataki, với tốc độ và sức mạnh của mình, đã lặp lại những cuộc tàn sát như một lưỡi dao bay trên chiến trường.

攻撃してから次の獲物に狙いを定め、飛翔する。その切り替え時間や初速から最高速度に到達するまでのタイムラグがある為に、実際にはそこまでの速度ではない。しかしそれでも、速度と強度を備えたハバタキは、戦場に舞う刃のごとく殺戮を繰り返していたのである。

Nếu không có sự phục sinh của Luminous, thất bại là điều chắc chắn.

ルミナスの蘇生がなければ、敗北必至であった。

“Thật là, Mai đã phong ấn được『Dịch Chuyển Tức Thời』của nó rồi mà.”

「やれやれじゃのう。せっかくマイが、ヤツの『瞬間移動』を封じてくれたというのに」

“À, xin hỏi ngài là ai vậy?”

「えっと、どちら様ですか?」

“Là lão phu đây. Gadra đây.”

「ワシじゃよ。ガドラじゃ」

“Hả!? Không còn là ông già nữa rồi!!”

「えっ!? お爺ちゃんじゃなくなってる!!」

Gadra đã được tái sinh với vẻ ngoài trẻ trung, và đây là lần đầu tiên Mai gặp. Ở Đế quốc, họ đã có quen biết qua Yuki, nhưng ngoại hình khác biệt quá nhiều khiến cô không nhận ra.

若々しく生まれ変わったガドラと、マイは初対面だった。帝国ではユウキを通して面識もあったのだが、外見が違い過ぎて見抜けなかったのだ。

Dù có nhiều điều muốn hỏi, nhưng Mai không có thời gian để nói chuyện phiếm. Vì đã đột ngột tham chiến, cô quyết định im lặng tuân theo chỉ thị.

色々と気になるマイだったが、悠長に会話している場合ではない。急遽参戦した手前、大人しく指示に従う事にしたのである。

Tuy nhiên, hầu như không có biện pháp nào có thể thực hiện được.

とはいえ、打てる手はほとんどなかった。

Một trăm thành viên của Hắc Sắc Quân Đoàn (Black Numbers) dưới quyền Diablo đang nằm dưới sự chỉ huy của Gadra. Vì là người theo chủ nghĩa thực lực, họ không hề coi thường Gadra là một người mới.

ディアブロ配下の黒色軍団(ブラックナンバーズ)百名は、ガドラの指揮下にある。実力主義なので、ガドラを新参者と馬鹿にしたりする事もなかった。

Hơn nữa, nếu thất bại vì những sĩ diện hão huyền hay sự ghen tị vớ vẩn, họ sẽ phải đối mặt với sự trừng phạt từ Diablo. Họ đã dốc toàn lực đối phó với Habataki, chiến đấu mà không sợ chết... dù có chết thì cũng sẽ bị trừng phạt...

まして、つまらない見栄や嫉妬で失敗したりしたら、ディアブロからの制裁が待っているのだ。自分の全力を尽くしてハバタキに対処し、死も恐れずに──死んだら死んだで制裁なのだが──戦っていた。

Louis cũng đã phát huy hết khả năng của mình, dẫn dắt gần bốn trăm thành viên của Huyết Hồng Kị Sĩ Đoàn (Bloody Knights). Gunther cũng đã gạt bỏ sự cạnh tranh với Louis và cùng nhau chiến đấu hết mình. Ngay cả khi phải nhuốm máu cơ thể, họ cũng cố gắng cản trở chuyển động của Habataki.

ルイも本領を発揮して、四百名弱の血紅騎士団(ブラッディーナイツ)を率いている。ギュンターもルイへの対抗心を捨てて,全力で共闘していた。その身を血に染めてでも、ハバタキの動きを妨げようと試みているのだ。

Điểm chung của mọi người là không sợ hi sinh. Mỗi người đều dốc hết sức mình, phấn đấu vì chiến thắng.

皆に共通しているのは、犠牲を恐れぬという点だ。各々が死力を尽くして、勝利に向けて奮闘していたのである。

Không thể đòi hỏi thêm bất cứ điều gì nữa.

これ以上、何かを求められる訳がない。

Không có một kế hoạch nào có thể xoay chuyển tình thế, và chỉ riêng việc phong ấn một trong những con át chủ bài của Habataki, sự đóng góp của Mai đã được đánh giá rất cao.

戦況を打開するような妙案がある訳でもなく、ハバタキの切り札を一つ封じただけでも、マイの活躍は十分評価されるものだった。

Tuy nhiên, chiến trường không phải là nơi có thể dừng lại ở đó.

けれど、それでは済まないのが戦場なのだ。

“Chúng ta sẽ làm gì đây?”

「どうします?」

“Đòn tấn công của nó là những nhát chém siêu tốc. Những chiếc lông vũ đó cứng như Kim loại Tối thượng (Hihiirokane), dù có mặc loại áo giáp nào cũng sẽ bị chém đứt thôi...”

「ヤツの攻撃は、超高速での斬撃じゃからな。あの羽は究極の金属(ヒヒイロカネ)のようじゃし、どんな鎧で守ろうとも斬り裂いてしまうからのう……」

Adalmann, người vừa rút lui khỏi chiến trường, đã tiếp lời của Gadra.

戦場から離脱してきたアダルマンが、ガドラの言葉を引き継いだ。

“Phòng ngự ma pháp sơ sài cũng vô ích. Tôi đã thử nhiều cách nhưng suýt nữa thì chết.”

「下手な魔法防御も無駄ですよ。色々試してみましたが、危うく死にかけました」

Đúng như lời nói, vai của anh ta bị rách một mảng lớn và máu đang chảy.

その言葉の通り、肩口が大きく裂けて血が流れていた。

Sau khi có được cơ thể bằng xương bằng thịt, anh ta bị thương nhiều hơn, và Adalmann nghĩ rằng có lẽ giữ nguyên hình dạng bộ xương sẽ tốt hơn.

生身を得た事で怪我も増えたし、ひょっとすると骸骨のままの方が良かったのかも、などと思ってしまうアダルマンである。

Về ý kiến đó, Wenti và những người khác lại kịch liệt phản đối. Vì không có thời gian để thảo luận từ từ, nên Adalmann đành phải cố gắng với hình dạng hiện tại.

その意見については、ウェンティなどが大反対の立場だ。ゆっくり相談する時間もないので、アダルマンとしては今の姿のまま頑張るしかないのである。

Vì vậy, Thần thánh ma pháp: Hồi Phục Thượng Cấp Phạm Vi Rộng (Great High Heal) và Tái Sinh Bộ Phận Phạm Vi Rộng (Great Regeneration) đang được kích hoạt liên tục.

その為、神聖魔法:広範囲化上位回復(グレート・ハイ・ヒール)と広範囲化部位再生(グレート・リジェネレーション)を、常時発動中だった。

Hiện tại, vết thương đang được tái tạo nhanh chóng.

今もみるみるうちに、傷口が再生している最中なのだ。

Dù có đau, nhưng Adalmann vẫn tiếp tục mà không để lộ ra.

痛みはあるのだが、それを感じさせずにアダルマンが続ける。

“Tuy nhiên, tôi cũng đã phát hiện ra một số điều. Con chim đó là một kẻ thù mạnh, nhưng trí thông minh của nó không cao lắm. Có vẻ như nó có thói quen nhắm vào những thứ đang di chuyển, nên nếu chúng ta đặt bẫy, có lẽ sẽ đối phó được.”

「しかし、わかった事もあります。あの鳥は強敵ですが、そこまで知能が高くありません。動く者を狙う習性があるようですし、罠を仕掛ければ何とか対処可能かと思われますね」

“Hừm.”

「ふむ」

“Bẫy sao?”

「罠ですか?」

“Vâng. Chuẩn bị một người làm mồi nhử để thu hút con chim đó. Ngay trước khi nó tiếp xúc, nhờ cô gái đây dùng sức mạnh để『Dịch chuyển』là được!”

「ええ。囮となる者を用意して、あの鳥に狙わせるのです。接触する寸前に、お嬢さんの力で『転移』させてもらえれば、と!」

“Ý của ông là, tôi sẽ làm mồi nhử sao? Đúng là vậy mà?”

「それって、私に囮になれって言ってます? 言ってますよね?」

“Hahahaha.”

「ハハハハハ」

“Không phải là ha ha ha đâu...”

「ははは、じゃないんですけど……」

Mai thở dài một hơi.

マイは大きく溜息を吐いた。

Cô định phàn nàn, nhưng đã trực giác nhận ra rằng kế hoạch đó rất hợp lí.

文句を言おうかとも思ったが、その作戦が合理的なのを直感的に悟ってしまっていた。

Nếu trí thông minh của kẻ địch cao, kế hoạch này sẽ không thành công, nhưng chính vì sự đơn giản mà nó lại hiệu quả. Việc vừa cản trở『Dịch Chuyển Tức Thời』của đối phương vừa tự mình chạy trốn, dù có độ khó cao nhưng không phải là không thể.

敵の知能が高ければ通用しない作戦だが、単純だからこそ有効である。相手の『瞬間移動』を妨害しつつ自分だけ逃げるのも、難度は高いが不可能ではないのだ。

Mai đành phải chấp nhận nhiệm vụ này.

仕方ないなと、マイはその任務を了承したのだった。

Và kế hoạch đó đã thành công.

そして、その作戦は上手くいった。

Lượng ma tố (năng lượng) của Mai khá lớn, là người có nhiều nhất ở khu vực này. Có lẽ vì nó là một mồi nhử hấp dẫn, Habataki đã bắt đầu nhắm vào Mai một cách dai dẳng.

マイの魔素(エネルギー)量は相当なもので、この方面では一番だった。餌としても魅力的だったのか、ハバタキはマイを執拗に狙い始めたのだ。

Nhờ vậy, mối đe dọa lớn nhất đã được Mai một mình đảm nhận, tạo ra thời gian để quét sạch những ma thú khác.

こうして、一番の脅威をマイが一人で請け負ったお陰で、他の魔獣共を掃討する余裕が生まれた。

Sau đó, “Phi Long Chúng (Hiryu)” do ba người Yashichi, Sukerou và Kakushin dẫn đầu đã xuất hiện.

そこで更に、ヤシチ、スケロウ、カクシンの三名が率いる〝飛竜衆(ヒリュウ)〟が登場する。

Ảnh hưởng của ma pháp hồi phục do Adalmann kích hoạt vẫn còn.

アダルマンが発動させた、回復魔法の影響も継続中だ。

Chiến trường đã ổn định, và có vẻ như sẽ có thể hướng đến chiến thắng một cách thuận lợi...

戦場は安定し、このまま上手く勝利を目指せそうな雰囲気になったのだが──

“Uwa, tiến hóa ngay lúc này là gian lận mà...”

「うわ、ここで進化するとか、反則でしょ……」

Đúng như lời phàn nàn của Mai, Habataki đã biến thành hình người.

マイが愚痴った通り、ハバタキが人型に変化していた。

Trong đôi mắt của nó có ánh sáng của trí tuệ, và chỉ cần nhìn qua cũng có thể thấy nó không còn là một đối thủ đơn giản như trước nữa.

その目には知性の光が宿り、今までのように単純な相手ではないと一目でわかる.

Mai có thể chạy trốn an toàn là nhờ có ưu thế từ việc sử dụng quyền năng. So về năng lực chiến đấu thì không đáng kể, và nếu chiến đấu thực sự, cô ấy có lẽ sẽ bị giết trong vòng chưa đầy một phút.

マイが安全に逃げられたのは、権能を利用した優位性があったからだ。戦闘能力の比較では話にならず、本気で戦うなら一分も耐えられずに殺されてしまうだろう。

“Cái này, có lẽ đã kết thúc rồi...”

「これ、終わった気がする……」

Mai than thở và nhìn Habataki với tâm trạng tuyệt vọng.

マイはそう嘆き、絶望的な気分でハバタキを眺めるのだった。

Phía Tây.

西方面にて。

Giữa chiến trường khốc liệt, có một khu vực tương đối an toàn.

苛烈な戦場の中にあって、比較的安全地帯となっている箇所があった。

Đó là nơi khởi nguồn của Kết Giới Thánh Tịnh Hóa (Holy Field).

それは、聖浄化結界(ホーリーフィールド)の基点となる場所である。

Tổng cộng có tám nơi.

全部で八ヶ所。

Trên mặt đất và trên bầu trời, mỗi nơi bốn điểm.

地上と上空、各々四ヶ所であった。

Saare, người đang phụ trách một trong số đó, cười khổ nghĩ rằng mình cũng chỉ đến đây thôi.

その一角を受け持つサーレが、自分もここまでかと苦笑する.

“Chậc, Quái vật đó có vẻ đã mạnh lên nữa rồi.”

「やれやれだね。化け物が、更に力を増したようだぜ」

Một con thú bốn chân trông giống một con sói hung dữ đã biến thành hình dạng người. Dù kích thước đã nhỏ lại, nhưng sự hiện diện của nó lại tăng lên.

狼を凶悪化したような四本足の獣が、まがりなりにも人の姿になっていた。サイズ感こそ小さくなったものの、その存在感は増している。

Rõ ràng là năng lực chiến đấu cũng đã tăng lên.

明らかに、戦闘能力も増したと見るべきだった。

May mắn là Kakeashi đã không di chuyển.

幸いなのは、カケアシが動かなかった事だ。

Lí do rất đơn giản. Vì đã quen với cách chiến đấu của một con thú, nên nó đã bối rối trước sự thay đổi của bản thân.

その理由は単純だ。獣としての戦い方に慣れていた為に、自身の変化に戸惑っていたのである。

‘Này, tính sao đây? Muốn chạy rồi à?’

『おう、どうするよ? 逃げたくなったんじゃねーの?』

Một lời nói đùa vang lên trong đầu Saare. Anh ta đang trò chuyện với Fritz, người đang đảm nhiệm kết giới phía trên bằng cách bám vào cửa sổ tầng cao nhất của tòa tháp.

という軽口が、サーレの脳内に響いた。塔の最上段の窓に張り付くようにして上部結界を受け持っているフリッツと、結界を通して会話が成立しているのだ。

‘Ha, đừng có đùa. Ngươi sợ hãi thì tùy, nhưng đừng có gộp chung ta vào nhé.’

『はっ、冗談言うなって。お前がビビるのは勝手だが、僕を一緒くたにするのは止めて欲しいね』

Saare cũng đáp trả.

と、サーレも言い返す。

Không phải là không muốn chạy.

逃げたくない訳ではない。

Chỉ là biết rằng chạy cũng vô ích.

ただ、逃げても意味がないと知っているだけだ。

Không chỉ Saare, mà bất kì anh hùng nào ở đây cũng vậy.

それはサーレだけではなく、この場にいる英雄達なら誰でも同じだろう。

Đúng vậy, ngay cả người phụ nữ đã bỏ rơi Saare và chạy trốn.

そう、かつてサーレを見捨てて逃げた女であっても。

“Cô không cần phải chạy sao, Glenda?”

「君は逃げなくていいのかい、グレンダ?」

Với một chút oán hận, Saare hỏi người đồng nghiệp cũ.

少しばかりの恨みを込めて、サーレはかつての同僚に問いかけた。

Glenda trông có vẻ bị thương nặng, nhưng đôi mắt của cô vẫn sáng rực. Ý chí chiến đấu vẫn chưa bị dập tắt, và cô chỉ đến đây để điều trị sơ qua.

グレンダは満身創痍という様子であったが、その瞳は爛(らん)々(らん)と輝いている。まだまだ戦意は挫(くじ)けておらず、ここには簡単な治療の為に寄っただけであった。

Đối với Saare, bộ dạng của Glenda thật bất ngờ.

サーレには、そんなグレンダの様子が意外に思えたのだ。

Glenda là một người phụ nữ ích kỉ, sẵn sàng bỏ rơi đồng đội một cách dễ dàng. Ít nhất, đối với Saare và Grigori, nhận định đó không sai.

グレンダは、アッサリと仲間を見捨てるような自分勝手な女だ。少なくとも、サーレとグレゴリーにとっては、その認識で間違いない。

Vậy mà, mọi chuyện lại khác. Glenda có vẻ như sắp lao ra ngoài mà không chờ đợi việc chữa trị kết thúc.

それなのに、どうも勝手が違った。グレンダは、治癒が終わるのを待たずに飛び出しそうな勢いだったのだ。

Đó là một hình ảnh xa lạ, không thể tưởng tượng được từ Glenda của ngày xưa.

昔のグレンダからは想像出来ないような、馴染みのない姿である。

Chính vì vậy, Saare đã nói ra thắc mắc của mình.

だからこそサーレは、その疑問を口にしたのだ。

Câu trả lời từ Glenda thật bất ngờ và phong cách.

グレンダから返ってきた答えは、あまりにも予想外で粋なものだった。

“Chạy trốn? Nghĩ đến chuyện đó thôi cũng vô ích. Điều cần thiết bây giờ là sử dụng mạng sống có hạn như thế nào, đúng không?”

「逃げる? そんな事、考えるだけ無駄さね。今必要なのは、限りある命をどう活用するかだろ?」

Nghe vậy, Saare kinh ngạc.

これを聞いて、サーレは驚いた。

Grigori cũng rất ngạc nhiên.

グレゴリーもビックリだ。

“Này này, ngươi lại nói vậy sao!?”

「おいおい、それをお前が言うのか!?」

Grigori nói với giọng kinh ngạc.

呆れたように言葉にするグレゴリー。

Saare cũng hùa theo.

サーレがこれに乗っかった。

“Đừng có đùa, Glenda! Khi đối đầu với ác ma (Diablo) đó, không phải ngươi đã bỏ rơi ta và chạy trốn sao! Đừng có nói là đã quên chuyện đó nhé!?”

「ふざけんなよ、グレンダ! あの悪魔(ディアブロ)を相手にした時、僕を見捨てて逃げたじゃないか! それを忘れたとは言わせないぜ!?」

Tuy nhiên, Glenda vẫn rất đường hoàng.

けれど、グレンダは堂々たるものだ。

“Tình hình khác rồi. Lúc đó, ta chỉ là con rối của Rosso, và cũng chẳng có lí tưởng hay đại nghĩa gì cả.”

「状況が違うさね。あの時のアタイはロッゾの傀儡だったし、理想や大義なんてモンも持ち合わせちゃいなかったからね」

“Này này. Thế bây giờ thì có rồi sao?”

「おいおい。それじゃあ、今はあるってのかい?」

“Đúng vậy. Dù có nói vậy, ta cũng không thể tin được đâu?”

「そうだよ。そんなふうに言われても、僕には信じられないんだけど?」

Đứng trước hai người đồng nghiệp cũ đang hoàn toàn không tin tưởng, Glenda cười khẩy. Vừa quát tháo cấp dưới, cô vừa cười nhếch mép với Saare và Grigori.

半信半疑どころか、完全に信用していない元同僚二人を前にして、グレンダは鼻で笑った。部下に対して鋭く檄を飛ばしながら、サーレとグレゴリーに向けてニヤリと笑って見せたのだ。

“Đúng là những gã đàn ông nhỏ mọn. Chính vì vậy mà các ngươi mới sợ ngài Hinata và không thể quay trở lại Lubelios, đúng không? Mà thôi. Dù sao thì nói gì các ngươi cũng không tin, nên ta sẽ chứng minh bằng hành động của mình từ bây giờ!”

「小さい男共だね。そんなだから、ヒナタ様にビビッてルベリオスに戻れなかったんだろ? まあいいさ。どうせ何を言っても信じないだろうから、これからのアタイの態度で証明してやるさね!」

Nói xong, Glenda lại quay trở lại chiến trường khốc liệt.

そう言い残して、グレンダは再び苛烈な戦場へと戻って行ったのだった。

Saare và Grigori tiễn cô bằng ánh mắt phức tạp, rồi nhìn nhau.

それを見送ったサーレとグレゴリーは、複雑な表情で顔を見合わせた。

“Ngươi nghĩ sao?”

「どう思う?」

“Chậc, đúng là không thể tin được...”

「いやあ、信じられない気分だがよ……」

“Cô ta thay đổi rồi, đúng không?”

「彼女、変わったよな?」

“Ừ. Nếu không công nhận một chút, ngược lại ta lại cảm thấy chính mình thật khó coi.”

「ああ。少しは認めねーと、逆にオレ自身がカッコ悪(わ)りーって思えちまうぜ」

“Đúng vậy.”

「だな」

Hai người bất đắc dĩ gật đầu đồng ý.

と、二人は不承不承ながらも頷きあったのだった。

Và rồi, xua tan đi sự do dự.

そして、迷いを吹っ切る。

“Ta sẽ dốc hết sức mình, duy trì『Kết giới』dù chỉ một giây lâu hơn. Dù cho cơ thể này có tan nát.”

「僕は死力を尽くして、一秒でも長く『結界』を維持するよ。たとえ、この身が砕けてもね」

“Chắc chắn rồi! Ta cũng sẽ bảo vệ ngươi dù chỉ một giây lâu hơn. Như vậy, chúng ta có thể câu được hai giây.”

「おおよ! オレも一秒でも長く、お前を守ってやるぜ。そうすりゃ、二秒は稼げるってもんさ」

Grigori không di chuyển khỏi nơi này là vì đã nhận nhiệm vụ bảo vệ Saare. So với Glenda bị thương đầy mình, bản thân Grigori lại không hề hấn gì. Sự thật đó cũng làm cho tình hình này trở nên khó xử.

グレゴリーがこの場を動かないのは、サーレの護衛を買って出たからだ。傷だらけのグレンダに対して、グレゴリー自身は無傷。そうした事実も、この状況を気まずくさせていた。

Chính vì vậy, anh ta phải dốc toàn lực để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

だからこそ、自分に任された役目に全力で臨まなければならないのだ。

“Làm tốt lắm. Nếu có thể câu được hai giây thời gian còn lại của nhân loại!”

「上出来だね。人類に残された時間を、二秒も稼げるんならさ!」

“Hừ, không sai!”

「フッ、違いねえ!」

Họ nói với nhau như vậy và lấy lại tinh thần.

互いにそう言い合って、気合を入れ直したのである。

Trong lúc đó, thời khắc đáng sợ đã đến.

そうこうしている内に、恐れていた時が訪れた。

Kakeashi đã chuẩn bị xong.

カケアシの準備が終わったのだ。

Kakeashi chống nắm đấm phải xuống đất, tạo thành một tư thế giống như tư thế khởi đầu của sumo. Nắm đấm trái không chạm đất, cứ thế lao đi.

カケアシは、トンッと右拳を地面につけて、相撲の仕切りのような構えになる。左拳は地面につけずに、そのまま駆け出した。

Đó là một gia tốc khủng khiếp.

凄まじい加速度だった。

Ngay lập tức vượt qua tốc độ âm thanh, lao về phía Saare.

瞬間的に音速を超えて、サーレへと迫る.

“Quả nhiên, mục tiêu là ta sao!”

「やはり、狙いは僕か!」

Anh đã có linh cảm này.

その予感はあった。

Các Ảo thú (Cryptid) khác ở phía tây có trí thông minh thấp, nhưng những loài cấp cao lại có trí tuệ nhất định. Từ Kakeashi, kẻ chỉ huy chúng, có thể cảm nhận được một ý chí tà ác.

西方面にいる他の幻獣族(クリプテッド)は知性が低い個体が多かったが、上位種ともなると一定以上の知恵を有している。それを従えるカケアシからは、邪悪な意思が感じられたのだ.

(Hắn đã nhìn ra ta là điểm yếu. Hắn hiểu rằng nếu tiêu diệt ta, hắn có thể phá hủy Kết Giới Thánh Tịnh Hóa (Holy Field) này.)

(ヤツは、僕が弱点だと見抜いている。僕を潰せば、この聖浄化結界(ホーリーフィールド)を破壊出来ると理解しているんだ)

Saare đã chuẩn bị cho cái chết. Dù có như vậy, anh vẫn dồn nén thần thánh lực để có thể duy trì “Kết Giới Thánh Tịnh Hóa (Holy Field)”, để năng lượng của mình có thể tiếp tục phát huy.

サーレは死を覚悟した。そうなっても〝聖浄化結界(ホーリーフィールド)〟を維持出来るように、自分のエネルギーを継続して発揮させられるように、神聖力を練り込んでいく。

Không phải là lúc để chạy trốn, và dù có chết cũng không thể trốn tránh trách nhiệm. Dù có chết cũng có thể được hồi sinh, nhưng nếu lúc đó Kết Giới Thánh Tịnh Hóa (Holy Field) đã sụp đổ, thì thất bại của nhân loại sẽ trở thành điều chắc chắn.

逃げている場合ではなかったし、死んだからといって責任から逃げる訳にもいかないのだ。死んでも生き返れるかも知れないが、その時に聖浄化結界(ホーリーフィールド)が崩れていたなら、人類の敗北が決定的になってしまう。

Trách nhiệm của Saare rất lớn.

サーレの責任は重大だった。

Cũng như vậy, Grigori cũng đang gánh vác một trọng trách lớn.

それと同じくらい、グレゴリーも重責を担っている。

“Uooooooooo!! Con chó khốn khiếp! Ta sẽ là đối thủ của ngươi!!”

「うぉおおおおおおおおお──ッ!! クソ犬がァ! オレが相手してやんよォ──ッ!!」

Anh ta hét lên, cầm Chiến Phủ Thương (Halberd) lao ra trước mặt Kakeashi.

そう叫び、戦斧槍(ハルバード)を構えてカケアシの前に飛び出たのである。

………

………

……

……

Đó là một hành động đã chuẩn bị cho cái chết.

それは、死を覚悟しての行動だった。

‘Vạn Vật Bất Động’ ẩn chứa trong cơ thể được rèn luyện của Grigori, giờ đây đã tiến hóa thành Kĩ năng Độc nhất ‘Cơ Thể Kim Cương (Katai Hito)’. Quyền năng đơn giản “tăng cường cơ thể để nâng cao khả năng phòng thủ” của Kĩ năng Đặc biệt ‘Vạn Vật Bất Động’, đã phản ánh ý chí của Grigori và tăng cường cơ thể một cách mạnh mẽ hơn.

グレゴリーの鍛えた肉体に宿る『万物不動』も、今ではユニークスキル『鋼身体(カタイヒト)』へと進化していた。ただでさえ、〝肉体を強化して防御力を高める〟というシンプルな権能だったエクストラスキル『万物不動』が、グレゴリーの意思を反映してより強靭に肉体を強化してくれるのだ。

Hơn nữa, anh ta đã ‘Đồng nhất hóa’ với Thổ Kị sĩ (War Gnome), khiến cơ thể của Grigori được tăng cường đến mức không thể nào hơn được nữa.

更には土の騎士(ウォーノーム)とも『同一化』しており、これ以上にないほどグレゴリーの肉体は強化されていた。

Tuy nhiên, dù vậy... đó vẫn chỉ là một quyền năng chỉ có thể phát huy tác dụng ở cấp độ nhân loại.

しかし、それでも……それは飽く迄も、人類レベルでしか通用しない権能であった。

(Ta biết chứ. Dù ‘Cơ Thể Kim Cương (Katai Hito)’ do ta rèn luyện cũng không thể nào chống lại được tên chó đáng ghét đó (Ranga)! Nhưng mà, ta cũng sẽ câu được ít nhất một giây!!)

(わかってるさ。オレが鍛え上げた『鋼身体(カタイヒト)』でも、あの憎ったらしい犬野郎(ランガ)にだって通用しないってな! でもよ、オレだって一秒くらいは稼いで見せるさ!!)

Dù có chết, vẫn có khả năng được thần Luminous hồi sinh. Thực tế, ở chiến trường phía đông, đã có báo cáo từ truyền tin rằng đã có một màn hồi sinh ngay từ đòn đầu tiên.

たとえ死んでも、神ルミナスの手で蘇生してもらえる可能性はあった。実際、東側の戦場では初手で復活劇が行われたと、伝令によって報告されている。

Điều đó đã làm tăng tinh thần chiến đấu và loại bỏ nỗi lo lắng của các chiến binh, nhưng phán đoán của Grigori lại khác. Bất kỳ người sử dụng thần thánh ma pháp nào mượn sức mạnh của thần cũng hiểu rằng không thể liên tục thực hiện những phép màu phi lí như vậy.

それは士気高揚に繋がり、戦士達から不安を取り除く効果も得られているのだが、グレゴリーの判断は違った。神の力を借り受ける神聖魔法の使い手ならば誰でも、そんな出鱈目な奇跡を連発出来る訳がないと理解出来るからである。

Phép màu đó có giới hạn số lần.

その奇跡には、回数制限がある。

Có thể sẽ có thể sử dụng lại sau một khoảng thời gian, nhưng đó là điều mà “chỉ có thần mới biết”.

時間経過によって再行使が可能になるかも知れないが、それこそ〝神のみぞ知る〟というヤツだ。

Đối với Grigori, anh ta chỉ đơn giản là thực hiện một cách cẩn thận những gì mình có thể làm mà không phụ thuộc vào phép màu đó.

グレゴリーとしてはそんな奇跡に頼らず、自分に出来る事を丁寧に行うだけであった。

Và sau đó...

そして後は──

(Hừ, ai đó sống sót và kể lại chiến công của ta nhé!!)

(へッ、誰か生き残って、オレの雄姿を語り継いでくれや!!)

Anh ta chỉ mong như vậy.

そう願うだけであった。

Nếu có ai đó sống sót, đó sẽ là chiến thắng của nhân loại.

誰かが生き残ったなら、それは人類の勝利なのだ。

Anh ta có thể tự hào ở thế giới bên kia rằng cuộc sống của mình đã có ý nghĩa.

自分の生に意味があったのだと、あの世で自慢出来るというものであった。

Đó chính là điều mà Luminous đã khích lệ, “việc tìm thấy giá trị trong cuộc sống của mình là một điều may mắn”.

それこそ、ルミナスが鼓舞するように『自分の命に価値を見出せる事は幸運である』というヤツである.

Tầm nhìn của Grigori khi đối mặt với cái chết đã mở rộng, và anh ta có ảo giác như đang nhìn bao quát chiến trường phía tây.

死を目前にしたグレゴリーの視野が広がり、西側の戦場を俯瞰しているような錯覚に陥る。

Ở một góc của nhận thức đó, người đồng nghiệp cũ Glenda đang quát tháo đồng đội của mình.

その認識の端っこでは、元同僚のグレンダが仲間達を叱咤していた。

Dù cánh tay trái của Glenda đã bị mất, nhưng trên khuôn mặt cô không có dấu hiệu của sự tuyệt vọng, cô bắn khẩu súng lục trong tay phải và hạ gục một con quái vật dị hình.

そんなグレンダの左腕は失われているが、その顔に絶望の色はなく、右手に構えた拳銃を撃ち放って異形の怪物を一体仕留めている。

‘Các ngươi, dùng cái đầu một chút đi!! Sẽ mất sáu mươi giây để hồi phục!! Phục sinh thì năm phút một lần!! Nếu muốn chết, thì hãy canh thời gian mà chết!! Đừng có lãng phí phép màu của thần!!’

『テメエら、少しは頭を使いな!! 回復まで六十秒!! 蘇生は五分に一回さね!! 死ぬなら、タイミングを見てから死ね!! 神の奇跡を無駄にするんじゃないよ!!』

Glenda đã không từ bỏ chiến thắng.

グレンダは勝利を諦めていないのだ。

Vết thương nhỏ thì tự mình chữa lành bằng khả năng hồi phục, còn vết thương lớn không thể nào chữa được thì nhờ vào phép màu của Luminous. Trên cơ sở đó, cô đã tính toán thời gian và thực hiện những đòn tấn công liều chết có khả năng tử vong cao.

少しの怪我なら自分達の回復で癒し、どうしようもない大怪我はルミナスの奇跡に頼る。その上でタイミングを見計らい、死ぬ可能性の高い特攻を行っていたのである。

Khác với Grigori, Glenda có vẻ đã chết vài lần trong trận chiến này.

グレンダはグレゴリーと違って、この戦いで既に何度か死んでいたようだった。

(Không thể nào!? Glenda, người vốn chỉ nghĩ cho bản thân, lại đang hành động như một tấm gương cho thuộc hạ!!)

(嘘だろ!? あの自己中そのものだったグレンダが、手下共の手本となるように動いてやがる!!)

Hơn nữa, có vẻ như cô ta tin chắc rằng phép màu phục sinh sẽ xảy ra nhiều lần.

しかもどうやら、蘇生の奇跡は何度でも起こる、と信じ切っている様子だ。

Vô cùng điên rồ.

とんでもなくクレイジー。

Vậy mà lại rất đáng tin cậy.

それなのに、とても頼もしかった。

Biết được một khía cạnh mới của Glenda, Grigori cảm thấy xấu hổ về bản thân.

そんなグレンダの新たな一面を知って、グレゴリーは己を恥じた。

Trên cơ sở đó, anh ta đã thay đổi lớn về ý thức của mình, từ việc sẵn sàng chết đến việc sẽ bảo vệ dù có chết.

その上で、どうせ死ぬではなく死んでも守り続ける──と、大いに意識を改革したのだった。

………

………

……

……

Khoảnh khắc tiếp theo.

次の瞬間。

Cánh tay của Kakeashi lao về phía Grigori.

カケアシの腕が、グレゴリーに迫る。

Những móng vuốt hung dữ có thể nghiền nát con người thành từng mảnh đã giáng xuống đầu Grigori.

人など粉微塵にしそうな凶悪な爪が、グレゴリーの頭上から振り下ろされた。

Trong nhận thức đang bị kéo dài, Grigori đã kích hoạt ‘Cơ Thể Kim Cương (Katai Hito)’ một cách hoàn hảo và chờ đợi.

引き延ばされたままの認識の中で、グレゴリーは『鋼身体(カタイヒト)』を万全に発動させて待ち構える。

Vì không thể đối phó bằng tốc độ, nên không còn cách nào khác ngoài việc dùng thân mình để chặn lại.

速度では対応不可能なので、その身を挺(てい)して受け止める他ないのだ。

Đó đồng nghĩa với cái chết, nhưng Grigori không hối tiếc. Ngược lại, anh ta đã sẵn sàng đứng chặn lại bao nhiêu lần cũng được.

それは〝死〟と同義であるが、グレゴリーに後悔はない。それどころか、何度でも立ち塞がる気持ちであった。

Thế nhưng.

ところが、だ。

“Bây giờ!!”

「今っす!!」

“Waooooon!!”

「ワオーーーーンッ!!」

Giọng nói đó đến muộn hơn.

という声は、遅れてやって来た。

Kakeashi đang lao đến trước mặt đã bị một cơn lốc đen bất ngờ xuất hiện thổi bay đi.

目の前に迫ったカケアシが、突然湧いて出たような黒い突風に吹き飛ばされたのである。

“Thành công rồi!!”

「成功っスよ!!」

“Làm tốt lắm, Gobuta! Quả nhiên như ngươi đoán, tên đó cũng không quen với chuyển động của hình người.”

「やったな、ゴブタ! やはり貴様の見立て通り、アヤツも人型の動きに慣れていないようだ」

Đó là cặp đôi Gobuta và Ranga.

ゴブタとランガのコンビだった。

Sau khi đến chiến trường với tư cách viện quân, họ đã rình rập chờ đợi thời cơ quyết định.

戦場に援軍として到着してから、決定的瞬間を狙って機を窺っていたのである.

Nếu Kakeashi vẫn ở dạng thú, họ sẽ phải dùng một chiến thuật khác. Nhưng vì nó đã biến thành hình người, một khả năng đã nảy ra trong đầu Gobuta.

カケアシが獣のままであれば、もっと違った戦法を取らねばならなかった。しかし人型になった事で、ゴブタにはとある可能性が思い浮かんだのだ。

Đó là ký ức cay đắng về một thất bại trong quá khứ của chính họ.

それはかつての、自分達が失敗した苦い記憶。

Một cơ thể không quen thuộc, dù có được tăng cường đến đâu... không, càng mạnh thì càng khó điều khiển.

慣れない肉体とは、どんなに強化されていても──いや、強ければ強いほど扱い難いものなのである。

Chính vì đã nhớ được điều đó qua kinh nghiệm thực tế, Gobuta và Ranga đã chờ đợi khoảnh khắc đó.

それを実体験として覚えていたからこそ、ゴブタとランガはその瞬間を待った。

Họ đã ẩn mình trong bóng tối, quan sát Kakeashi suốt một thời gian dài.

影に潜んで、ずっとカケアシを観察して。

Và rồi, khi thấy Kakeashi di chuyển, họ đã hành động.

そして、カケアシが動いたのを見て、行動に移ったのである。

Dù đã biến Grigori thành mồi nhử, nhưng kết quả tốt đẹp thì mọi thứ đều ổn.

グレゴリーを囮にした形だが、結果良ければ全てヨシであった。

“Đến cả ta cũng bị lôi vào nữa chứ...”

「わっちまで付き合わされたでありんす……」

Kumara cũng đang tỏ ra không hài lòng.

と、不満顔のクマラもいる。

Vì kết quả đã đúng như ý đồ của Gobuta và những người khác, có vẻ như cô đã quyết định để lại những lời phàn nàn sau. Cô dùng đuôi của mình chém đứt một Ảo thú (Cryptid) cấp “Hạt giống Ma vương” một cách hờ hững.

ゴブタ達の狙い通りの結果になったので、文句は後回しだと判断したようだ。尻尾で無造作に、〝魔王種〟級の幻獣族(クリプテッド)を斬り捨てている。

Có vẻ như cô đã tích tụ rất nhiều sự bất mãn, và những Ảo thú (Cryptid) đã trở thành nơi trút giận của cô.

よほど不満が溜まっている様子だが、その捌け口になったのは幻獣族(クリプテッド)達だった。

“Lên nào!”

「行きなんし!」

Kumara ra lệnh, biến đuôi của mình thành “Bát bộ chúng”.

と、尻尾を『八部衆』に変化させて、クマラが命令を下す。

Cuộc phản công đã bắt đầu.

反撃が始まった。

Trong lúc Gobuta và Ranga đang kìm chân Kakeashi, cuộc chiến đã trở nên khốc liệt hơn với khí thế quét sạch những bầy thú khác.

ゴブタとランガがカケアシを抑えている隙に、その他の群れを駆逐する勢いで戦闘が激化していくのだった。

Nhân tiện, nói thêm...

ちなみに、余談だが──

‘Ta có nhớ người đó.’

『あの者には見覚えがあるな』

‘Đó là người mà Ranga-san đã chơi đùa đó.’

『ランガさんがオモチャにしていた人っすよ』

‘Hừm!?’

『ムムッ!?』

‘Là một người rất cứng cáp!’

『頑丈な人だったっす!』

Có một cuộc trò chuyện như vậy đã diễn ra, hoặc có thể là không.

といった会話があったとか、なかったとか。

Grigori, người đã được cứu, cũng đang trong tình trạng phức tạp.

助かったグレゴリーはというと、こちらも複雑だ。

“Chậc, làm hỏng quyết tâm của ta rồi. Chính vì vậy mà ta ghét chó.”

「チッ、オレ様の覚悟を台無しにしやがってよ。これだから、犬っころは大嫌いなんだよ」

Grigori, người sau này được gọi là “Pháo đài bất động ghét chó”, đã lúng túng che giấu sự xấu hổ của mình như vậy.

後の世で〝犬嫌いの不動要塞〟と呼ばれる事になるグレゴリーは、照れくさそうにそう誤魔化したのだった。

Phía Nam.

南方面にて。

Ở nơi này, là sân khấu độc diễn của Ultima.

この地では、ウルティマの独壇場だった。

Swim, khác với Kakeashi, đã tàn phá chiến trường ngay từ đầu.

スイームはカケアシと違い、最初から戦場で暴れている。

Người đã ngăn chặn điều này và ngăn chặn thiệt hại chính là Ultima.

これを阻止して被害を食い止めていたのが、ウルティマの活躍だった。

………

………

……

……

Swim vốn dĩ bơi lội giữa các vì sao của một thế giới khác rộng lớn hơn cả vô số vũ trụ cộng lại. Tốc độ chiến đấu tối đa của nó đạt đến cận ánh sáng, và bằng cách dịch chuyển không gian qua “Dị giới môn” mà nó có thể tạo ra như thở, nó chính là một thảm họa đã hủy diệt vô số quốc gia giữa các vì sao.

スイームは本来、数多(あまた)の宇宙を含めたよりも広大な異界の星間を泳ぐ。その最大戦速度は亜光速に達し、息をするように発生させられる〝異界門〟を通じて空間を跳躍する事で、無数の星間国家を滅ぼしている天災そのものだ。

“Dị giới môn” là một loại “cổng dịch chuyển”, là một phương pháp dịch chuyển không gian nhằm mục đích di chuyển siêu dài ở cấp độ vũ trụ. Swim bằng cách thiết lập những cánh cổng này ở nhiều nơi, có thể dễ dàng đi lại giữa những nơi đã từng đến.

〝異界門〟とは〝転移門〟の一種で、宇宙単位での超長距離移動を目的とした空間転移である。スイームはこれを各所に設置する事で、一度訪れた場所なら簡単に行き来可能なのだった。

Swim đó, chỉ riêng giá trị tồn tại đã có thể sánh ngang với “Long chủng”.

そんなスイームだが、存在値だけなら〝竜種〟に匹敵している。

Cơ thể khổng lồ của nó ngay cả ở trạng thái bình thường cũng đạt đến hai nghìn mét, và nếu Swim muốn, nó có thể trở nên to lớn hơn nữa. Chỉ riêng việc sử dụng tốc độ và sức phá hoại cũng đã khiến nó trở thành một tồn tại vô địch, vượt ra ngoài khái niệm về chiến đấu cá nhân.

その巨躯は通常時でさえ二千メートルに達する上に、スイームが望めばそれ以上にも巨大化出来る。速度と破壊力に物を言わせるだけでも最凶無比で、個々人の戦闘という概念からは逸脱した存在だった。

Cơ thể đó có thể tự do thay đổi kích thước, nhưng chỉ cần suy nghĩ một chút cũng có thể hiểu rằng nó không thích hợp để hoạt động trên mặt đất.

その体躯は自由にサイズ変更が可能なのだが、地上で活動するには不向きなのは、少し考えればわかる話であろう。

Dù cho đó có là thế giới cốt lõi rộng lớn, sự thật đó cũng không thay đổi.

それが広大な基軸世界であったとしても、その事実は変わらない。

Dù vậy, khi được “mẹ” gọi, nó không thể từ chối.

それでも──〝ママ〟に呼ばれたら否はないのだ。

Trong sự phấn khích của trải nghiệm đầu tiên đó, Swim đã hiện thân trên mặt đất.

その初めての体験に興奮しつつ、スイームは地上に顕現したのである。

Swim đã cố gắng biến thành một kích thước phù hợp để hoạt động trên mặt đất, nhưng có vẻ như nó vẫn còn quá lớn. Nó đã điều chỉnh kích thước một chút và biến thành một hình dạng có thể di chuyển vừa phải.

地上にて活動に適したサイズになったつもりのスイームだったが、それでもまだ巨大過ぎたようだ。少しサイズを調整して、程よく動けるくらいの姿になった。

Khoảng cách đến kẻ địch quá ngắn, và thông thường sẽ không thể đạt được tốc độ tối đa. Nhưng, Swim thì khác. Nó có thể đạt đến cận ánh sáng ngay từ khi xuất phát và có thể tàn sát những kẻ địch mà nó chạm phải.

敵までの距離は余りにも短くて、普通なら最高速度に達するのも不可能。しかし、スイームは違った。出だしから亜光速に達し、触れる敵を蹂(じゅう)躙(りん)可能なのである。

Lần này cũng vậy.

今回も同じ。

Giống như vô số quốc gia giữa các vì sao, hành tinh này đáng lẽ cũng đã biến thành một vùng đất chết.

無数の星間国家同様、この星も死の大地に変貌するハズだった。

Tuy nhiên, Swim đã bị cản trở.

ところが、そんなスイームに邪魔が入ったのである。

………

………

……

……

Swim bơi trên chiến trường với tốc độ cận ánh sáng.

スイームは、亜光速で戦場を泳ぐ。

Ultima đã dự đoán điều đó và đã sơ tán những người đáng lẽ sẽ trở thành con mồi.

ウルティマはそれを予測して、本来なら餌食となったであろう者達を避難させた。

“Các ngươi có nghiêm túc không vậy? Nếu tên này ra khỏi ‘Kết Giới Thánh Tịnh Hóa (Holy Field)’, thì coi như xong đó?”

「キミ達さあ、真面目にやってる? コイツが〝聖浄化結界(ホーリーフィールド)〟の外に出たら終わりなんだよ?」

Ultima vừa quát tháo như vậy, vừa tự mình đứng trước mặt Swim để dẫn dụ.

ウルティマはそんなふうに檄を飛ばしつつ、自らスイームの前に立ち誘導を行った。

Cô đã đọc được hướng di chuyển của Swim và đặt một “cổng dịch chuyển” trên đường đi của nó. Bằng cách đó, cô đã thao túng được đường đi của Swim và thành công giữ chân nó ở lại đây.

スイームの進行方向を読み切り、その途上に〝転移門〟を設置する。そうする事でスイームの進路を操作し、この場に留める事に成功したのだった。

Không chỉ vậy.

それだけではない。

Cô đã yêu cầu Verugrynd hợp tác và giăng “Bát Môn Kiên Trận”.

ヴェルグリンドに協力を要請し、〝八門堅陣〟を仕掛けてもらった。

Verugrynd, người đang cố gắng phục hồi thể lực bằng cách hợp nhất tất cả các “cơ thể khác” của mình, đã cố gắng đáp lại yêu cầu của Ultima. Dù đang ở phía đông, cô đã mở một “cánh cổng” ở nơi mà Ultima mong muốn.

全ての『別(べっ)身(しん)体(たい)』を統合して体力回復に努めていたヴェルグリンドだが、無理を押してウルティマの要請に応じてくれた。東方面にいながらにして、ウルティマの望む場所に〝門〟を開いてくれたのだ。

‘Không sao chứ? Chắc cô cũng hiểu, nhưng đây là điều kiện bất lợi cho phe phòng thủ đấy?’

『大丈夫なの? 貴女なら理解しているでしょうけど、これは守備側が不利になる条件なのよ?』

‘Tất nhiên là tôi hiểu. Nhưng mà, thay vì chiến đấu trong khi bảo vệ những kẻ vướng chân, một mình tôi sẽ linh hoạt hơn ♪’

『勿論理解しているよ。でもさ、足手まといを守りながら戦うより、ボク一人の方が身軽だからね♪』

Đối với Verugrynd đang lo lắng, Ultima đã trả lời một cách tự tin.

心配するヴェルグリンドに対し、ウルティマは気負わずにそう答えた。

Thực tế, Swim quá khác biệt.

実際、スイームは別格過ぎた。

Nếu nghĩ đến việc có thể đánh bại nó hay không, thì câu trả lời là ngay cả Ultima cũng khó có thể làm được.

倒せるかどうかで考えれば、ウルティマでも難しいというのが答えである。

Tuy nhiên, chỉ câu giờ thì có thể.

ただし、時間稼ぎだけなら出来るのだ。

Mong muốn của Rimuru là không để có thêm bất kỳ thương vong nào. Nếu muốn bảo vệ điều đó, việc đưa trận chiến về thế một chọi một là chiến lược tốt nhất.

リムルの望みは、可能な限り犠牲者を出させないこと。それを守ろうとするなら、一対一の戦いに持ち込む方が戦略的に最善なのである。

Ít nhất, Ultima đã quyết định như vậy.

少なくとも、ウルティマはそう決断を下したのだ。

Verugrynd cũng đã hiểu được ý đồ của Ultima. Cô đã hoàn toàn hiểu được tính hữu dụng của nó và đáp ứng yêu cầu.

ウルティマの意図を、ヴェルグリンドも汲み取った。その有用性も十分に理解し、要望に応じてくれたのだった。

Và bây giờ.

そして、今。

Ultima đã dụ Swim vào “Bát Môn Kiên Trận” và đang kháng cự một cách liều chết.

ウルティマは〝八門堅陣〟にスイームを誘い込み、決死の抵抗を演じていた。

Dù gọi là Bát Môn, nhưng thực tế chỉ có một. Chỉ có một không gian rộng lớn, tối ưu cho trận đấu một chọi một.

八門というが、実際には一つしかない。一対一に最適な、広大な空間が広がるのみであった。

Bên trong đó, Swim đang bơi lội tung hoành.

この中を、スイームが縦横無尽に泳いでいた。

Mục tiêu của nó là Ultima, nhưng nó vẫn chưa đạt được mục đích.

その狙いはウルティマなのだが、目的を達せずにいる。

Đối với Ultima, đó chỉ là một công việc đơn giản là chơi trò đuổi bắt.

ウルティマからすれば、鬼ごっこするだけの簡単なお仕事だったのだ。

“Đúng như mình nghĩ ♪ Tên này không có nhiều trí tuệ, lại chỉ biết dùng sức nên dễ dàng đọc được ý đồ của nó.”

「やっぱりね♪ コイツ、知恵はそんなにないし、力任せだから狙いも簡単に読めちゃうよ」

Ultima tỏ ra vui vẻ.

と、ウルティマは御機嫌だ。

Swim là một kẻ mạnh nhất, nhưng đó là đối với những kẻ không chạy trốn.

スイームは最凶無比だったが、それは逃げもしない相手に対してだった。

Các phương thức tấn công của Swim rất đa dạng.

スイームの攻撃手段は多岐に渡る。

Tiêu biểu là các đòn tấn công trực tiếp bằng cách húc hoặc dùng xúc tu, nhưng chúng vô dụng đối với những đối thủ không thể bắt được.

代表的なのは体当たりや触手での直接攻撃なのだが、捕まえられない相手には無意味だった。

Vậy thì, Swim thay đổi phương châm.

ならば──と、スイームは方針を変える。

“Ngư lôi Linh tử”, có sức mạnh phá hủy một hành tinh chỉ bằng một phát bắn, được tạo ra từ phần xúc tu của Swim có khả năng『Tái Sinh Vô Hạn』. Nó sẽ tự động truy đuổi mục tiêu với tốc độ cận ánh sáng và trở thành một đòn chí mạng... nhưng Ultima đã sử dụng những bản sao (dummy) tạo ra từ ma tố làm mồi nhử để vô hiệu hóa tất cả.

一発で惑星すら粉々にする破壊力を秘めた〝霊(れい)子(し)魚(ぎょ)雷(らい)〟は、スイームの『無限再生』される触手部分から生成される。それは目標に向けて亜光速で自動追尾し、必殺の一撃となるのだが……ウルティマは魔素で生み出した複製体(ダミー)を囮とする事で、全て無効化させていた。

Bản sao (dummy) không có năng lực chiến đấu, chỉ là một cơ thể đơn thuần được tạo ra từ ma tố, nên có thể tạo ra gần như vô hạn. Đối với những kẻ có trí tuệ thì nó vô dụng, nhưng đối với Swim thì lại vô cùng hiệu quả.

複製体(ダミー)とは戦闘力も何もない、魔素を固めただけの単なる素体なので、ほぼ無尽蔵に作成可能なのだ。知恵ある者には無意味な代物なのだが、スイームに対しては非常に有効だったのである。

Đây là lần đầu tiên Swim nhận ra Ultima.

ここで初めて、スイームはウルティマを認識したのだ。

Tuy nhiên, không phải là kẻ thù.

ただし、敵としてではない.

Không phải là một trò tiêu khiển như thường lệ, mà là nó muốn tự mình phá hủy.

いつものような暇つぶしではなく、自らの意思で壊したいと考えた。

Đó chính xác là suy nghĩ của một đứa trẻ lần đầu tiên được cho một món đồ chơi.

それはまさに、初めてオモチャを与えられた子供のような思考だった。

Swim, không biết chừng mực, đã sử dụng con át chủ bài của mình ở đây.

加減を知らないスイームは、ここで奥の手を用いた。

Nếu “Ngư lôi Linh tử” không hiệu quả, thì chỉ còn lại con át chủ bài chính là “Pháo Hạt Khuếch Tán Hội Tụ (Quantum Splash)”.

〝霊(れい)子(し)魚(ぎょ)雷(らい)〟がダメなら、残るは本命となる〝拡散歪曲量子砲(クアンタムスプラッシュ)〟しかない。

Đó là vũ khí hủy diệt lãnh địa mà Swim tự hào.

スイーム御自慢の、領域破壊兵器なのだ。

Swim đã sử dụng “Pháo Hạt Khuếch Tán Hội Tụ (Quantum Splash)” để biến vô số hệ sao thành hư vô. Nếu có sự sống, nó sẽ chơi một trò chơi khác, còn không thì chỉ là vật cản đường.

スイームは〝拡散歪曲量子砲(クアンタムスプラッシュ)〟を用いて、数多の星系を無に帰してきた。生命が誕生していれば別の遊びをするのだが、そうでなければ邪魔なだけだったからだ。

Theo kinh nghiệm của Swim, không có gì có thể chịu được sức mạnh của đòn tấn công này.

スイームの経験上、この攻撃の威力に耐えられたモノはない。

Đây là lần đầu tiên nó sử dụng trên mặt đất, và Swim cũng rất mong chờ kết quả.

地上で用いるのは初めてだが、それもまた結果が楽しみなスイームなのである。

Và rồi, đúng lúc không may.

そして、折り悪しく。

Món quà từ Ivalage đã được gửi đến Swim vào đúng thời điểm này.

このタイミングでイヴァラージェからのプレゼントが、スイームへと届けられたのだ。

Swim, ngay sau khi bắn xong “Pháo Hạt Khuếch Tán Hội Tụ (Quantum Splash)”, đã biến thành hình người.

スイームは〝拡散歪曲量子砲(クアンタムスプラッシュ)〟を放ち終えるなり、人の姿に変化したのだった。

Một cơn bão mạnh mẽ tàn phá phía nam.

強烈な爆風が南方面を蹂躙する。

Đó là do “Bát Môn Kiên Trận” do Verugrynd xây dựng đã sụp đổ vì không chịu nổi áp lực bên trong.

ヴェルグリンドが構築した〝八門堅陣〟が、内部の圧に耐えかねて崩壊したからだ。

Vì không lấy chính Verugrynd làm lõi, nên có khả năng độ bền có điểm yếu. Tuy nhiên, dù vậy, việc xảy ra một hiện tượng dị thường đến mức bỏ qua cả định luật là một sự thật không thể chối cãi.

ヴェルグリンド自身を核としていなかった為に、強度面に脆弱性があった可能性はある。しかしそれでも、法則を無視するほどの異常現象が起きたのは、紛れもない事実であった。

Thương vong nhiều... đã không xảy ra vì Ultima đã cảnh báo ngay trước khi nó sụp đổ.

死者多数──とならなかったのは、崩壊する直前にウルティマによって警告がなされたからだ。

Nhận được điều này, dưới sự chỉ huy của Veyron và Zonda, hai trăm thành viên của Hắc Sắc Quân Đoàn (Black Numbers) đã triển khai kết giới phức hợp để bảo vệ Myuuran.

これを受けて、ヴェイロンやゾンダの指揮の下、黒色軍団(ブラックナンバーズ)二百名がミュウランを守るように複合結界を展開させていたのだ。

Tất nhiên, Misora, Kahn và thuộc hạ của họ, cũng như Maeter và những người khác cũng đã hợp tác. Vượt qua sự khác biệt về phe phái, họ đã thể hiện một sự phối hợp hoàn hảo.

当然、ミソラやカーンとその配下、メーテル達もこれに協力している。勢力の違いを乗り越えて、一糸乱れぬ連携を披露して見せた。

Hơn nữa, Verugrynd đã làm biến dạng không gian.

更にはヴェルグリンドが、空間を捻じ曲げていた。

Dù đang ở phía đông nhưng ngay khi cảm nhận được sự bất thường, cô đã ngay lập tức thao túng để dòng chảy chính của xung kích hướng về phía “Thiên Thông Các”.

東方面に居ながら異常を察知するなり、衝撃の本流が〝天通閣〟に向かうように、咄嗟に操作していたのだ。

Đó là một phán đoán tuyệt vời.

ナイス判断であった。

Nhờ vậy, “Kết Giới Thánh Tịnh Hóa (Holy Field)” đã tránh được sự sụp đổ.

これによって、〝聖浄化結界(ホーリーフィールド)〟は崩壊を免れたのだった。

Dù vậy, thiệt hại vẫn rất lớn.

それでも、被害は甚大だ。

Bên trong không gian hạn chế và bị cách ly của “Bát Môn Kiên Trận”, một nguồn năng lượng siêu khủng có quy mô phá hủy một hệ sao đã hoành hành. Sức mạnh của nó không thể tưởng tượng được, và nếu không phải là thế giới cốt lõi, một sân khấu có độ bền vượt trội so với các chiều không gian khác, thì không chỉ “Bát Môn Kiên Trận” mà cả chính ngôi sao cũng đã bị thổi bay không một dấu vết.

〝八門堅陣〟という隔離された限定空間の中で、星系を破壊する規模の超絶エネルギーが荒れ狂った。それは想像を絶する威力で、基軸世界という他の次元とは隔絶した強度を誇る舞台でなければ、〝八門堅陣〟どころか星そのものが跡形もなく消し飛んでいたはずだ。

(Thật kinh khủng...)

(凄まじいわね……)

Verugrynd cũng toát mồ hôi lạnh.

と、ヴェルグリンドも冷や汗ものだ。

Dù đã hành động ngay khi cảm nhận được sự sụp đổ của thuật, nhưng kết quả đó cũng là nhờ cô đã quan sát hoạt động của Ultima qua thuật.

術の崩壊を察知すると同時に動いたが、その結果も全て、術を通じてウルティマの活躍を観察していたお陰だった。

Nếu cô đã bỏ mặc, thì thiệt hại lúc này sẽ khủng khiếp đến mức nào.

もしも放置していたならば、今頃どれほどの被害が出ていたか恐ろしい。

Dù vậy, đó vẫn là phương án tốt nhất không thể nghi ngờ.

それでも、それが最善手だったのは間違いなかった。

Chiến lược cơ bản của Ultima chỉ là câu giờ.

ウルティマの基本方針は、時間稼ぎに徹する、これのみだ。

Cô không bao giờ cố gắng đánh bại Swim, mà chỉ duy trì trận chiến một cách an toàn và không quá sức.

決してスイームを倒そうとはせず、無理せず安全に戦闘を維持していた。

Điều này đã làm Swim sốt ruột và có hành động liều lĩnh.

これに焦れて、スイームが暴挙に出たのである。

Từ tình huống này, có thể đoán rằng trí thông minh của Swim là cực kỳ thấp.

こうした事態から、スイームの知性は限りなく低いと察せられた。

Một cuộc tấn công quy mô lớn trong một không gian hạn chế là một hành động có thể cuốn cả bản thân vào. Việc thực hiện nó mà không chút do dự cho thấy rằng nó hoàn toàn không cân nhắc đến hậu quả.

限定空間内での極大攻撃など、自身をも巻き込みかねない行為である。それを躊(ちゅう)躇(ちょ)なく行うあたり、後先の事などまったく考慮していないのが丸わかりなのだ。

Nhưng, kẻ thù như vậy rất phiền phức.

だが、こういう敵は厄介だ。

Vì lí lẽ và logic không có tác dụng, nên khó có thể xây dựng chiến thuật.

道理や理屈が通じないので、戦術を立て難いからである。

Nếu là một kẻ yếu thì không có vấn đề gì, nhưng tệ nhất là nó là một tồn tại có thể sánh ngang với “Long chủng”. Việc đối phó với nó là rất khó khăn, đến mức ngay cả Verugrynd cũng phải đau đầu.

弱者であれば全く問題にならないのだが、最悪な事に〝竜種〟に匹敵するほどの存在だ。これをどうにかするのは困難だと、ヴェルグリンドでさえ頭を悩ませるほどであった。

Hơn nữa, Swim dường như đã có sự thay đổi và sức mạnh của nó đã tăng lên rất nhiều.

しかも、スイームに変化があったようで、大きく力を増していた。

Sau khi có được hình dạng người, một cô gái, mật độ sức mạnh cũng đã tăng lên.

人の──少女のような姿を得た事で、力の密度も高まっている.

Nó xuất hiện tại hiện trường vụ sụp đổ với vẻ mặt thản nhiên. Từ việc nó không hề hấn gì dù bị cuốn vào sự sụp đổ của “Bát Môn Kiên Trận”, có thể thấy rằng những đòn tấn công vật lí thông thường sẽ vô dụng.

何食わぬ顔で平然として、崩壊跡に出現したのだ。〝八門堅陣〟の崩壊に巻き込まれても無傷である様子からして、生半可な物理攻撃では意味がないと思われた。

Đối với Ultima, cô trông thật thảm hại.

対するウルティマはというと、見るも無残なほどボロボロだった。

Bộ quân phục thời trang cũng bị rách nhiều chỗ, để lộ ra làn da trắng nõn đầy vết thương.

オシャレな軍服ふう衣装も所々破れていて、綺麗な素肌が傷だらけになっている。

Những vết thương như vậy đáng lẽ phải được tái tạo ngay lập tức, nên đó là bằng chứng cho thấy cô đã phải chịu một tổn thương nặng đến mức không thể làm được.

そうした傷など瞬時に再生されるハズなので、それが許されないほどのダメージを負った証拠であった。

Tiểu thư có sao không... Veyron và những người khác vừa định lo lắng thì lại lo lắng theo một nghĩa khác khi nhìn vào mắt cô.

御嬢様は大丈夫なのか──と心配しかけたヴェイロン達であったが、彼女の目を見て別の意味で心配になった。

Vì cô đang nổi điên.

ブチ切れていたからだ。

“Ngươi này, dám làm ta bị thương. Cả bộ đồ yêu thích mà Rimuru-sama tặng nữa, ngươi làm nó ra thế này... chết đi cho rồi.”

「キミさあ、よくもボクを傷つけてくれたよね。リムル様からのプレゼントだったお気に入りの衣装もさあ、こんなにしてくれちゃって…………もう死んじゃいなよ」

Giọng nói đều đều, nhưng ánh mắt thì vô cùng nghiêm túc.

口調は平坦で、目は本気(マジ)だった。

Lúc này, viện quân do Benimaru dẫn đầu đã đến.

この時は既に、ベニマル率いる援軍が到着していた。

Được bố trí ở phía nam là “Hồng Viêm Chúng (Kurenai)”, nhưng vì Ultima tỏa ra một khí thế quá đáng sợ, họ đã lầm tưởng cô là kẻ thù.

南方面に配置されたのは〝紅炎衆(クレナイ)〟だったのだが、ウルティマがあまりにも禍(まが)々(まが)しい気配を発していた為に、こちらが敵なのかと勘違いしてしまったほどだった。

Nhờ có Hakurou dẫn đầu, họ đã không mắc phải sai lầm ngu ngốc là tấn công nhầm đồng đội... đó thực sự là một may mắn.

ハクロウが率いていたお陰で、間違ってフレンドリーファイアしてしまうような愚行は冒さなかったのだが……それは間違いなく幸運であった。

Dù sao thì, từ khoảnh khắc này, tình hình đã thay đổi hoàn toàn.

ともかく、この瞬間から状況は一変した。

Ultima đã chuyển đổi ý thức của mình sang việc giết Swim.

ウルティマはスイームを相手に、殺すつもりに意識を切り替えたのである。

Vóc dáng của Ultima và Swim, kẻ mang hình dạng một cô gái, giống nhau đến kinh ngạc.

ウルティマと、少女を模したスイームの背格好は、驚くほど似通っていた。

Sự dễ thương của họ cũng giống nhau, đến mức có thể nghĩ rằng Swim đã bắt chước Ultima.

スイームがウルティマを手本にしたのかと思えるほどに、愛くるしい感じも同じである。

Tuy nhiên, trong trường hợp của Swim, đôi mắt không có ánh sáng và đục ngầu.

ただしスイームの場合、目に光はなく濁っている。

Có lẽ vì vậy mà vẻ mặt của nó cũng rất kì dị và có phần đáng sợ.

そのせいか表情も不気味で、どこか悍(おぞ)ましい。

Nhân tiện, Ultima có mái tóc buộc lệch, còn tóc của Swim thì dài đến eo và xõa ra. Nếu nhìn kĩ, từng sợi tóc của nó đều đang ngọ nguậy như xúc tu, trông rất đáng sợ.

ちなみに、ウルティマはサイドテールだが、スイームの髪は腰まである長髪が広がっている。その一本一本の毛先は、よく見ると触手のように蠢(うごめ)いていて不気味だった。

Toàn thân nó thoạt nhìn có vẻ trần trụi, nhưng lại được bao phủ bởi một lớp áo giáp biến đổi từ những chiếc vảy cứng và linh hoạt hơn cả Sinh thể Dị cương (Alionium).

その全身は一見すると全裸に見えるが、生体異鋼(アリオニウム)よりも硬くて柔軟な鱗が変化した鎧に覆われていた。

Rõ ràng là một hình dạng không phải người.

明らかに、人ではないとわかる姿だったのだ。

Ultima và Swim, cả hai đối mặt nhau ở khoảng cách gần.

ウルティマとスイーム、両者は近距離で向かい合う。

Sự chênh lệch là rõ ràng.

差は歴然。

Nếu tính theo giá trị tồn tại, Swim gấp hơn hai mươi lần Ultima.

存在値で換算するなら、スイームはウルティマの二十倍以上である。

Ai cũng nghĩ rằng trận đấu không thể nào diễn ra được... đó không phải là suy nghĩ của thuộc hạ của Ultima.

勝負が成立するはずがないと、誰もが思──わないのが、ウルティマの配下達だった。

Dám làm cho vua, hay công chúa của chúng ta nổi giận, thật là một kẻ ngu ngốc.

我らの王──あるいは姫──を激怒させるなどと、何という愚かな。

Đó là nhận thức chung của mọi người.

これが、全員に共通する認識であった。

Mà, nếu là người biết Ultima, thì sẽ nhận thức được rằng đây là một trận chiến không thể đoán trước được kết quả. Trên cơ sở đó, họ dự đoán rằng thiệt hại cho xung quanh cũng sẽ rất lớn, và đội hình đã được tái cấu trúc để đối phó với điều đó.

とまあ、ウルティマを知る者ならば、結果の読めない戦いだと認識されている。その上で、周囲への被害も相当なものになるだろうと予想され、それに対応するように陣形も再構築されたのだ。

Không chờ đợi điều đó, trận chiến khốc liệt đã bắt đầu.

それすら待たず、激闘が始まる。

Swim, lần đầu tiên sử dụng tứ chi của mình, đã bắt chước và tung đòn về phía Ultima. Ở một mức độ nào đó, kiến thức của Ivalage đã được chia sẻ. Chính vì vậy, một cú đấm tương đối ra dáng đã được tung ra.

スイームは、初めて手に入れた四肢を使って、見よう見真似でウルティマに殴り掛かった。ある程度だが、イヴァラージェの知識が共有されていた。それ故に、それなりに様になるパンチが繰り出された訳だ。

Người thường không thể nào nhìn thấy được.

常人では視認すら出来ない。

Ngay cả những anh hùng tập trung tại đây cũng không thể nhận ra chuyện gì đang xảy ra.

この場に集った英雄達でさえも、何が起きているのか認識すら出来ないほどだ。

Tuy nhiên, so với tốc độ cận ánh sáng, tốc độ đó chậm hơn rất nhiều.

けれど、その速度は亜光速に比べると、圧倒的に遅かった。

Điểm mạnh của Swim là khả năng bay siêu tốc với hiệu suất năng lượng tối đa, các phương thức tấn công phá hoại đa dạng, và một cơ thể cường tráng có thể chịu đựng được chúng. Tuy nhiên, bây giờ, lợi thế đó đã mất đi. Swim không thể điều khiển được cơ thể không quen thuộc của mình và không thể phát huy hết sức mạnh.

スイームの真骨頂は、エネルギー効率を最大限に高めた超高速飛翔と、多種多様な破壊攻撃手段、それに耐えうる強靭な肉体だ。ところが今、その利点は失われている。スイームは慣れぬ肉体を使いこなせず、全力を出せずにいたのである。

Trong tình trạng đó, không thể nào chống lại được Ultima.

そんな状態で、ウルティマに通用する訳がない。

Cú đấm của Swim, ngay khi chạm vào Ultima, đã bị phản đòn và quay trở lại chính nó.

スイームのパンチは、ウルティマに触れた瞬間にカウンターとなって、自身に返される事となる。

Swim kinh ngạc.

スイームは、驚愕した。

Swim, một kẻ mạnh áp đảo và khác biệt so với các sinh vật khác, chưa bao giờ phải nhận một đòn phản công rõ ràng như vậy.

他の生命体とは隔絶して圧倒的な強者であるスイームは、未だかつて、それとわかるほどの反撃を受けた事などなかったからだ。

Swim có thể tích trữ năng lượng vô tận bằng cách hít thở ma tố trôi nổi trong thế giới khác. Nó có thể chuyển đổi năng lượng đó thành lực đẩy, và từ năng lượng dư thừa, nó tạo ra “Ngư lôi Linh tử” và lưu trữ hơn một trăm triệu quả trong cơ thể.

スイームは異界に漂う魔素を呼吸する事で、無尽蔵にエネルギーを蓄積可能だった。それを流用して推進力に変換可能だし、余ったエネルギーから〝霊(れい)子(し)魚(ぎょ)雷(らい)〟を作成して、億を超える在庫が体内に保管されているのだ。

Vậy mà vì hiệu suất cơ bản quá khủng khiếp, nên hầu như không cần đến lượt chúng.

それなのに基本性能が凄すぎるせいで、それらの出番もほとんど必要としていなかった。

Hạm đội liên hợp vũ trụ do một quốc gia giữa các vì sao nào đó cử đi để đối phó với Swim, cũng đã bị tiêu diệt chỉ bằng cách nó giăng ra một “mạng lưới dao phân tử” được biến đổi từ xúc tu và lao qua. Dù có rào cản vô hiệu hóa bất kì loại vũ khí quang học nào, cũng không thể ngăn chặn được đòn tấn công khối lượng mang tính công kích với độ cứng cao nhất.

どこぞの星間国家が対スイーム戦へと派遣した宇宙連合艦隊も、触手を変化させた〝分子切断刃網(モレクルメッサー)〟を張り巡らせて駆け抜けるだけで殲(せん)滅(めつ)してのけた。どんな光学兵器をも無効にする障壁(バリア)があったとしても、最強硬度による攻撃性を秘めた質量攻撃を防げなかったのだ。

Ngược lại, dù có củng cố phòng thủ bằng khối lượng, đó cũng chỉ là một con mồi. Thậm chí không cần đến “Pháo Hạt Khuếch Tán Hội Tụ (Quantum Splash)”, chỉ cần siêu bùng nổ của “Ngư lôi Linh tử” cũng có thể hạ gục chúng một cách dễ dàng.

逆に、質量による守りを固めたとしても、そんなものはカモでしかない。それこそ〝拡散歪曲量子砲(クアンタムスプラッシュ)〟を使うまでもなく、〝霊(れい)子(し)魚(ぎょ)雷(らい)〟の超爆発だけで一蹴可能なのだった。

Vì vậy, lần này cũng là một trò chơi mới lạ đối với Swim.

だから今回も、スイームにとっては目新しい遊び。

Đáng lẽ là vậy, nhưng mọi chuyện lại khác.

そのハズだったのだが、どうも勝手が違っていた。

Đơn giản là... “chọn sai đối thủ”.

それも当然……〝相手が悪い〟の一言である。

Hơn nữa, đối với Ultima, đó là một cuộc tử chiến đặt cược vào lòng tự hào. Ngay từ đầu, sự quyết tâm đã khác biệt, nên Swim đã bị tụt lại phía sau rất nhiều.

しかも、ウルティマにとっては誇りを賭けた死闘だったのだ。最初から覚悟が違うので、スイームは大きく出遅れる形になっていた。

Swim tung ra một cú đấm với tư thế tương đối ổn. Chỉ riêng việc nó được bao bọc bởi yêu khí (aura) siêu nén, sức mạnh của nó đã rất đáng nể.

スイームが、それなりに見れるようになった構えでパンチを繰り出した。超圧縮された妖気(オーラ)も纏(まと)っているだけに、その威力は流石の一言である。

Tuy nhiên, dù chịu trực tiếp đòn này, Ultima vẫn tỏ ra bình thản. Cô đã điều khiển sức mạnh đó phân tán khắp cơ thể, và chuyển sang phản công mà không làm mất đi lực.

ところが、これの直撃を受けたにもかかわらず、ウルティマは平然たるものだ。その威力を身体全体に分散させるように操作して、勢いを殺す事なく反撃に転じている。

Đó đã là đỉnh cao của quyền pháp.

これはもう、拳法の極致だ。

Việc bị một chiếc tàu siêu tốc đâm trúng mà vẫn bình an vô sự... không còn là chuyện đó nữa, mà là một lĩnh vực vi phạm quy tắc, bỏ qua cả định luật của thế giới.

新幹線に生身で撥ねられても無事だった──どころの話ではなく、世界の法則すら無視するような反則的な領域なのだ。

Ultima hiện tại đã vượt qua cả trình độ của Damrada.

今のウルティマは、ダムラダの技量(レベル)すら超越していたのである。

“Ngươi sẽ phải hối hận vì đã làm ta nổi giận đó.”

「ボクを怒らせたコト、後悔するといいよ」

Ultima nói vậy và nở một nụ cười tà ác.

ウルティマはそう言って、邪悪な笑みを浮かべたのだった。

Luminous bay lượn trên không trung một cách hiên ngang, không để lộ ra vẻ mệt mỏi.

ルミナスは、疲弊を感じさせないように毅然と宙を舞い飛ぶ。

Việc liên tục kích hoạt “Thánh Vực Cực Đại Tử Giả Phục Sinh (Sanctuary Resurrection)” là một hành động ngu ngốc mà chính nàng, nếu ở trạng thái bình thường, sẽ nghi ngờ sự tỉnh táo của mình.

〝聖域型極大死者蘇生(サンクチュアリ・リザレクション)〟を定期的に発動させるなど、本来の自分であれば正気を疑うような愚行なのだ。

Dù cho đã sử dụng não bộ của những người tin tưởng vào Luminous để phân tán phép tính toán... không, ngược lại. Vì đã tập trung tất cả kết quả đó vào chính mình, nên nàng đang phải chịu một gánh nặng không thể tưởng tượng được.

いくらルミナスを信じる者達の脳を利用して、演算を分散させているとはいえ──いや、逆だ。その全ての結果を自身に集約させているのだから、想像を絶する負荷がかかっているのである。

Nàng đã biến chiến trường này thành một thánh địa, và khuếch đại tất cả các hiệu ứng ma pháp lên mức tối đa. Việc thực hiện điều đó mà không có sự đánh đổi, ngay cả với Luminous, cũng là không thể.

この戦場を聖域化させて、全ての魔法効果を極大化させている。それを対価なく行うなど、流石のルミナスでさえ不可能なのだ。

Nhưng, nếu không làm thì thất bại là điều chắc chắn...

けれど、やらなければ敗北確定で……。

Luminous đã âm thầm giấu đi nỗi đau mà từ “hi sinh” cũng có vẻ nhẹ nhàng, tiếp tục hỗ trợ những anh hùng đang chiến đấu trên chiến trường.

ルミナスは誰にも知られる事なく、自己犠牲という言葉が軽く思えるほどの苦痛を隠して、戦場で戦う英傑達を支え続けていたのだった。

Hơn nữa, Luminous cũng không lơ là việc quan sát chiến trường.

しかもルミナスは、戦場の観察も怠っていない.

Nàng luôn cảnh giác để có thể ngay lập tức hỗ trợ nếu có khu vực nào bị phá vỡ.

破綻した方面があれば直ぐに援護に回れるように、常に目を光らせていた。

Chính vì vậy, nàng hiểu rằng tình hình không mấy khả quan.

だからこそ、状況が芳しくないと理解しているのである。

Cuộc chiến ở ba mặt trận đã trở nên hỗn loạn hơn sau khi các thuộc hạ của Ivalage biến thành hình người.

三方での戦いは、イヴァラージェの従僕(シモベ)達が人化した事で、より混迷さを増していた。

Ultima đang chiến đấu rất tốt, nhưng các mặt trận khác thì không ổn.

ウルティマは善戦しているが、他方面は思わしくない。

Ở mặt trận phía tây, dù Shion cũng đã tham chiến và chiến đấu một cách ngoan cường, nhưng tình hình vẫn còn xa mới có thể gọi là ưu thế.

西方面など、シオンも参戦して大立ち回りを演じているものの、優勢というには程遠い状況なのだ。

Vậy mà, Benimaru, người đang chỉ huy ở mặt trận phía đông, lại rất hăng hái.

それなのに、東方面で指揮を執るベニマルは意気軒高だ。

Điều đó cũng là đương nhiên, vì Benimaru cũng đã nhận ra sự trở về của Rimuru.

それもそのはずで、ベニマルもまたリムルの帰還に気付いていたのだ。

Vì đại tướng đã trở về, nên họ sẽ không bao giờ thua cuộc... chính vì có thể tin vào điều đó, Benimaru đã có thể chỉ huy một cách táo bạo và quyết liệt hơn bao giờ hết.

大将が戻って来たのだから、自分達に敗北はない──そう信じられるからこそベニマルは、いつも以上に大胆に、鬼気迫るほどの采配を行えるのだった。

Tinh thần của Benimaru đã lan tỏa đến các cán bộ của Tempest.

ベニマルの心意気は、テンペストの幹部勢には伝わっている。

Chính vì vậy, mọi người đều có thể yên tâm tuân theo mệnh lệnh.

であるからこそ、誰もが安心して命令に従える。

Bầu không khí đó cũng đã lan rộng ra toàn bộ chiến trường, và mọi người đều chấp nhận sự chỉ huy của Benimaru, người mới đến sau này, mà không một lời phàn nàn.

そんな雰囲気は戦場全体にも伝播しており、誰も文句を言わずに後から来たベニマルの指示を受け入れたのだった。

Đúng là một người đàn ông tuyệt vời... Luminous thán phục.

凄い男よな──と、ルミナスは感嘆する。

Mặt trận phòng thủ của nhân loại nghe có vẻ hay, nhưng thực chất chỉ là một liên quân của những thế lực khác nhau. Dù có sự thống nhất về ý chí, nhưng nó vẫn tiềm ẩn nguy cơ trở thành một đám đông vô tổ chức nếu có sai lầm.

人類防衛戦線と言えば聞こえはいいが、言ってみれば勢力の違う者達による連合軍でしかない。一応の意思統一は見られるものの、一歩間違えれば烏合の衆になりかねない危険性を秘めていたのだ。

Tất nhiên, nếu thua trận chiến này, nhân loại sẽ diệt vong, nên chắc chắn không phải là lúc để lục đục nội bộ. Tuy nhiên, dù đầu óc có hiểu điều đó, nhưng liệu có thể chấp nhận về mặt tình cảm hay không, đó vẫn là một câu hỏi còn bỏ ngỏ.

勿論、この一戦に負けた時点で人類は破滅するのだから、仲間割れしている場合ではないのは確かだ。けれど、頭ではそれを理解していても、感情的に納得出来るのかと問われれば、疑問が残るというのが本音であった。

Nếu là vì một người mà mình kính trọng, yêu mến và tin tưởng từ tận đáy lòng, thì có lẽ sẽ có thể tuân theo bất kỳ mệnh lệnh nào.

自分が尊敬し、敬愛し、心の底から信じられる者の為であれば、どんな命令にだって従えるだろう。

Nhưng mà.

だが、しかし。

Nếu phải tuân theo mệnh lệnh của một người mà mình không biết rõ, thuộc một thế lực khác, và phải bỏ mạng, thì việc sợ hãi rằng “mình sẽ chết một cách vô ích” cũng là điều dễ hiểu.

他勢力の、それもよく知ぬ者の命令に従って命を落とすような事になれば、誰しも『犬死にになるのでは』と恐れてしまうのも無理はないのだ。

Như thể để xua tan đi nỗi lo lắng đó, những chỉ thị của Benimaru rất mạnh mẽ.

そんな不安を吹き飛ばすように、ベニマルの指示は力強かった。

Dù có rơi vào tình thế gần như thất bại, anh ta vẫn dẫn dắt các chiến binh mà không để họ cảm thấy như vậy.

敗色濃厚な局面になろうとも、そう思わせないように戦士達を誘導してのけたのだった。

Lí do các chiến binh vẫn chưa gục ngã là nhờ có viện quân từ Tempest.

今まで戦士達の心が折れなかったのは、テンペストからの援軍があったからだ。

Trong số đó, vai trò của người đàn ông tên Benimaru là rất lớn.

そんな中でも、ベニマルという男の占める割合は大きかったのである。

Luminous đã công nhận công lao đó và âm thầm cảm ơn.

ルミナスはその功績を認めて、密かに感謝していた。

Tuy nhiên, sự tỏa sáng đó cũng chỉ đến đây thôi.

しかし、その活躍もここまでだった。

Một sức mạnh tàn bạo tuyệt đối, không thể nào đối phó được bằng chiến lược hay chiến thuật, đã ra đời. Kẻ cầm đầu, Ivalage, đã có được hình dạng người và bắt đầu hành động.

戦略や戦術ではどうにもならないほどの、絶対的な暴威が誕生してしまった。親玉であるイヴァラージェが、人の姿を得て動き出したのだ。

Tình hình đã trở nên tuyệt vọng... nhưng ở đây, một phép màu đã xảy ra.

最早、状況は絶望的──だったのだが、ここで奇跡が起きた。

“Wahahahaha! Đã để các ngươi phải chờ!”

「わはははは! 待たせたのだ!」

Đúng lúc này, Millim đã tham chiến.

このタイミングで、ミリムが参戦する運びとなったのである。

“Millim, ngươi đã tỉnh lại rồi sao!”

「ミリムよ、正気に戻ったのか!」

Luminous vui mừng.

ルミナスは歓喜した。

(Nếu là Millim, có thể giao Ivalage cho nó. Trong lúc đó, nếu tiêu diệt được những thuộc hạ còn lại, vẫn còn đủ cơ hội chiến thắng!)

(ミリムにならば、イヴァラージェを任せられよう。その隙に残る従僕(シモベ)共を討ち取れば、まだ十分に勝機はありそうじゃ!)

Sự xuất hiện của Millim đã quét sạch bầu không khí tuyệt vọng đang bao trùm chiến trường.

ミリムの登場は、絶望に沈みかけていた戦場の空気を一掃してのけた。

Hơn nữa, còn có những viện quân đáng tin cậy khác đã đến.

しかも、他にも頼もしい援軍が到着していたのである。

“Chậc, ta không phải là tài xế đâu nhé? Mong đây là lần cuối cùng...”

「やれやれ、僕はアッシー君じゃないんだぜ? これで最後にして欲しいよ……」

Vừa phàn nàn như vậy, Yuki cũng đã trở về.

などと文句を言いつつ、ユウキも戻って来た。

Tất nhiên, những người của Đoàn Hề Trung Lập cũng vẫn khỏe.

当然、中庸道化連の連中も健在だ。

Ma vương Leon cũng ở đó.

魔王レオンもいる。

Dù Luminous không quen biết, nhưng Zalario cũng có mặt.

ルミナスとは面識がないが、ザラリオもいた。

Ngay cả Ma Pháp Sĩ Đoàn (Magus) do Thiên đế Elmesia và Sylvia dẫn đầu cũng có vẻ sẽ tham chiến, và tia hi vọng nhỏ bé đã trở thành một ngọn đèn lớn rực rỡ.

天帝エルメシアやシルビアが率いる魔法士団(メイガス)まで参戦するようで、僅かばかりだった希望の光が、大きな灯となって輝くようだった。

Và, điều khiến Luminous vui mừng nhất chính là sự tồn tại của “Dũng giả” Chloe.

それに、ルミナスにとって一番の喜びだったのが〝勇者〟クロエの存在だ。

“Thật tốt khi đã kịp lúc. Phải kết thúc chuyện này thật sự thôi!”

「間に合って良かった。これで本当に最後にしないと!」

Nói rồi, Chloe mỉm cười với Luminous.

そう言って、クロエがルミナスに笑いかけてきた。

“Ừm, đúng vậy.”

「うむ、そうじゃな」

Luminous cũng gật đầu mạnh mẽ.

と、ルミナスも大きく頷く。

Đúng vậy, đã đến được đây rồi.

そう、ここまで来たのだ。

Không ai bị loại, đã đến được đây. Giờ chỉ còn việc tiêu diệt những kẻ địch mong muốn sự hủy diệt của thế giới và giành lại hòa bình.

誰も脱落せず、ここまで辿り着いた。後はそう、世界の破滅を願う敵を屠(ほふ)って、平和を取り戻すだけなのだ。

“Nếu chúng ta tập hợp sức mạnh của mình, thì dù đối thủ có là ai cũng không phải là kẻ thù!!”

「我らの力を束ねれば、どのような相手であろうが敵ではないわ!!」

Luminous cũng đã lấy lại tinh thần và hăng hái cho trận chiến cuối cùng.

ルミナスも気力を取り戻し、最後の決戦に向けて意気込んだのだった。

Nhân tiện.

ちなみに。

“Ta cũng ở đây mà?”

「我もいるのだが?」

Tà long (Verudora) mà Luminous coi là chướng mắt đang hờn dỗi, nhưng điều đó đã bị phớt lờ một cách nhẹ nhàng.

ルミナスにとっては目障りな邪竜(ヴェルドラ)が拗ねているのだが、そんなものは軽く無視されたのだった。

Vậy là viện quân đã đến, và mỗi người đều tản ra đến những chiến trường phù hợp với mình.

そうして援軍が到着して、各々が適材適所となる戦場へと散っていく。

“Luminous, cứ giao con cá lớn cho ta!!”

「ルミナスよ、大物はワタシに任せるのだ!!」

Với vẻ vui mừng, Millim lao về phía Ivalage.

嬉々とした様子で、ミリムがイヴァラージェに向かって突撃して行く。

Nếu là người khác thì sẽ phải ngăn cản, nhưng Luminous đã định giao phó cho Millim ngay từ đầu.

他の者ならば制止すべき場面だが、最初からミリムに任せるつもりだったルミナスである。

“Tôi cũng sẽ đi hỗ trợ Millim.”

「私もミリムの援護に回るね」

Nói rồi, Chloe cũng di chuyển.

と言って、クロエも動く。

Dù Ivalage có làm gì đi nữa, với quyết tâm ngăn chặn một tương lai bất hạnh.

イヴァラージェが何をしようと、不幸な未来を防ぐ覚悟で。

Luminous biết sự thật rằng Chloe có thể nhìn thấy tương lai.

ルミナスは、クロエが未来を見通せるという事実を知っている。

Dù không biết chi tiết đến mức nào, nhưng nàng vẫn có thể tin vào lời của Chloe.

それがどのレベルまでなのか、そこまで詳しく聞いていた訳ではないのだが、それでもクロエの言葉ならば信じられるのだ。

Nếu là cặp đôi Millim và Chloe, thì dù đối thủ có là ai cũng sẽ không thua.

ミリムとクロエのコンビならば、どんな敵が相手だろうが負けはしないだろう。

Luminous đã tin như vậy.

ルミナスは、そう信じていた。

“Hãy cẩn thận vì không biết được thực lực của nó đâu!”

「底が知れぬ故、気を付けるのじゃぞ!」

Nói lời dặn dò, Luminous đã tiễn Millim và Chloe đi.

そう忠告して、ルミナスはミリムとクロエを送り出したのだ。

Và rồi, Yuki và những người khác đã tự ý đi giúp Mai.

そして、ユウキ達は勝手にマイを手伝いに向かっている。

(Hừm, quả nhiên là vậy. Chắc chắn là chỉ có thể là ở đó thôi.)

(ふむ、流石じゃな。確かに、そこしかあるまいよ)

Đối thủ của Swim là Ultima đang đảm nhiệm.

スイームの相手は、ウルティマが行っている。

Là mặt trận duy nhất đang chiếm ưu thế.

唯一、優勢に戦えていた。

Đối thủ của Habataki là Mai đang gặp khó khăn.

ハバタキの相手は、マイが苦戦中。

Người nguy hiểm nhất là Mai.

一番危険なのがマイだった。

Phán đoán của Yuki không phải là do tình cảm cá nhân, mà là một quyết định vô cùng thích hợp.

ユウキの判断は私情によるものではなく、実に適切なものだったのだ。

Và rồi, Kakeashi còn lại.

そして、残るカケアシだが。

Luminous lườm Verudora một cái sắc lẹm.

ルミナスはジロリと、ヴェルドラに視線を向けた。

“Ta... ta biết rồi! Không cần ngươi nói ta cũng không có ý định lười biếng đâu!”

「わ、わかっておるとも! 我だって言われるまでもなく、サボるつもりなどなかったぞ!」

Vừa lẩm bẩm như vậy, Verudora đã lao đi.

そんなふうにブツブツ言いながら、ヴェルドラが向かって行ったのだ。

Đối thủ của Kakeashi là Shion dẫn đầu, cùng với Gobuta và Ranga đang cố gắng hết sức.

カケアシの相手は、シオンを筆頭にゴブタ&ランガが頑張っている状況だ。

Kakeashi chắc chắn mạnh, nhưng không phải là đối thủ của Verudora. Luminous dù nói này nói nọ nhưng vẫn công nhận Verudora, nên nàng không hề nghi ngờ về điểm đó.

カケアシは確かに強いが、ヴェルドラには敵わない。ルミナスも何のかんの言ってヴェルドラを認めてはいるので、その点は疑っていないのだった。

Leon cũng đã hợp nhất với thuộc hạ của mình đang triển khai ở phía nam, và đang tiêu diệt những Ảo thú (Cryptid) bị lạc. Zalario và thuộc hạ của hắn cũng đã hỗ trợ và tỏa sáng.

レオンも南方面に展開中だった自身の配下達と合流し、はぐれた幻獣族(クリプテッド)の討伐を行っている。それを手伝う形で、ザラリオとその配下も活躍していた。

Ma Pháp Sĩ Đoàn (Magus) cũng đã tham chiến ở phía bắc, nơi đang bị áp đảo, và đã hợp tác để tái lập lại thế trận.

魔法士団(メイガス)も押され気味だった北方面に参戦し、態勢の立て直しに協力していた。

Mọi thứ đều thuận lợi.

全ては順調。

Tưởng là vậy, nhưng...

そう思われたのだが──

Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng của Luminous.

ルミナスの背筋に悪寒が走った。

“Kẻ nào!?”

「何ヤツ!?」

Cảm nhận được một khí tức chưa từng có, Luminous quay người lại.

今までなかった気配を察知して、ルミナスは身体を反転させた。

Ở đó, có một người đàn ông lịch lãm mặc một bộ vest đỏ rực bên ngoài chiếc áo cổ lọ màu xanh nhạt, có nét gì đó giống với Luminous.

そこには、青みがかったタートルネックに真っ赤なスーツをピシッと着こなした、どことなくルミナスに似通った優男がいた。

Hắn đang lơ lửng giữa không trung một cách lặng lẽ.

音もなく静かに、宙に浮かんでいたのだ。

Đôi mắt dị sắc vàng và bạc, đối xứng với của Luminous, đang tỏa sáng một cách ma mị.

ルミナスと対になるような、金銀妖瞳(ヘテロクロミア)が妖しく輝いている。

Người đàn ông đó không ai khác chính là Thần tổ, Twilight Valentine, người đáng lẽ đã bị tiêu diệt bởi “Thần Diệt Đạn (Judgement)” do Carrera tung ra.

その男は紛れもなく、カレラが放った〝神滅弾(ジャッジメント)〟で滅んだハズの神祖──トワイライト・バレンタインその人であった。

“Chậc, vẫn còn sống sao...”

「チッ、生きておったのか……」

“Tất nhiên rồi? Ngươi đúng là kiệt tác của ta, nhưng ta không dễ dãi đến mức để ngươi dễ dàng ‘vượt qua cha mẹ’ đâu.”

「当然だろ? 君は確かにボクの最高傑作だけど、そう簡単に〝親超え〟を許すほどボクは甘くないのさ」

Twilight trả lời Luminous với một nụ cười siêu phàm.

トワイライトは超然として、微笑みながらルミナスに答えた。

“Sao lưu tâm hạch (kokoro) và kí ức là điều cơ bản mà?”

「心核(ココロ)と記憶のバックアップは基本だろ?」

Twilight nói như thể đang dạy dỗ một người học trò ngu ngốc.

と、トワイライトはバカな弟子に教えるように告げる。

Thái độ đó khiến Luminous tức giận, nhưng nàng không hề nghi ngờ việc hắn còn sống. Có sự ngạc nhiên, nhưng Luminous là người biết rõ sự phiền phức của Thần tổ hơn ai hết.

その態度にイラッとするルミナスだったが、生きていた事に疑問はない。驚きはあるが、神祖の厄介さを誰よりも知っているのがルミナスなのだ。

Nuốt xuống sự căm ghét, nàng bắt đầu suy nghĩ về các biện pháp đối phó thực tế.

忌々しいという思いを呑み込み、現実的な対策を考え始める。

Không quan tâm đến Luminous, Twilight bắt đầu nói một cách đơn phương.

そんなルミナスにお構いなく、トワイライトは一方的に話し始めた。

“Mất khá nhiều thời gian để hồi sinh, nhưng ta đã mạnh hơn trước nên không có vấn đề gì.”

「復活するまでに時間はかかったけど、以前より強くなったから問題ないのさ」

Nói rồi, Twilight xoay tròn Thần Tổ Huyết Thương (Origin Blood) trong tay.

そう言って、トワイライトは手にしていた神祖の血槍(オリジンブラッド)をクルクルさせた。

Đó là thứ mà Jahil đã cầm.

それはジャヒルが持っていたものだ。

Ra là vậy... Luminous đoán.

そうか──と、ルミナスは察した。

Twilight đã đồng bộ hóa kí ức của mình với Thần Tổ Huyết Thương (Origin Blood) ngay từ đầu.

トワイライトは最初から、神祖の血槍(オリジンブラッド)に自分の記憶を同期させておいたのだろう、と。

Ngay cả khi Jahil còn sống, hắn cũng có thể chiếm đoạt cơ thể đó nếu muốn. Dù có thắc mắc tại sao hắn không làm vậy, nhưng Luminous quyết định rằng lo lắng về điều đó cũng vô ích.

ジャヒルが健在であった頃も、その気になればその身体を奪えたはずだ。何故そうしなかったのかという疑問はあるものの、それは気にしても仕方ないと割り切るルミナスである。

Phán đoán đó là đúng.

その読みは正しかった。

Thực tế, Twilight cũng có lí do của riêng mình.

実際、トワイライトにも事情はあったのだ。

Hắn đã hoàn toàn thông tin hóa tâm hạch (kokoro) của mình và trú ngụ trong Veruzard dưới dạng một quyền năng. Hắn đã tin chắc rằng mình đã đạt đến một sự tồn tại bất tử hoàn toàn, cho đến tận lúc nãy...

心核(ココロ)を完全情報化させて、権能という形でヴェルザードに宿っていた。完全に不滅な存在へと至っていると、つい先程まで信じ切っていたほどで……。

Tình hình hiện tại, đối với Twilight cũng là một điều bất đắc dĩ.

今のこの状況は、トワイライトにとっても不本意なのである。

Hắn đã quên mất sự tồn tại của bản sao lưu còn lại trong Thần Tổ Huyết Thương (Origin Blood) mà hắn đã giao cho Jahil, cho đến khi hồi sinh.

ジャヒルに託した神祖の血槍(オリジンブラッド)に残していたバックアップの存在なんて、蘇るまで忘れていたほどだった。

Tuy nhiên, tất cả đều không vô ích.

けれど、全ては無駄ではなかった。

Tính bất tử hoàn toàn của Twilight đã bị mất, nhưng quyền năng mà hắn đã có được, Kĩ năng Tối thượng『Ác Đức Vương (Anra Manyu)』, vẫn còn đó.

トワイライトの完全不滅性は失われてしまったが、獲得した権能である究極能力(アルティメットスキル)『悪徳之王(アンラ・マンユ)』は健在なのだ。

Twilight hiện tại không phải là một “Long thể giả”, nhưng hắn đang sở hữu một giá trị tồn tại áp đảo như một tồn tại gần gũi với nó.

今のトワイライトは〝擬(ぎ)竜(りゅう)体(たい)〟ではないのだが、それに近い存在として圧倒的な存在値を誇っているのだった。

Luminous không thể nào đọc được hết những điều đó.

ルミナスが、そこまで読み通せるはずもない。

Tuy nhiên, nàng hiểu rằng Twilight là một kẻ không thể lường trước được.

しかしながら、トワイライトが何でもありだと理解している。

Vì vậy, Luminous đã ở trong tư thế cảnh giác tối đa từ lâu.

だからルミナスは、もうとっくに最大限の警戒態勢に入っていた。

Tại sao Twilight lại ở đây?

どうしてここにトワイライトが?

Đáng lẽ đã giết rồi, sao vẫn còn sống?

殺したはずなのに、まだ生きていたのか?

Hắn đến đây để làm gì?

何をしに来たのか?

Vốn dĩ, hắn là kẻ thù hay đồng minh?

そもそも、敵なのか味方なのか?

Vô số câu hỏi lướt qua tâm trí, nhưng Luminous không hề do dự.

色々な疑問が脳裏を過るのだが、ルミナスは迷わなかった。

Nàng triệu hồi Dạ Tường Vi Đao (Nightrose) trong tay... và ngay khoảnh khắc tiếp theo, nàng đạp không khí và tăng tốc.

その手に夜薔薇の刀(ナイトローズ)を出現させて──次の瞬間、大気を蹴って加速する。

“Chết đi, Băng Ma Linh Tử Trảm (Melt Slash)!”

「死ね、崩魔霊子斬(メルトスラッシュ)!」

Đó là kiếm kĩ do Hinata sáng tạo, nhưng kĩ thuật kiếm thánh siêu việt (Overblade) ban đầu lại là kĩ thuật sở trường của Luminous. Khi đối đầu với Granbell trong nhiều năm, nàng đã phải chứng kiến nó đến mức chán ngấy. Và rồi lúc nào không hay, Luminous cũng đã học được nó.

ヒナタが編み出した剣技だが、元となった超絶聖剣技(オーバーブレイド)はルミナスの得意技なのだ。グランベルと長年対峙していた頃に、嫌というほど見せられた。そしていつしか、ルミナスも習得していたのである。

Đó là một thanh kiếm tất sát, nhưng thật không may, nó không có tác dụng với Twilight.

そんな必殺剣だったが、残念ながらトワイライトには通じない。

“Ôi chao, một đứa con hư. Dám ra tay với cha mẹ, thế này thì cần phải trừng phạt thôi.”

「おやおや、悪い娘だね。親に手を出すなんて、これはお仕置きが必要でしょ」

Dùng Thần Tổ Huyết Thương (Origin Blood) để chặn Dạ Tường Vi Đao (Nightrose), Thần tổ Twilight cười nhếch mép.

神祖の血槍(オリジンブラッド)で夜薔薇の刀(ナイトローズ)を受け止めて、神祖トワイライトはニヤリと嗤(わら)った。

Luminous tặc lưỡi một cái, giữ khoảng cách trên không trung.

ルミナスは舌打ち一つして、空中で距離を取る。

Trên khuôn mặt nàng không có chút thoải mái nào.

その表情に余裕はない。

Chỉ bằng một lần va chạm, Luminous đã nhận ra rõ ràng sự chênh lệch về thực lực với Twilight. Nàng đã có hy vọng rằng hắn sẽ bị suy yếu ngay sau khi hồi sinh, nhưng hy vọng đó đã tan biến với phản ứng vừa rồi.

ルミナスはたった一度の打ち合いで、トワイライトとの実力差を明確に自覚した。蘇った直後なら弱体化しているのではという期待があったが、今の反応で希望は消えたのだ。

Không còn chiến thắng nữa.

もう勝利はない。

Lần trước có thể đánh bại hắn là nhờ một đòn tấn công bất ngờ sau khi đã giăng bẫy cẩn thận. Với một cuộc tấn công trực diện, dù có lộn ngược cũng không thể thắng được.

以前倒せたのは、入念に罠を張り巡らせた上での不意打ちだったからだ。正面からの正攻法では、逆立ちしたって勝てはしないのである。

Dù hiểu như vậy, nhưng trái tim của Luminous vẫn bình tĩnh.

そう理解しつつも、ルミナスの心は落ち着いていた。

Nàng suy nghĩ tại sao lại như vậy và đã nhận ra lí do.

どうしてだろうと考えて、その理由に思い当たった。

Đó là một câu chuyện đơn giản.

単純な話だった。

Nếu Luminous gặp phải bất hạnh nào, chắc chắn Chloe đã cảnh báo cho nàng.

もしもルミナスに何か不幸が訪れるなら、必ずクロエが忠告してくれたはずだ。

Dù có lúc nói năng không đủ và thiếu thân thiện, nhưng Chloe không phải là loại người sẽ bỏ rơi bạn bè. Luminous tin tưởng vào Chloe như vậy, nên nàng đã tin chắc rằng mình sẽ xoay sở được trong tình huống này.

言葉足らずで不親切な面もあるが、クロエは友を見捨てるような性格ではない。ルミナスはそんなクロエを信じているので、この場も何とかなるのだろうと確信したのである。

Tuy nhiên, thực tế khắc nghiệt cũng là một sự thật.

ただ──現実が厳しいのも、また事実。

“Vẫn cứ là những yêu cầu vô lí, Chloe nhỉ.”

「無茶ぶりは相変わらずじゃな、クロエよ」

Luminous phàn nàn như vậy và bắt đầu tìm kiếm xem liệu có thực sự có cơ hội chiến thắng hay không.

ルミナスはそう愚痴って、果たして本当に勝利の目があるのか探り始めるのだった。

Trên chiến trường, Benimaru, người đã nhận ra sự bất thường của Luminous, đã ra lệnh cho các chiến binh bị thương rút lui.

戦場では、ルミナスの異変を察知したベニマルが、怪我を負った戦士達へ退避を命じていた。

Nếu ma pháp phục sinh bị gián đoạn, thì số người tử trận sẽ chỉ tăng lên.

蘇生魔法が途切れるのなら、戦死者が積み重なるだけだ。

‘Nghe đây, trong một thời gian, đừng mong đợi được hồi phục! Mỗi người, đừng có chọn sai chỗ chết đấy!!’

『いいか、当面の間、回復は期待出来ない! 各々、死に処を間違えるなよ!!』

Benimaru đã quát lên như vậy.

ベニマルは、そう檄を飛ばしたのだ。

Đừng chiến đấu một cách vô ích, hãy chờ đợi cho đến khi hoàn toàn bình phục.

無理して戦わず、ちゃんと万全な状態になるまで待て、と。

Chỉ có như vậy, mọi người mới có thể có cơ hội tỏa sáng.

そうしてこそ、誰しもが活躍の場に立てるのである。

Bên trong “Kết Giới Thánh Tịnh Hóa (Holy Field)”, sức mạnh chiến đấu của kẻ địch có thể bị giảm xuống dưới một phần mười, nhưng nếu bị đẩy ra “ngoài”, lợi ích đó sẽ không còn. Chính vì vậy mà đó là một mặt trận phòng thủ, nhưng trong tình huống này, kế hoạch ban đầu đã trở nên vô nghĩa.

〝聖浄化結界(ホーリーフィールド)〟内なら敵の戦力は十分の一以下に抑え込めるのだが、〝外〟に出られてしまってはその恩恵はなくなる。だからこその防衛戦線だったが、この状況では当初の作戦など無意味なものとなっていた。

Dù sao thì, “Ma vương” Millim và “Dũng giả” Chloe đã hợp sức và xông vào, đẩy Ivalage, kẻ đã biến thành một mỹ nữ tóc dài màu hồng bạch kim xinh đẹp, trở lại đại sảnh của “Thiên Thông Các”.

何しろ、〝魔王〟ミリムと〝勇者〟クロエがタッグを組んで、桜金色(プラチナピンク)が綺麗な長髪美女の姿になったイヴァラージェを〝天通閣〟の大広間まで押し戻すように突入して行ったからだ。

Có lẽ họ đã cân nhắc để không ảnh hưởng đến thế giới này, vì một trận đại chiến khốc liệt được dự đoán sẽ xảy ra.

大激戦が予想されるからこそ、この世界に影響が及ばないように配慮したのだろう。

“Hừ, nếu Millim-sama đã ra tay, thì chỉ còn lại bọn tép riu thôi. Cứ để đây cho ta, các ngươi đi xử lí những kẻ địch còn sót lại đi.”

「フッ、ミリム様が出張ってくれたなら、後は雑魚だけだ。ここは俺に任せて、お前達は打ち漏らした敵を始末してくれ」

Benimaru nói vậy và đứng ở điểm khởi đầu phía đông của “Kết Giới Thánh Tịnh Hóa (Holy Field)”.

ベニマルはそう言って、〝聖浄化結界(ホーリーフィールド)〟東方面の基点に立った。

Con yêu thú lớn đang chở Ivalage trên vai, gầm lớn về phía Benimaru. Nó trở thành một sóng xung kích làm rung chuyển không khí, nhưng đã bị bá khí (aura) của Benimaru đẩy lùi và tan biến.

イヴァラージェを肩に乗せていた大型妖獣が、ベニマルに向けて大きく吠える。それは衝撃波となって大気を震わせたのだが、ベニマルの覇気(オーラ)に押し返されて霧散してしまった。

Vô số cá thể cấp cao đã biến thành hình người cũng đang bị Hinata và những người khác hạ gục. Dù vẫn còn lại rất nhiều, nhưng không có một cá thể nào có vẻ như có thể thoát ra khỏi “Kết Giới Thánh Tịnh Hóa (Holy Field)”.

人型となった数多の上位個体も、ヒナタ達の手で倒されている。まだ数多く残ってはいるが、〝聖浄化結界(ホーリーフィールド)〟から抜け出せそうな個体は皆無だった。

“Có vẻ như chúng ta có thể xoay sở được, nhưng liệu có thực sự ổn không?”

「何とかなりそうな雰囲気だけど、本当に大丈夫なの?」

Hinata hỏi vậy, Benimaru cười một cách tự tin.

ヒナタがそう問うと、ベニマルは不敵に笑った。

“À, tất nhiên rồi. Vì Rimuru-sama đã trở về.”

「ああ、当然だ。リムル様が戻られたからな」

Ra là vậy... Hinata cũng mỉm cười.

なるほどね──と、ヒナタも微笑んだ。

Vậy thì, sự tự tin của Benimaru cũng có thể hiểu được.

それなら確かに、ベニマルの自信も頷けるというものだった。

“Rimuru-san đã trở về rồi, thật tốt quá!”

「リムルさんが戻って来たんですね、良かったです!」

Masayuki cũng tham gia vào câu chuyện.

と、マサユキも話に乗っかった。

Dù không biết chi tiết, nhưng anh nghĩ rằng nếu có Rimuru, thì mọi chuyện sẽ ổn thôi.

詳しい事情は知らないが、リムルがいるのなら後はどうとでもなりそうだと思ったのだ。

Tuy nhiên, ở đây, một nỗi lo lắng lại trỗi dậy.

けれど、ここで不安が頭をもたげる。

“Nhưng mà, tôi có chút lo lắng...”

「でも、ちょっと気になるんですけど……」

“Chuyện gì vậy?”

「何かしら?」

“À, về hình dạng trưởng thành của đứa trẻ lúc nãy, đó có lẽ là em gái của tôi... hay là, kiếp trước? Mà, có vẻ như là em gái của Rudra thời xa xưa...”

「あの、さっきの子供が成長した姿なんですけど、あれって僕の妹──っていうか、前世? まあ、大昔のルドラの妹だったみたいで……」

Tên của cô ấy có vẻ là “Lucia”.

名前は〝ルシア〟というらしい。

Và có vẻ như, cô ấy là mẹ của Millim.

そしてどうやら、ミリムの母親だったらしいのだ。

Nhớ lại ký ức đó, Masayuki đã kể lại.

そんな記憶を思い出して、マサユキはそれを伝えたのだ。

“Không cần lo lắng đâu. Millim là một đứa trẻ mạnh mẽ.”

「心配ないわよ。ミリムは強い子だから」

Verugrynd đã nói vậy.

と、ヴェルグリンドが言った。

Và rồi... cô tiếp tục.

それに──と続ける。

“Có vẻ như Testarossa và những người khác cũng đã đến kịp.”

「どうやら、テスタロッサ達も間に合ったようですし」

Đúng như lời nói, lực lượng đã bị biến thành tượng băng ở Eurazania cũ đang lần lượt đến.

その言葉通り、旧ユーラザニアで氷像と化していた戦力が、続々と到着し始めていた。

Carrera, Callion, Frey, Middray, và cả Obera.

カレラ、カリオン、フレイ、ミッドレイ、それにオベーラ。

Misery, Rain, Moss, Souka, Gabiru và Gerudo cũng đã hợp nhất.

ミザリーとレインに、モスやソーカ、ガビルにゲルドも合流だ。

Lúc nào không hay, bản thể của Souei cũng đã đứng bên cạnh Benimaru.

いつの間にか、ソウエイの本体もベニマルの隣に立っていた。

“Lực lượng của chúng ta cũng đã giảm đi, nhưng việc tập trung nhắm vào chỉ huy của kẻ địch đã mang lại hiệu quả. Vốn dĩ chúng chỉ là một đám hỗn tạp, nên giờ đây việc tiêu diệt từng tên đã trở nên dễ dàng hơn.”

「こちらの戦力も減っているが、敵の指揮官を集中して狙ったのが功を奏したな。ただでさえ有象無象だったから、これで各個撃破しやすくなったぞ」

Souei đã thông báo như vậy.

ソウエイがそう告げる。

Đúng như lời nói, chiến thắng đã ở ngay trước mắt.

その言葉通り、勝利は目前だった。

Vốn dĩ, Ảo thú (Cryptid) không có khái niệm về hợp tác. Chỉ có những phe phái đặc biệt và những cá thể hiếm có trí tuệ cao mới hành động theo bầy đàn.

本来、幻獣族(クリプテッド)には協力という概念がない。特殊な一派や知能の高い希少(レア)な個体が、群れて行動しているだけなのだ。

Kết quả của việc tiêu diệt những cá thể cấp cao đó, phe Ảo thú (Cryptid) đã không còn sự thống nhất. Sau đó, chỉ cần tiêu diệt từng tên một theo nhóm, cuộc chiến này đáng lẽ sẽ kết thúc với một chiến thắng hoàn toàn.

そうした上位個体を倒していった結果、幻獣族(クリプテッド)側では統制が取れなくなっている。後は集団で一体ずつ始末していけば、この戦も完全勝利で終わるはずだったのだ。

Tuy nhiên, đến lúc này, Ivalage đã có sự thay đổi.

ところが、ここにきてのイヴァラージェの変化である。

Không thể đoán được sức mạnh của nó, nhưng chỉ mong rằng đó không phải là một sự tiến hóa.

力の底が読めないが、それが進化でない事を願うばかりであった。

“Về Ivalage, quả thực đã vượt quá khả năng của chúng ta. Không thể làm liều được.”

「イヴァラージェについては、流石に俺達の手に余るからな。無茶は出来ん」

Đến đây rồi, tất cả sẽ sống sót cho đến khi Rimuru đến. Benimaru đã quyết tâm như vậy và đang quan sát chiến trường một cách kỹ lưỡng để không có ai chết một cách vô ích.

ここまでくれば、リムルが来るまで全員生き抜く。ベニマルはそう決意して、無駄死にが出ないようにと徹底して戦場に目を光らせていた。

Nếu có điều gì đáng lo ngại...

不安があるとすれば──

“Liệu Luminous-sama có ổn không?”

「果たして、ルミナス様は大丈夫なのか?」

Luminous, người đang dõi theo các chiến binh trên bầu trời, đang chiến đấu với một người đàn ông mặc bộ vest đỏ bí ẩn. Danh tính của người đàn ông bí ẩn đó cũng không rõ, và sức mạnh của hắn cũng chỉ có thể nói là đáng sợ...

天空で戦士達を見守っていたルミナスが、謎の赤スーツと戦っている。その謎の男の正体も不明ならば、その力も不気味の一言で……。

Benimaru đã quyết định rằng hiện tại chỉ có thể quan sát, nhưng anh ta đã bắt đầu suy nghĩ về việc chọn người để có thể ngay lập tức hỗ trợ nếu có chuyện gì xảy ra.

今は見守るしかないと判断したベニマルだが、何かあれば直ぐに援護に入れるよう、それとなく人選を考え始めるのだった。

Luminous đang bị Twilight áp đảo một cách vô vọng.

ルミナスはトワイライトを相手に、奮戦虚しく押されていた。

Dù bị ném mạnh xuống đất, nàng vẫn nhanh chóng đứng dậy. Rồi nàng lườm Twilight và cầm lại Dạ Tường Vi Đao (Nightrose).

地面に勢いよく叩きつけられるも、素早く立ち上がる。そしてトワイライトを睨みつけ、夜薔薇の刀(ナイトローズ)を構え直した。

Nàng không còn thời gian để sử dụng ma pháp phục sinh, nhưng Benimaru đã sắp xếp mọi chuyện rất tốt. Nhận ra điều đó, nàng thầm thán phục, quả nhiên là vậy.

蘇生魔法を使う余裕などなくなっていたが、そこは上手くベニマルが差配してくれていた。それを察して、流石よな、と感嘆する。

Tuy nhiên, đây không phải là lúc để lo lắng cho người khác.

もっとも、他人の心配をしている場合ではないのだ。

Chính Luminous mới là người đang ở trong tình trạng nguy hiểm nhất ở nơi này.

ルミナスの方こそ、この地で一番危険な状態だったのである。

“Này, Luminous. Kiệt tác của ta. Được rồi chứ? Ta đang gặp chút rắc rối, nên hãy trả lại sức mạnh của ngươi cho ta.”

「さて、ルミナス。ボクの最高傑作。もういいだろう? ちょっと困った事になったから、君の力を返しておくれ」

Twilight nói với giọng dịu dàng.

優しい口調で、トワイライトがそう言った。

“Đừng có coi thường ta. Thiếp không rảnh để chơi đùa với những lời nói nhảm của ngươi đâu!!”

「舐めるな。貴様の戯(ざれ)言(ごと)に付き合うほど、妾(わらわ)は暇ではないわ!!」

Nói xong, Luminous bắn ra một viên đạn màu đỏ thẫm.

そう言い返して、ルミナスは真紅の閃光弾を放つ。

Ma Huyết Chú Ngục Đạn (Damned Blood), một trong những bí kĩ của Luminous.

魔血呪獄弾(ダムドブラッド)という、ルミナスの奥義の一つだ。

Đó không phải là ma pháp, mà là một thứ được ngưng tụ từ những lời nguyền sử dụng một lượng nhỏ máu làm vật trung gian. Nó vừa là vật chất vừa là tinh thần, và mang cả hai tính chất vật lí và ma pháp. Nó tiêu thụ ít ma lực, và ngay cả ‘Phong Sát Kĩ Năng (Anti Skill)’ của Yuki cũng không thể ngăn chặn được, đó là một kĩ năng vạn năng với tính linh hoạt tuyệt vời.

魔法ではなく、少量の血液を媒体として呪詛を凝縮させた代物だ。物質的でもあり精神的でもあり、物理と魔法、両方の性質を併せ持っている。消費魔力も少ない上に、ユウキの『能力殺封(アンチスキル)』でも防げない、汎用性に優れた万能系の技だった。

Luminous liên tiếp bắn ra những viên Ma Huyết Chú Ngục Đạn (Damned Blood).

ルミナスは次々と、魔血呪獄弾(ダムドブラッド)を撃ち込んでいく。

Tuy nhiên, chúng không có tác dụng với Twilight.

しかしながら、トワイライトには通じない。

“Hừm hừm. Một kĩ năng được suy nghĩ rất kĩ, nhưng không có tác dụng với ta đâu. Đừng làm những việc vô ích nữa, hãy nhanh chóng cho ta...”

「ふむふむ。実によく考えられた技だけど、ボクには通じないよ。無駄な事は止めて、さっさとボクに──」

“Câm miệng!”

「黙るがよい!」

Luminous cắt ngang lời của Twilight và lùi lại về phía sau.

ルミナスはトワイライトの言葉を遮り、後方へと地を蹴った。

Dưới chân Twilight đang bước tới, một ma pháp trận rực rỡ xuất hiện.

一歩踏み込んだトワイライトの足元に、輝ける魔法陣が出現する。

Đó là một ma pháp trận tấn công dạng bẫy.

設置罠型の攻撃魔法陣だ。

Ngay khi bị ném xuống đất, Luminous đã đặt nó trong khi được che khuất bởi khói bụi.

ルミナスは地面に叩きつけられた瞬間に、土煙に隠れてコレを設置しておいたのである。

Và rồi, nàng giả vờ chạy trốn để dụ Twilight vào.

そして、逃げるフリをしてトワイライトを誘い込んだのだ。

“Ác ma, hãy biến mất! “Linh Tử Băng Hoại (Disintegration)”!!”

「邪悪よ、滅べ! 〝霊子崩壊(ディスインテグレーション)〟──ッ!!」

Một cột sáng thần thánh giam giữ Twilight.

神聖な光の柱が、トワイライトを封じ込める。

Một dòng linh tử chói lòa, biến cơ thể đó thành tro bụi...

眩いまでの霊子の本流が、その身体を塵に変えて──

Tuy nhiên, Luminous cảm thấy một cơn ớn lạnh không thể xua tan.

しかし、ルミナスは拭い切れぬ悪寒を感じた。

Có gì đó không đúng.

違和感があった。

(...Hắn ta không có cầm gì cả sao? Thần Tổ Huyết Thương (Origin Blood) đã đi đâu rồi...!?)

(──ヤツは何も持っていなかったような? 神祖の血槍(オリジンブラッド)は何処にやった──!?)

Khi Luminous nhận ra điều đó, nàng cảm nhận được một bàn tay lạnh lẽo trên cổ mình.

ルミナスがそう気付いた時、首筋に冷たい手の感触があった。

“Hahahaha! Ta đã dạy ngươi rằng thông tin là thứ quan trọng nhất, đúng không? ‘Linh hồn’ của ta được ghi nhớ trong cây thương này, nên dù có hủy diệt cơ thể cũng vô ích thôi.”

「ハハハハハ! 大事なのは情報だと教えたよね? ボクの〝魂〟はこの槍に記憶されているから、肉体を滅ぼしたって無駄なのさ」

Vừa siết cổ Luminous, Twilight vừa cười lớn.

ルミナスの首を締め上げながら、トワイライトが高笑いしていた。

Hắn đã sử dụng xác chết của một Ảo thú (Cryptid) làm vật tế và đã hoàn toàn tái sinh.

死んでいた幻獣族(クリプテッド)の肉体を糧として、完全再生を果たしていたのだ。

(...C...!? Chừng nào chưa phá hủy cây thương, tên này là bất tử sao...)

(──クッ!? 槍を壊さぬ限り、コヤツは不死身なのじゃな……)

Phán đoán của Luminous rằng hắn đã đồng bộ hóa kí ức với cây thương là đúng, nhưng không tìm thấy manh mối để tấn công. Ngược lại, sự thật rằng cần phải phá hủy cây thương và cơ thể chính cùng một lúc chỉ làm Luminous thêm phiền não.

槍に記憶を同期させているというルミナスの読みは正しかった訳だが、攻略の糸口は見えない。むしろ、槍と本体を同時に破壊する必要があるという事実が、ルミナスを悩ませるだけであった。

Và rồi, tình hình đã trở nên tồi tệ nhất.

そして、状況は最悪だ。

Dù Luminous không cần thở, nàng vẫn cảm thấy đau đớn. Qua lòng bàn tay của Twilight, sinh mệnh lực của nàng đang bị hút đi.

ルミナスにとって呼吸は必要ないが、苦痛を感じている。トワイライトの掌を通して、生命力を吸われているのだ。

“Ừm, thật là ngon! Ngươi quả nhiên là tuyệt nhất!”

「うーん、実に美味だよ! 君はやはり最高だ!」

Giọng nói vui mừng của Twilight vang vọng bên tai Luminous một cách ồn ào.

トワイライトの歓喜する声が、五月蠅(うるさ)いほどルミナスの耳元で響いた。

Nó tràn đầy sự ưu việt và làm Luminous tức giận.

それは優越感に満ちていて、ルミナスをイラつかせる。

“Đúng rồi, ta không muốn bị làm phiền thời gian với con gái, nên ta sẽ làm cho không có ai làm phiền ở đây.”

「そうそう、娘との時間を邪魔されたくないし、ここらで邪魔が入らないようにしておこうかな」

Vừa nói vậy, Twilight vừa búng tay một cái.

そんな事を言いながら、トワイライトが指をパチンッと鳴らした。

Nhờ vậy, Luminous và Twilight đã bị cách ly khỏi thế giới bên ngoài.

これによって、ルミナスとトワイライトは外界から隔離される。

Không gian đã bị cắt đứt bởi『Kết giới』do Twilight giăng ra.

トワイライトが張り巡らせた『結界』によって、空間が断絶されたのだ。

Twilight đã hoàn thành một thuật thức cao cấp trong nháy mắt. Đó là một kĩ năng đáng ngưỡng mộ, và số người có thể đối phó được với nó chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay.

高等な術式を、一瞬にして完成させたトワイライト。それは感嘆すべき技量であり、これに対応出来そうな者など数えるほどしかいない。

Những người đó có lẽ cũng đang bận rộn đối phó với những Ảo thú (Cryptid), và thực tế là không thể mong đợi được sự giúp đỡ.

そうした者も幻獣族(クリプテッド)相手に手一杯だろうし、事実上、手助けは期待出来ない状況になってしまった。

“Giờ thì từ bỏ đi nhé.”

「もう諦めるんだね」

Twilight vừa cười vừa nói.

と、トワイライトが笑いながら告げた。

Tiếp theo, hắn bắt đầu đưa ra những nhận xét tàn nhẫn.

続けて、残酷な感想を言い始める。

“Nhưng mà, có lẽ ta đã thất vọng rồi. Dù là kiệt tác, nhưng lại không có nhiều sự kháng cự như ta nghĩ.”

「でもさ、期待外れだったかな。最高傑作のくせして、思ったほどの抵抗がなかったもの」

Twilight chế giễu Luminous với vẻ mặt thực sự thất vọng.

トワイライトは本心から残念そうに、ルミナスを嘲ったのだ.

Ồn ào quá... Luminous nghĩ.

やかましいわ──と、ルミナスは思った。

Vốn dĩ, nàng không nhớ đã tự hào rằng mình là kiệt tác của chính mình.

そもそも、自分で自分の事を最高傑作だと自慢した覚えなどない。

Đó chỉ là lời nói của Twilight, và đối với Luminous, nó không liên quan gì đến nàng.

トワイライトが勝手に言っているだけの話で、ルミナスからすれば知った事ではないのだ。

Hơn nữa, nàng cũng có thắc mắc về điểm mà hắn gọi là kiệt tác.

それに、何を以て最高傑作と称していたのか、その点も疑問だった。

Luminous tự hào rằng mình rất xuất sắc, nhưng nàng nghĩ rằng mình không có điểm nào vượt trội hơn hẳn so với những người đệ tử cấp cao khác.

ルミナスは自分の事を優れていると自負しているが、他の高弟達と比べて大きく秀でた面はないように思えていたのだ。

(Hừ! So với những người đệ tử cấp cao khác, thiếp có lợi thế hơn một chút về năng lực chiến đấu, nhưng đó là nhờ ý chí kiên định. Việc có thể chỉ huy Louis và Gunther cũng chỉ đơn giản là vì thiếp mạnh hơn. Thiếp cũng có thể sử dụng ‘Bí pháp Thánh Vực Hóa (Sanctuary)’, nhưng đó là từ kho tàng kiến thức sâu sắc... ừm?)

(ふんっ! 他の高弟共に比べて戦闘能力では妾(わらわ)が一歩リードしておったが、それは強固な意志によるものじゃ。ルイやギュンターを従えられたのも、単に妾(わらわ)が強かったからじゃしな。〝聖域化(サンクチュアリ)の秘法〟なども操れるが、それは深淵なる知識の宝庫より────うん?)

Nghĩ đến đó, Luminous lại cảm thấy có gì đó không đúng.

そこまで考えて、ルミナスはまたも違和感を覚えた。

Luminous chắc chắn mạnh mẽ.

ルミナスは確かに強い。

Giá trị tồn tại của nàng từ khi sinh ra đã vượt quá sáu triệu, và nàng nổi bật hơn những người đệ tử cấp cao khác.

彼女の存在値は生まれながらに六百万を超えていて、他の高弟達より頭一つ抜けていた。

Kiến thức của nàng rất phong phú, và những kĩ thuật ứng dụng của nó được sử dụng trong các kĩ năng đa dạng và thần thánh ma pháp.

知識は豊富で、多彩な技や神聖魔法などに、その応用技術が駆使されていた。

Nếu xét về tổng thể sức mạnh đó, thì việc được đánh giá là kiệt tác của Thần tổ cũng không có gì lạ.

それらの総合力で考えれば、確かに神祖の最高傑作と評されるのも不思議ではないのだ。

Tuy nhiên, nó không phải là yếu tố quyết định.

しかし、決定的ではなかった。

Thực tế, nếu cứ tiếp tục chiến đấu với Jahil, người đã có được Thần Tổ Huyết Thương (Origin Blood), thì không có gì đảm bảo rằng Luminous sẽ thắng.

実際、神祖の血槍(オリジンブラッド)を手にしたジャヒルとあのまま戦い続けていた場合、ルミナスが勝てた保証などありはしなかった。

Huống chi đối thủ là chính Thần tổ, tình hình hiện tại đã nói lên câu trả lời.

まして神祖本人が相手となると、今の状況が答えを物語っているのだ。

Nói cách khác, việc Thần tổ Twilight công khai gọi Luminous là kiệt tác không phải vì nàng có năng lực chiến đấu cao.

つまり、神祖トワイライトがルミナスを最高傑作であると公言したのは、戦闘能力が高かったからではないのである。

Chắc chắn phải có một lí do khác.

もっと別の、確かな理由があるはずだった。

Và rồi, một điều nữa.

それに、もう一つ。

Luminous bất chợt thắc mắc.

ルミナスは、ふと疑問に思った。

Kho tàng kiến thức... đó là “Thư viện ảo tưởng”, nơi ghi lại nhiều kết quả nghiên cứu mà Luminous có thể xem được từ khi sinh ra.

知識の宝庫──それは、ルミナスが生まれながらに閲覧出来た、様々な研究結果が記された『幻想図書館』である。

Nó không tồn tại ở bất kì nơi nào trên thế giới này và được quản lí bởi “Giọng nói Thế giới”.

この世の何処にも存在せず、〝世界の言葉〟によって管理されていた。

Tại sao Luminous lại có thể xem được “Thư viện ảo tưởng” đó?

そんな『幻想図書館』を、どうしてルミナスが閲覧出来たのか?

Nhiều điều trở nên không tự nhiên, và nàng bắt đầu nghi ngờ cả ý đồ thực sự của Twilight.

諸々の事が不自然で、トワイライトの真意すら疑わしく思え始めた。

Câu hỏi nảy sinh trong lòng Luminous đã nhanh chóng phát triển thành một sự nghi ngờ lớn.

ルミナスの心に生じたその疑問は、瞬く間に大いなる疑惑へと発展する。

“Ngươi nói là trả lại sức mạnh của thiếp, đúng không? Điều đó có nghĩa là ngươi muốn lấy đi sinh mệnh lực của thiếp sao?”

「妾(わらわ)の力を返せと言ったな? それはつまり、生命力を奪うという意味か?」

Dù đang đau đớn, Luminous vẫn giữ thái độ hiên ngang và nói ra câu hỏi đó.

苦痛の中でも毅然とした態度で、ルミナスはその問いを口にした。

Sức mạnh của Twilight áp đảo so với Luminous hiện tại. Dù có hấp thụ sinh mệnh lực của Luminous, cũng không có nhiều thay đổi đáng kể.

トワイライトの力は、今のルミナスよりも圧倒的だ。ルミナスの生命力を吸収したとしても、そこまで大きく変動しないと思われる。

Trừ khi hắn đang ở trong tình trạng cạn kiệt năng lượng đến cực điểm, nhưng vẻ ngoài của Twilight lại không hề như vậy. Nếu vậy, thì cũng không cần thiết phải gấp rút lấy đi sinh mệnh lực của Luminous.

極限までにエネルギー枯渇状態になっているならともかく、トワイライトの様子はそういう感じではなかった。であれば、差し迫ってルミナスの生命力を奪う必要もないのである。

Vậy mà, tại sao Twilight lại nhắm vào Luminous?

それなのに、トワイライトはどうしてルミナスを狙うのか?

Cũng có khả năng là hành động vì căm hận Luminous như Jahil, nhưng nếu chỉ có vậy thì quá nông cạn. Nó cũng không phù hợp với lời nói “trả lại sức mạnh”, và chắc chắn phải có một ý đồ khác.

ジャヒルのように、ルミナスへの恨みからの行動という線もあるのだが、それだけが原因とすれば浅はか過ぎた。力を返せという発言とも整合性が取れないし、もっと別の意図があるはずなのだ。

Trong câu trả lời đó, có lẽ sẽ ẩn chứa manh mối dẫn đến câu trả lời cho những nghi ngờ nảy sinh trong Luminous.

その答えの中にこそ、ルミナスに生じた疑惑への回答に繋がるヒントが隠れていそうだった。

“Hừm? Cũng có thể nói là vậy...”

「ふむ? そうとも言えるけど……」

Khi được Luminous hỏi, Twilight cũng tỏ ra nghi ngờ.

ルミナスに問われて、トワイライトも疑問の表情となる。

Nhìn thấy điều đó, Luminous nhận ra rằng quả nhiên có điều gì đó không ổn.

それを見て、やはりおかしい、とルミナスは察した。

Có vẻ như chính Twilight cũng không hiểu được giá trị thực sự của Luminous.

トワイライト自身も、ルミナスの真価を理解していない様子だったのだ。

(Tại sao chứ?)

(何故じゃ?)

Câu hỏi của Luminous càng nhiều thêm.

と、ルミナスの疑問が増えた。

“Ngươi... muốn gì ở thiếp?”

「貴様……妾(わらわ)に何を求めておるのじゃ?」

“Ừm. Chuyện nhỏ nhặt như vậy, không cần quan tâm đâu nhỉ? Kết quả là ngươi sẽ chết và trở thành thức ăn của ta là tất cả, còn lí do thì sao cũng được, đúng không?”

「うーん。そういう細かい話は、どうでもいいんじゃない? 君が死んでボクの糧となるという結果が全てで、その理由なんてどうでもいいでしょ?」

Twilight ngừng suy nghĩ và nói một cách thản nhiên.

トワイライトは悩むのを止めて、あっけらかんとそう言った。

Với một nụ cười ngây thơ, vẻ mặt không có chút lo lắng nào.

無邪気な笑顔で、悩みなど何一つない様子だ。

Với thái độ đó, Luminous càng cảm thấy có gì đó không đúng.

その態度に、ルミナスはますます違和感を強めた。

Vốn dĩ Twilight...

そもそもトワイライトは──

………

………

……

……

『ルミナス──そうだな、やはりコレだけでいい。ボクのファーストネーム。ヴェルダナーヴァから貰った特別な名前なんだけど、君に譲るよ。ボクは今からトワイライト・バレンタイン。そして君は、ルミナス・バレンタインだ!』

“Luminous... đúng rồi, chỉ cần cái này thôi. Tên đầu tiên của ta. Là một cái tên đặc biệt mà Verudanava đã ban cho, nhưng ta sẽ nhường nó cho ngươi. Từ giờ, ta là Twilight Valentine. Và ngươi là Luminous Valentine!”

そう声をかけてきたトワイライトを、ルミナスは覚えている。

Luminous vẫn nhớ Twilight đã nói như vậy.

培養液に揺られながら、それは単なる情報(きおく)として心核(ココロ)に刻まれた。

Trong khi lơ lửng trong dung dịch nuôi cấy, nó đã được khắc vào tâm hạch (kokoro) của nàng như một thông tin (kí ức) đơn thuần.

まだ自我も芽生えていなかった頃の話だ。

Đó là câu chuyện từ khi nàng còn chưa có ý thức.

眠っているルミナスは、輝く玉のような形状だった。

Luminous khi ngủ có hình dạng như một quả cầu phát sáng.

トワイライトが生み出した、〝魂〟を模倣した器──目も口も鼻もなく、手足すらない。まだ誕生したばかりの、命の源流だ。

Một vật chứa mô phỏng “linh hồn” do Twilight tạo ra... không có mắt, không có miệng, không có mũi, cũng không có tay chân. Chỉ là một nguồn sống vừa mới ra đời.

そんな状態でも〝名付け〟された事で、最初の記憶として記録されたのだろう。

Dù ở trong tình trạng như vậy nhưng vì đã được “đặt tên”, nên có lẽ nó đã được ghi lại như ký ức đầu tiên.

その後、ルミナスは順調に育つ。

Sau đó, Luminous đã lớn lên một cách thuận lợi.

そして、最終実験が行われた。

Và rồi, thí nghiệm cuối cùng đã được tiến hành.

………

………

……

……

...đã giao phó cho Luminous.

──ルミナスに託したのだ。

À, đúng rồi... Luminous nghĩ.

ああ、そうじゃ──と、ルミナスは思った。

Nàng đã nhớ ra lí do tại sao Twilight lại gọi Luminous là kiệt tác của hắn.

どうしてトワイライトがルミナスを最高傑作と称したのか、その理由を思い出したのだ。

Luminous đã sử dụng các kĩ thuật khóa khớp để thoát khỏi tay của Twilight.

ルミナスは関節技を駆使して、トワイライトの手から逃れた。

Và rồi, nàng lảo đảo đứng dậy và cầm lại Dạ Tường Vi Đao (Nightrose).

そして、ゆらりと立ち上がり夜薔薇の刀(ナイトローズ)を構える。

“Hửm? Vẫn chưa từ bỏ sao, đúng là dai dẳng.”

「うん? まだ諦めないとは、往生際が悪いんだね」

“Đó chính là giá trị thực sự của thiếp.”

「それこそが、妾(わらわ)の真価じゃからな」

Sự dao động của Luminous đã biến mất.

ルミナスの動揺は消えていた。

Sau khi nhớ lại ý đồ thực sự của Twilight, nàng đã có thể suy đoán được mục đích của hắn.

トワイライトの真意を思い出した今、その目的も推測出来るようになったからだ。

“Hừm, ra là vậy? Mà, ngươi đúng là kiệt tác của ta thật, nhưng... ngươi không thể thắng ta đâu?”

「ふむ、なるほど? まあ確かに、君は最高傑作ではあるけどさ。それでも、ボクには勝てないよ?」

Twilight nói với một nụ cười, như thể kinh ngạc trước sự tự cao của Luminous.

ルミナスの尊大さに呆れたように、トワイライトが笑顔でそう告げる。

Hắn tỏ ra như một người cha đang chiều chuộng đứa con bướng bỉnh, nhưng không có chút tình yêu thương nào trong đó.

子供の我儘に付き合う親、のような雰囲気を出しているが、そこに愛情などない。

Chỉ có sự kiêu ngạo.

あるのは傲慢さだ。

Hắn cho rằng vì là vật được tạo ra, nên có thể tùy ý xử lí... ý nghĩ đó lộ rõ từ Twilight.

被創造物なのだから、自由にしていい──という考えが、トワイライトからは透けて見えた。

Có lẽ hắn không có sở thích hạ đẳng là hành hạ Luminous để giải trí, nhưng nếu nàng chống lại ý muốn của hắn, hắn sẽ không ngần ngại thực hiện.

ルミナスを痛めつけて楽しむような下劣な趣味はないのだろうが、自分の意に背くようなら、遠慮なく実行に移すだろう。

Giữa Twilight và Luminous có một sự chênh lệch về sức mạnh chiến đấu đến mức không thể nào có một trận chiến cân sức. Đó giống như một người thách thức một vị thần, và việc tỏ ra chống đối là một hành động ngu ngốc.

トワイライトとルミナスでは、戦いにならないほどの戦力差がある。それこそ人が神に挑むようなものなのだから、反意を示す方が愚かなのだ。

...ai cũng sẽ nghĩ như vậy.

──と、誰でもそう思うだろう。

Tuy nhiên, suy nghĩ của Luminous lại khác.

しかし、ルミナスの考えは違った。

Một ý chí tự do được sinh ra, không nên bị ai đó ràng buộc.

生まれ出でた自由意思は、誰かの束縛を受けるべきではない、と。

Tuy nhiên, nàng cũng không phải là người tốt đến mức cố tình chỉ ra cho những kẻ đang tự cho mình là tự do lựa chọn nhưng thực chất lại bị vây hãm. Người đã nghĩ ra cơ chế của Thần thánh Pháp hoàng quốc cũng chính là Luminous, nên nàng cũng có một mặt lạnh lùng và tàn nhẫn.

もっとも、自分で選択しているつもりで囲い込まれているのを、わざわざ指摘してあげるようなお人好しでもない。神聖法皇国の仕組みを考えたのもルミナスなのだから、冷徹で冷酷な一面も備えているのだ。

Nếu dân chúng cầu nguyện thì sẽ đáp lại tiếng nói của họ, còn nếu chống đối thì sẽ thu lại phước lành.

民が祈るならその声に応え、反抗するというのなら祝福を取り上げるだけである。

Luminous tôn trọng ý chí tự do mà không hề kiêu ngạo rằng đó là tài sản của mình.

自分の所有物であるなどと驕(おご)る事なく、自由意思を尊重するのがルミナスであった。

Ở điểm đó, cả hai không thể hòa hợp.

その点で、両者は相容れなかったのだ。

Luminous bao bọc thanh kiếm bằng linh khí và lại một lần nữa lao vào tấn công.

ルミナスは剣に霊気を纏わせて、再び斬りかかった。

Twilight dễ dàng đỡ được và chém trả lại như một lời đáp lễ.

トワイライトは難なく受け止め、お返しとばかりに斬り返す。

Nhờ vậy, Luminous bị thương nặng và ngã gục xuống đất.

これにより、ルミナスは深手を負って地面に伏した。

Vì có sự chênh lệch về thực lực áp đảo, nên đây là một kết quả tất yếu.

圧倒的な実力差があるのだから、これは当然の帰結なのだ。

Không phải Luminous không hiểu điều đó, vậy tại sao nàng lại không từ bỏ?

それを理解出来ぬルミナスではなく、それなのに諦めないのは何故なのか?

Đó chính là bằng chứng cho việc Luminous là một kiệt tác.

それこそが、ルミナスが最高傑作である証左である。

“Ta biết ngươi rất giỏi rồi, nên thôi đi, được chứ?”

「君が凄いのは十分に知っているからさ、もういいだろう?」

“Đồ ngốc. Nếu đã chán đối đầu với thiếp, thì hãy nhanh chóng kết liễu đi!”

「バカめ。妾(わらわ)の相手に飽きたなら、さっさとトドメを刺すがよい!」

“Câu giờ cũng vô ích thôi?”

「時間稼ぎしたって無駄だよ?」

“Vô ích hay không, là do thiếp quyết định. Vốn dĩ, tại sao ngươi lại nghĩ thiếp là kiệt tác của ngươi?”

「無駄かどうかは、妾(わらわ)が決める。そもそも貴様、どうして妾(わらわ)が最高傑作だと思ったのじゃ?」

Luminous lơ đãng ném ra một câu hỏi đi thẳng vào bản chất.

それとなくルミナスは、本質を突く質問を投げかけた。

Những cuộc trò chuyện trước đây cũng chỉ là để chuẩn bị cho câu hỏi này. Mục đích là để khiến Twilight nghĩ rằng đó là một cuộc trò chuyện vô nghĩa và làm cho hắn ta dễ dàng nói ra.

今までの会話も、この問いをする為の布石だった。どうでもいい会話だと思わせて、トワイライトの口を軽くするのが目的だったのだ。

Luminous cũng hiểu rằng mình không thể thắng. Chính vì vậy, đây là một cuộc đối đáp cần thiết.

ルミナスも、自分が勝てないのは理解している。だからこそ、これは必要な問答だった。

Nàng có thể táo bạo đến cùng.

どこまでも大胆になれた。

Bởi vì Chloe vẫn chưa có phản ứng gì.

何故ならば、クロエがまだ反応しないからだ。

Dù có tập trung đến đâu trong cuộc đối đầu với “Ivalage”, Chloe cũng không thể nào bỏ rơi Luminous. Dù không biết tình hình vì bị ngăn cách bởi “Kết giới” của Twilight, nhưng ngay khi Luminous chết, Chloe chắc chắn sẽ tua lại thời gian và cảnh báo cho nàng.

対〝イヴァラージェ〟でどれだけ集中していようが、クロエがルミナスを見捨てる事など有り得ない。トワイライトの『結界』に阻まれ状況がわからなくても、ルミナスが死んでしまった時点で時を巻き戻し、必ず忠告してくれるはずだった。

Chính vì có thể tin vào điều đó, Luminous mới có thể trở nên mạnh mẽ đến vô cùng.

そう信じられるからこそ、ルミナスはどこまでも強くなれるのである。

Thái độ đó của Luminous khiến Twilight bối rối.

そんなルミナスの態度は、トワイライトを困惑させた。

Tại sao nàng lại có thể kiêu ngạo đến vậy khi đối mặt với người đã tạo ra mình?

どうして造物主である自分相手に、ここまで傲岸不遜になれるのか?

Đó là điều mà Twilight không thể hiểu được.

それが解せないトワイライトである。

Và hắn cũng không thể đoán được ý đồ của câu hỏi.

そして、質問の意図も測りかねた。

“Đó là vì, ngươi...”

「それは、君が──」

(Đúng vậy, nghe nói cũng lạ thật. Tại sao ta lại không nghi ngờ rằng Luminous là một kiệt tác nhỉ?)

(そうだな、言われてみれば不思議だね。どうしてボクは、ルミナスが最高傑作だと疑わないんだろう?)

Sự chắc chắn đó không hề lay chuyển, nhưng hắn lại không thể nhớ ra lí do.

その確信は揺らがないのに、理由を思い出せない。

Sự bối rối trở thành một sơ hở.

困惑は、隙となる。

Luminous đang nằm trên mặt đất, đã nhắm vào đó và chém tới.

地に伏していたルミナスは、そこを狙って斬り付けた。

“Chậc.”

「チッ」

Mũi kiếm chỉ cắt rách bộ vest, nhưng kiếm của Luminous chắc chắn đã chạm tới.

剣の切っ先がスーツを切り裂くに留まったが、ルミナスの剣は確かに届いたのだ。

“Hừ! Dù ra vẻ là người tạo ra thiếp, nhưng có phải là ngươi đang khoác lác không? Hay là ngươi định bào chữa rằng mình đã lơ là?”

「ハンッ! 妾(わらわ)の生みの親だと偉そうにしておるが、大言壮語なのではないか? それとも、油断していたと言い訳するつもりか?」

Luminous khiêu khích.

ルミナスが煽る。

Nghe vậy, Twilight cau mày khó chịu.

これに、トワイライトが不快そうに顔をしかめた。

“Đừng có tự mãn. Ta đã định chỉ lấy lại sức mạnh và biến ngươi thành thuộc hạ, nhưng một đứa con gái chống lại cha mẹ thì không cần thiết. Ngươi nên biết thân biết phận đi.”

「調子に乗らない方がいい。力だけ返してもらって配下にしてあげるつもりだったけど、親に逆らう娘なんて不要だね。身の程を知るべきだ」

Đối với Twilight, sống chết của Luminous không quan trọng.

トワイライトとしては、ルミナスの生死はどうでもいいのだ。

Hắn đã nhận ra rằng mình có một phần kí ức bị thiếu, nhưng hắn cũng không quan tâm đến điều đó.

自分に欠けた記憶がある事がわかったが、それについても気にしていない。

Twilight có một mặt như vậy.

トワイライトには、そういう面がある。

Hắn đã tham gia vào đủ loại thí nghiệm, và đã có vô số lần tự biến mình thành vật thí nghiệm. Chính vì vậy, hắn đã có vài lần bị mất trí nhớ.

ありとあらゆる実験に手を染めているが、自分自身を実験台にした経験も数知れず。それ故、記憶をなくす事も何度かあった。

Lần này cũng là một trong số đó, hắn đã nghĩ vậy một cách nhẹ nhàng.

今回もその一つなのだろうと、軽く考えていた。

Và hắn đang lạc quan rằng chỉ cần lấy lại sức mạnh của Luminous, tất cả các vấn đề sẽ được giải quyết.

そして、ルミナスの力を奪いさえすれば、全ての問題が解決すると楽天的になっているのである。

Do đó, chỉ có một câu trả lời đúng.

故に、取るべき正解は一つ。

“Kết thúc thôi nhỉ.”

「終わりにしようか」

“Thật nực cười! Ta sẽ đánh bại ngươi!!”

「笑止! 返り討ちにしてやろうぞ!!」

Chừng nào『Kết giới』của Twilight còn tồn tại, không thể mong đợi được sự giúp đỡ. Dù vậy, Luminous vẫn kiêu hãnh bước vào trận chiến cuối cùng.

トワイライトの『結界』が健在である以上、助けは期待出来ない。それでもルミナスは、誇り高く最後の勝負に出た。

“Ảo Mộng Tường Vi Đao (Rosa Espada)!!”

「〝幻儚薔薇刃(ローザエスパーダ)〟──!!」

Kĩ năng đó là con át chủ bài của Luminous.

その技は、ルミナスの奥の手だ。

Đó là một con át chủ bài chỉ có thể kích hoạt một lần duy nhất, phải hi sinh Dạ Tường Vi Đao (Nightrose)...

夜薔薇の刀(ナイトローズ)を生贄にしなければ発動しない、たった一度だけの切り札──

Nhát chém của Luminous chém rách『Kết giới』của Twilight... đồng thời, thân kiếm cũng vỡ tan. Thanh kiếm cấp Thần thoại (God) cao cấp nhất đã giải phóng toàn bộ năng lượng ẩn chứa của nó.

ルミナスの振るった剣閃が、トワイライトの『結界』を斬り裂く──のと同時に、剣身が砕け散った。神話級(ゴッズ)という最高峰の剣が、その秘めたるエネルギーを全て解き放ったのだ。

“Ồ, việc phá vỡ『Kết giới』của ta thì thật đáng khen, nhưng thanh kiếm tự hào của ngươi đã vỡ rồi nhỉ.”

「おやおや、ボクの『結界』を破ったのは見事だけどさ、御自慢の剣が砕けてしまったね」

Twilight chế giễu như vậy, nhưng vẻ mặt của Luminous cũng không hề thất vọng.

そう嘲るトワイライトだが、ルミナスの表情も死んではいない。

Những mảnh vỡ của Dạ Tường Vi Đao (Nightrose) đã biến thành những cánh hoa hồng bay lượn. Mỗi một cánh hoa, nhờ quyền năng của Luminous, đã hiện thực hóa khái niệm “cái chết”. Đó là những cánh hoa ác mộng, dẫn dắt những ai chạm vào đến cái chết.

夜薔薇の刀(ナイトローズ)の破片が、舞い散る薔薇の花びらと化した。その一枚一枚が、ルミナスの権能によって〝死〟という概念を具現化している。触れた者を死へと誘う、悪夢の花(はな)弁(びら)なのである。

Và hơn nữa, nó được tăng cường bởi Kĩ năng Tối thượng『Sắc Dục Vương (Asmodeus)』, thứ chi phối sự sống và cái chết, và tất cả sinh mệnh lực (năng lượng) bị cướp đi sẽ được trả lại cho Luminous.

そして更に、生と死を司る究極能力(アルティメ-ットスキル)『色欲之王(アスモデウス)』によって強化され、奪った生命力(エネルギー)は全てルミナスへと還元される事になる。

Đó là một bí kĩ tối thượng chỉ có thể sử dụng một lần, vừa có hiệu quả tấn công vừa có hiệu quả hồi phục.

攻撃しながら回復効果もあるという、一度しか使えない究極の秘奥義であった。

Giữa cơn mưa hoa hồng đó, Twilight vẫn bước đi mà không hề sợ hãi.

その薔薇吹雪の中、トワイライトは恐れずに歩む。

“Trò ảo thuật sao? Một trò trẻ con vô nghĩa. Nếu đối thủ không phải là ta thì có lẽ đã có tác dụng, nhưng thật đáng tiếc!”

「手品かな? 下らない児戯だね。相手がボクじゃなければ通用しただろうけど、残念!」

Twilight chế giễu.

トワイライトは嘲笑する。

Hắn thong thả lại gần như thể không cần phải nghiêm túc với Luminous... và rồi hộc máu.

ルミナス相手なら本気を出すまでもないとばかりに、悠然と近寄って──血を吐いた。

“Hả?”

「は?」

Với vẻ mặt kinh ngạc, Twilight khuỵu gối xuống.

驚愕の表情を浮かべて、トワイライトが膝をつく。

“Chẳng phải ngươi vừa nói là trò trẻ con sao? Kĩ năng mạnh nhất của thiếp đã được tăng cường bằng quyền năng tối thượng. Chắc chắn là sẽ có chút hiệu quả chứ.”

「児戯と言うておらなんだか? 妾(わらわ)の最強技を、究極の権能で強化させたのじゃ。多少は効くであろうよ」

“Khái niệm cái chết” có chứa một tính chất tương tự như『Hư Vô』. Nó hút sinh mệnh lực của đối tượng chạm phải và trở thành độc tố ăn mòn cơ thể.

〝死の概念〟は『虚無』に通じる性質を秘めている。触れた対象の生命力を吸い取り、毒となってその身を蝕むのだ。

Twilight đã nhìn thấu đường kiếm của Luminous, nhưng lại phớt lờ những cánh hoa. Điều đó đã trở thành một sai lầm chết người, dẫn đến kết quả nhục nhã như hiện tại.

トワイライトはルミナスの剣筋は見切っていたものの、花びらは無視していた。それが仇となり、今のような屈辱的な結果を招いたのだった。

Dù vậy, nàng cũng hiểu rằng không thể giết được hắn.

それでも殺せないだろうと、ルミナスは理解している。

Giới hạn năng lượng có thể hấp thụ là giá trị tồn tại tối đa của Luminous, và đối với Twilight, con số đó chưa đến một phần mười.

吸収可能なエネルギー上限がルミナスの最大存在値であり、トワイライトが相手では一割にも満たないからだ。

Dù vậy, nếu có thể đánh trả một đòn, đó đã là một chiến thắng lớn.

それでも、一矢報いたならば大金星であった。

Luminous mỉm cười hài lòng.

ルミナスは満足そうに微笑む。

Tuy nhiên, vẫn còn một thắc mắc.

しかし、一つだけ疑問が残った。

Sự giúp đỡ của Chloe vẫn chưa đến, và nếu cứ thế này, mục đích của Twilight sẽ đạt được. Dù có tua lại từ đó, cũng phải là ở giai đoạn Luminous còn an toàn...

クロエの助けはいまだなく、このままではトワイライトの目的を達成させてしまうだろう。そこから巻き戻るにせよ、ルミナスが無事な段階になるハズで……。

(Hừ? Chẳng lẽ thiếp vẫn còn có thể làm được gì sao?)

(むう? まだ妾(わらわ)にも、何か出来る事があるというのか?)

Vì chưa từng trải qua việc tua lại thời gian, nên nàng cũng cảm thấy lo lắng vì không biết diễn biến tiếp theo sẽ ra sao.

時の巻き戻りを体験した事がないので、この先の展開がまったくわからないのが不安でもあった。

Việc đánh bại Twilight có lẽ là không thể, nhưng có lẽ nàng nên cố gắng vùng vẫy đến cùng. Luminous nghĩ vậy và nhìn chằm chằm vào Twilight đang ngồi xổm.

トワイライトを倒すのは無理だろうが、それでも最後まで足掻いてみるべきなのだろう。ルミナスはそう考え、蹲(うずくま)ったままのトワイライトを見据えた。

Twilight từ từ đứng dậy.

トワイライトが、ゆっくりと立ち上がった。

Hắn đã tắt nụ cười, nhìn Luminous với một vẻ mặt vô cảm.

笑みを消して、温度感のない表情でルミナスを見据える。

“Chậc, đúng như ngươi nói. Có vẻ như ta đã quá phấn khích với thế giới này sau một thời gian dài. Phải nhanh chóng hoàn thành mục đích và đón ngài Verudanava thôi.”

「やれやれ、君の言う通りだ。どうやらボクは、久しぶりの現世に浮かれていたようだね。さっさと目的を果たして、ヴェルダナーヴァ様をお迎えしなきゃ」

Nghe lời tuyên bố đó, Luminous dao động.

その宣告を聞いて,ルミナスは動揺する。

“Verudanava, sao?”

「ヴェルダナーヴァ、じゃと?」

Nếu lời đó là sự thật, thì câu chuyện sẽ khác đi theo nhiều nghĩa.

その言葉が真実なのであれば、色々な意味で話が違ってくる.

Không phải chỉ cần đánh bại “Diệt Giới Long” Ivalage là xong, mà sau đó còn có rất nhiều vấn đề.

〝滅(めっ)界(かい)竜(りゅう)〟イヴァラージェを倒して終わりではなく、その後にも問題が山積しているという事なのだ。

Vốn dĩ, có rất nhiều người ngưỡng mộ Verudanava.

そもそも、ヴェルダナーヴァを慕う者は多い。

Twilight cũng là một trong số đó, nhưng không chỉ có hắn, còn có rất nhiều tín đồ khác. Tất nhiên, trong số những người tập trung ở đây cũng có, và nếu vậy, thế lực hiện tại có vẻ sẽ bị chia làm hai.

トワイライトもその一人だったが、彼だけではなく他にも大勢信者がいるのだ。当然、この場に集った者達の中にもいる訳で、そうなると、今の勢力も二分される事になりそうだった。

Đây là một vấn đề lớn, và việc Luminous lo lắng cũng là điều dễ hiểu.

これは大問題だと、ルミナスが焦るのも無理はなかった。

………

………

……

……

Bản thân Luminous không có tình cảm đặc biệt với Verudanava. Nàng coi ông ta là một tồn tại vĩ đại, nhưng hoàn toàn không có cảm xúc như thề trung thành hay muốn liều mạng bảo vệ.

ルミナス自身は、ヴェルダナーヴァに思い入れはない。偉大な存在だと思ってはいるが、忠誠を誓うだとか命を懸けてお守りしたいだとか、そんな感情などサラサラないのだ。

Khi nghe chuyện ông ta bị con người của một vương quốc nào đó giết, nàng cũng chỉ nghĩ ‘Vậy sao?’.

とある王国の人間達に殺されたという話を聞いても、『そうなのか?』としか思わなかった。

Dù là một “Long chủng” bất tử nhưng lại không hồi sinh, nàng cũng chỉ nhận thức ở mức ‘Chuyện đó cũng có thể xảy ra’.

絶対不滅の〝竜種〟なのに復活しないのも、『そういう事もあろうな』程度の認識だったのである。

Guy dường như coi ông ta là bạn thân, và Lamrys có vẻ cũng mang ơn. Hai người này, thành thật mà nói, hoàn toàn có khả năng sẽ đối đầu.

ギィは親友だと思っていたようだし、ラミリスも恩がある様子だった。この二人は、正直言って敵対する可能性が十分にあった。

Đối với Millim, đó là cha của cô, nhưng không rõ liệu cô có tình cảm gì hay không. Vì cô thường tỏ ra vô tư, nên có vẻ như ngay cả tình cảm cha con cũng không có...

ミリムにとっては父親になるが、果たして思い入れがあるのかどうか不明だ。普段からあっけらかんとしているから、親子の情すらなさそうに思えるのだが……。

Dagruel, có lẽ vì đã từng thua một trận, nên dường như đã mang trong mình một tình cảm gần như là臣服.

ダグリュールなどは、一度戦って敗北した事があるからか、臣従に近い思いを胸に抱いていたようだ。

Nếu Verudanava hồi sinh, hắn chắc chắn sẽ trở thành kẻ thù... nhưng hiện tại, vì đang bị phong ấn bởi Phì Nhiêu Thần Bí (Fertile Paradox) của Verudora, nên lần này có thể bỏ qua.

ヴェルダナーヴァが復活するとなれば、間違いなく敵に回りそうである──のだが、現在はヴェルドラの豊穣なる神秘の波動(ファータイルパラドックス)によって封印されているので、今回は除外しても問題なかった。

Dino có tin đồn là cựu thuộc hạ... nhưng đã đối đầu rồi, nên bây giờ cũng chẳng có gì mới. Nhìn vào tình hình của Benimaru và những người khác đến viện quân, có vẻ như không cần phải cảnh giác.

ディーノは元臣下という噂だが……既に敵対していたし、今更である。援軍に来たベニマル達の様子から見ても、警戒する必要はなさそうだった。

Và rồi, Leon và Rimuru...

そして、レオンとリムルだが……。

Leon là một Ma vương trẻ, và có vẻ như không có nhiều hứng thú với những việc khác ngoài Chloe.

レオンは若い魔王だし、クロエに関する事以外には興味が薄そうだ。

Lần này, vì Chloe thuộc phe Luminous, nên có vẻ như anh ta sẽ tiếp tục là đồng minh.

今回はクロエがルミナス陣営なので、このまま仲間となってくれそうだった。

Rimuru, đây là điều quan trọng nhất.

リムルはというと、これが一番重要だ。

(Ngay khi Rimuru trở thành kẻ thù, thất bại của chúng ta sẽ được quyết định... nhưng nếu là để có được một cuộc sống lí tưởng, thì hắn ta là kẻ có đủ quyết tâm để đối đầu với cả nhân loại và Ma vương. Nếu Verudanava có ý định hủy diệt thế giới, hắn chắc chắn sẽ chống cự đến cùng.)

(リムルが敵に回った時点で、妾(わらわ)達の敗北が決定するであろうが……理想的な暮らしを手に入れる為ならば、人類だろうが魔王だろうが敵に回すほどの覚悟があるヤツじゃからな。もしもヴェルダナーヴァが世界を滅ぼそうとしたとて、絶対に最後まで抗うはずじゃ)

Đó là kết luận mà Luminous đã đưa ra.

それがルミナスの下した結論であった。

Nếu có Rimuru, có thể chiến đấu đến cùng.

リムルがいるなら、最後まで戦える.

Thắng bại là chuyện thứ hai, và có thể để lại một dấu ấn của sự sống.

勝敗は二の次で、生きた証は残せるだろう、と。

Guy, Lamrys, Millim. Động thái của ba người này cần phải được chú ý, nhưng nỗi lo đó có thể để sau. Ở đây, cần phải quyết tâm và đối phó với Twilight trước mắt.

ギィ、ラミリス、ミリム。この三者の動向は要注意だが、その心配は後回しだ。ここは覚悟を決めて、目の前のトワイライトを何とかするのが先決であろう。

Luminous đã suy nghĩ kĩ lưỡng trong trạng thái “Gia Tốc Tư Duy” và quyết định như vậy.

ルミナスは『思考加速』状態で熟考し、そのように意思決定したのだった。

………

………

……

……

Luminous đã lấy lại bình tĩnh.

ルミナスは平静さを取り戻した。

Thấy vậy, Twilight nhún vai.

それを見て、トワイライトは肩を竦める。

“Thật đáng tiếc, ta đã định thật lòng mời ngươi làm đồng đội.”

「本心から君も仲間に加えようと思っていたんだが、残念」

Twilight đã tiết lộ tên của Verudanava, nghĩ rằng nếu nói ra thông tin quan trọng đó thì nàng sẽ tuân theo. Tuy nhiên, phản ứng của Luminous không mấy khả quan, và chỉ khiến nàng thêm quyết tâm.

とっておきの情報を教えたら従うのでは──と、トワイライトはヴェルダナーヴァの名前を出したのだ。それでもルミナスの反応は芳しくなく、覚悟を決めさせただけで終わった。

Đến nước này thì không còn lí do gì để giữ lại nữa.

こうなるともう、生かしておく理由はない。

Twilight đã quyết định như vậy và dồn sức vào Thần Tổ Huyết Thương (Origin Blood).

トワイライトはそう判断し、神祖の血槍(オリジンブラッド)に力を込めた。

“Vậy thì, tạm biệt.”

「それじゃあ、バイバイ」

“...!?”

「──ッ!?」

“Đứa con gái tiếp theo, ta sẽ nuôi dạy nó ngoan ngoãn hơn.”

「次の娘は、もっと素直な子に育てるさ」

Twilight nói với một nụ cười.

トワイライトが、笑顔でそう告げた。

Và ngay khoảnh khắc tiếp theo, hắn di chuyển với một tốc độ không thể tin được so với trước đây. Cây thương đã đâm xuyên qua ngực của Luminous trong nháy mắt và cắm vào trái tim nàng.

そして次の瞬間、今までが嘘のような速さで動く。槍は一瞬でルミナスの胸を貫き、心臓に突き刺さったのだ。

Luminous cũng nhận ra rằng hắn đã rõ ràng là nương tay.

明らかに手加減していたのだなと、ルミナスも悟った。

Chính vì Twilight thực sự thích Luminous, nên hắn đã cố gắng mời nàng làm đồng đội cho đến phút cuối.

トワイライトは本当にルミナスを気に入っていたからこそ、最後まで仲間にしようとしていたのだと。

Tuy nhiên, Luminous không hề hối hận.

けれど、ルミナスに後悔などない。

Trong trường hợp xấu nhất, nàng đã chuẩn bị sẵn sàng chấp nhận cả cái chết.

最悪、死すらも受け入れる覚悟だったのだ。

Tuy nhiên, nàng cũng thật lòng mong đợi sự giúp đỡ của Chloe... nhưng vẫn chưa có dấu hiệu nào, Luminous ngã gục xuống đất sau khi bị Thần Tổ Huyết Thương (Origin Blood) đâm xuyên tim.

とはいえ、クロエの助けを期待していたのも本音であり……その兆しはいまだないまま、ルミナスは神祖の血槍(オリジンブラッド)に心臓を貫かれて地面に崩れ落ちる。

Cuối cùng, không có sự giúp đỡ nào đến.

結局、助けは来なかった。

Dù không phải là không buồn, nhưng Luminous nghĩ rằng “Cũng đành thôi”.

それが悲しくない訳ではないが、『仕方あるまい』とルミナスは思った。

Chloe cũng đang bận rộn cảnh giác với Ivalage. Nếu nhìn từ góc độ khủng hoảng của thế giới, thì có lẽ tầm quan trọng của việc đó cao hơn.

クロエはクロエで、イヴァラージェへの警戒で忙しいのだ。世界の危機という視点で見るならば、重要度はそちらの方が高いのだろう。

Vậy thì, kết quả này cũng... không, không phải vậy.

であれば、この結果も──────いいや、違った。

──A, ra là vậy.

──ああ、そうだったのか。

Luminous đã hiểu.

と、ルミナスは理解した。

Đúng rồi.

そうだった。

“Ta” là...

〝私〟は──

Nàng đã nhớ lại tất cả.

全てを思い出した。

Chloe không phải là không thể đến giúp.

クロエは、助けに来れなかったのではない。

Không cần phải đến.

来る必要がなかったのだ。

Nếu đã “nhìn thấy” kết quả này, thì việc tin tưởng Luminous là điều đương nhiên.

この結果を〝視〟たのならば、ルミナスを信じるのは当然だった。

Bởi vì, đúng vậy.

だって、そう。

Chính Luminous là...

ルミナスこそが──

Đúng lúc Luminous bị Thần Tổ Huyết Thương (Origin Blood) đâm xuyên, Testarossa và những người khác cùng với quân đoàn đa quốc gia đã đến chiến trường.

ルミナスが神祖の血槍(オリジンブラッド)に貫かれたタイミングで、多国籍軍団を伴ってテスタロッサ達が戦場に到着した。

“A, ở đây cũng đang có chuyện lớn nhỉ.”

「あらあら、こちらも凄い事になっているわね」

Testarossa lẩm bẩm với một nụ cười.

と、テスタロッサが微笑みを浮かべながら呟く。

Cuộc chiến giữa Millim và Ivalage đang diễn ra bên trong “Thiên Thông Các”, nên không ai có thể nhìn thấy. Dù vậy, vẫn có thể cảm nhận được khí tức, nên những người mạnh mẽ có thể biết được đó là một trận chiến có quy mô khủng khiếp.

ミリムとイヴァラージェの戦いは〝天通閣〟の中で行われている為、余人の目にするところではない。それでも気配は察せられるので、途(と)轍(てつ)もない規模の戦闘なのも強者ならばわかるのだ。

“Bọn ta sẽ tiếp tục bảo vệ nơi này đến chết.”

「俺様達は、このままこの場所を死守するぜ」

Callion tuyên bố như vậy và lao vào trận chiến với những Ảo thú (Cryptid) đang tràn ra ở phía đông. Theo sau là các thành viên của Thú Vương Chiến Sĩ Đoàn cũ... một trăm người do Suphia dẫn đầu.

カリオンはそう宣言するなり、東方面に溢れ出る幻獣族(クリプテッド)との戦いに身を投じる。それに続くのは、元獣王戦士団の面々──スフィアを筆頭とした百名だ。

Trong số “Phi Thú Kị Sĩ Đoàn”, những người tương đối ít mệt mỏi hoặc những người mạnh mẽ hơn, khoảng một nghìn người đã tham chiến. Những người khác đang phục hồi ở Eurazania cũ, nhưng họ đã xuất trận với hi vọng được gửi gắm từ những đồng đội đó.

〝飛(ひ)獣(じゅう)騎(き)士(し)団(だん)〟の中からは他にも、比較的疲労の軽かった者や上位の強者達が、千名ほど参戦している。他の者達は旧ユーラザニアで回復に努めているが、そんな仲間達から希望を託されての出撃となっていた。

“Vậy thì, chúng ta sẽ đi tuần tra trên không nhé.”

「それでは、私達は空の巡回と洒落込みましょうか」

Frey chỉ dẫn theo “Thiên Tường Chúng” và nói như vậy.

フレイが〝天(てん)翔(しょう)衆(しゅう)〟のみを引き連れ、そう言い放つ。

Phi Tường Ma thú (Griffin) vốn là con bài tẩy của Frey, nhưng do ảnh hưởng của việc bị đóng băng, chúng đã không thể bay được. Chúng không phải là không thể chiến đấu, nhưng Frey đã quyết định rằng nếu cứ thế này sẽ chỉ là một cái chết vô ích.

フレイの虎の子だった飛翔魔獣(グリフォン)だが、氷漬けの影響で飛翔が出来ない状態だった。戦えなくはないが、このままでは犬死にになるとフレイは判断したのだ。

Trong trận chiến cuối cùng này, chỉ cần những người tinh nhuệ. Việc bảo vệ những người vướng chân chỉ làm lãng phí nguồn lực hồi phục quý giá.

この最終決戦では、精鋭のみを必要としていた。足手纏いを庇うのは、貴重な回復リソースを無駄に消耗するだけになってしまうのである.

Các chiến binh của “Millim Cận Vệ Đoàn” cũng rất hăng hái, nhưng những người không có đủ thực lực đã ở lại. Thay vào đó, những người có mặt ở đây đều đã sẵn sàng.

〝ミリム親衛軍〟の戦士達も気合は十分だったが、実力の伴わない者達は居残りとなっている。その代わり、この場にいる者達は覚悟完了しているのだった。

Cùng với những chiến binh dũng mãnh đó, Frey cũng đã cất cánh.

そんな猛者達と共に、フレイも飛び立って行ったのだ。

“Vậy thì, chúng ta nên đi về hướng nào đây?”

「それで、ワシらはどの方面に向かうべきかな?」

Câu hỏi của Middray.

ミッドレイの質問だ。

Về cơ bản, Võ Tăng Thần Quan Đoàn chủ yếu được sử dụng để hồi phục.

基本的に、武僧神官団は回復メインの運用である。

Dù họ cũng giỏi chiến đấu cận chiến, nhưng vì là những người sử dụng ma pháp hồi phục quý giá, nên việc để họ ở phía sau sẽ an toàn hơn.

肉弾戦も得意としているのだが、貴重な回復魔法の使い手なので、後方に回ってもらう方が安全面でも都合がよかった。

Đó là câu chuyện về việc phân công vai trò là rất quan trọng.

役割分担は大事、という話である。

Với tư cách là những người hồi phục giỏi tự vệ ở mức tối thiểu, họ rất được coi trọng trên chiến trường.

最低限の護身にも長けた回復役として、戦場では重宝されているのだ。

Người trả lời câu hỏi này là Hinata.

この質問に答えたのは、ヒナタだ。

“Hiện tại, có vẻ như Luminous-sama đã có chuyện gì đó. Không chỉ phục sinh mà ngay cả ma pháp hồi phục cũng không đến được, nên việc các ngươi tham chiến là một sự giúp đỡ lớn.”

「現状、ルミナス様に異変があったみたいなの。蘇生どころか回復魔法も届かない状態だから、貴方達が参戦してくれたのは助かるわ」

“Ừm!”

「うむ!」

“Ở mặt trận phía đông này, vì có Thánh Kị Sĩ Đoàn (Crusaders) nên vẫn còn có thể xoay sở được.”

「ここ、東方面には聖騎士団(クルセイダーズ)がいるから、まだ何とかなっているわね」

Nghe lời nói của Hinata, Benimaru tiếp tục.

このヒナタの発言を受けて、ベニマルが続ける。

“Theo như ta biết, mặt trận nguy hiểm nhất là phía tây. Phía bắc có nhiều người có ‘tự tái sinh’, và phía nam có vẻ như có những người sử dụng thuật hồi phục dưới quyền Ma vương Leon.”

「俺が把握している限り、一番危険なのは西方面だ。北は『自己再生』持ちが多いし、南には魔王レオン配下の回復術士達がいるようだしな」

“Nếu có thể, tôi muốn có các đội vệ sinh dự phòng cho tất cả các mặt trận, nhưng không thể đòi hỏi quá nhiều được. Trước mắt, hãy ưu tiên cho mặt trận phía tây.”

「可能ならば、全方面に予備の衛生部隊が欲しいところだけど、贅沢は言っていられないもの。先ずは緊急として、西方面をお願いするわ」

Hinata kết luận như vậy.

ヒナタがそう締めくくる。

“Đã rõ. Vậy thì chúng ta sẽ đi về phía tây!”

「了解した。それではワシらは、西方面に向かうとしよう!」

Middray nói xong và nhanh chóng bắt đầu hành động.

ミッドレイはそう言い残し、速やかに行動を開始したのである。

“Hồng Viêm Chúng (Kurenai)” còn lại ở Eurazania cũ cũng đã hợp nhất cùng với Gobua và trở thành thuộc hạ của Benimaru.

旧ユーラザニアに残っていた〝紅炎衆(クレナイ)〟もゴブア共々合流し、ベニマル麾下に収まる。

Không hiểu sao Phobio cũng ở cùng, nhưng Benimaru quyết định không hỏi. Nếu họ tán tỉnh nhau thì thật là có vấn đề, nhưng Gobua và Phobio lại khá hợp nhau. Anh ta quyết định rằng cứ để họ làm một cặp đôi thì năng lực chiến đấu cũng sẽ tăng lên.

何故かフォビオも一緒にいるが、ベニマルは突っ込むのを止めた。イチャイチャされたら流石に問題だが、ゴブアとフォビオの相性は悪くない。このままコンビでいさせた方が、戦闘能力も向上するだろうと判断したのだった。

Gerudo cũng đã chọn lọc và đến với hai nghìn thành viên cấp cao của Hoàng Sắc Quân Đoàn (Yellow Numbers).

ゲルドも黄色軍団(イエローナンバーズ)の上位勢二千名を厳選し、到着している。

Đối với Benimaru, đó là một sự bổ sung vô cùng đáng tin cậy.

ベニマルからすれば、頼もしい限りだ。

“Gerudo, dù có bắt ngươi phải làm việc quá sức, nhưng hãy cố gắng đến cùng nhé.”

「ゲルド、無茶をさせているが、最後まで頼むぞ」

“Tất nhiên rồi. Bây giờ khi Rimuru-sama đã trở về, trong lòng ta không còn chút lo lắng nào cả!”

「無論だ。リムル様が帰還された今、オレの心に不安などない!」

Gerudo trả lời Benimaru, thở phì phò một cách hăng hái.

ベニマルに応えるゲルドは、フシューと鼻息荒く気合十分だった。

Dù có nhìn thấy quân đoàn tà thần đáng sợ, hắn cũng không hề có dấu hiệu nao núng.

恐るべき邪神軍団を目にしても、怯む気配など皆無である。

Thấy vậy, Benimaru cười nhếch mép.

それを見て、ベニマルはニヤリと笑った。

“Đúng vậy! Chúng ta không thể có một trận chiến thảm hại trước mặt Rimuru-sama.”

「その通りだ! リムル様の前で、無様な戦いは出来ないからな」

“Ừm. Vậy thì, ta đi đây.”

「うむ。それでは、オレは行く」

Gerudo đi những bước nặng nề.

ゲルドが、のしのしと歩む。

Benimaru cũng không thể thua kém, và đã lên tiếng cổ vũ các chiến binh một cách lớn tiếng.

ベニマルも負けていられないと、声を大にして戦士達を鼓舞するのだった。

Không để ý đến Benimaru và những người khác, các Nguyên sơ đã bàn bạc với nhau.

そんなベニマル達を他(よ)所(そ)に、原初達が打ち合わせていた。

“Tôi sẽ tiếp tục hỗ trợ ngài Benimaru ở đây.”

「わたくしはこのまま、ベニマル殿のサポートを行おうかしら」

Testarossa nhanh chóng chiếm giữ vị trí mà cô dự đoán sẽ là nơi khó khăn nhất.

テスタロッサが目ざとく、一番の難所になると予想される場所を確保する。

Hiểu điều đó, Carrera vẫn im lặng chấp nhận.

それを理解しつつ、カレラは黙認する。

Cô đã nghĩ rằng chỉ cần hoàn thành phần việc của mình trước khi trận chiến lớn cuối cùng diễn ra, rồi hợp nhất là được.

最後の大一番までに自分の分担を終わらせて、合流すればいいと考えたのだ。

“Tôi sẽ đi vận động một chút. Vì đã bị đóng băng nên cơ thể có vẻ hơi ì.”

「私は軽く運動してくるよ。氷漬けにされていたから、身体が鈍ってしまいそうだ」

Nói xong, Carrera nhanh chóng đi về phía bắc.

そう言い残し、カレラはさっさと北方面に向かう。

Ở phía nam có Ultima, và ở phía tây có Verudora. Ở phía đông có Testarossa, nên có lẽ Carrera đã cân nhắc để không tranh giành con mồi.

南方面にはウルティマがいるし、西方面にはヴェルドラが向かった。東方面にはテスタロッサが残るので、カレラとしては獲物が被らないように配慮したのだろう。

Sự quyết đoán và khả năng hành động đó của cô thật đáng nể.

その思い切りの良さと行動力は、流石の一言であった。

Còn lại là Misery và Rain.

残るは、ミザリーとレインだ。

“Luminous-sama thì lo lắng, nhưng điều đáng lo ngại hơn là thuật thức bị bỏ lại. Đành vậy. Tôi sẽ tạm thời thay thế.”

「ルミナス様が心配ですが、それよりも心配なのは放置されたままの術式ね。仕方ありません。私が代わりに、一時凌ぎとなりましょう」

Misery đã ngay lập tức nắm bắt tình hình chiến sự và hiểu được mình phải làm gì.

ミザリーは即座に戦況を把握し、何をすればいいのか理解した。

Đó chính là việc thay thế Luminous, như cô vừa tự mình nói.

それが、今自分で口にしたように、ルミナスの代理となる事だったのだ。

Cụ thể là, trở thành vật chứa của “kì tích của Thần” đang được giăng khắp chiến trường. Đây là bí kĩ của “bí mật của Đức tin và Ân sủng”, một nghi thức ma pháp sử dụng não bộ của những người tin tưởng vào thần Luminous như những thiết bị tính toán.

具体的には、戦場全体に張り巡らせていた〝神の奇跡〟の依代となる事だ。これは〝信仰と恩寵の秘奥〟の極意で、神ルミナスを信じる者達の脳を演算装置に見立てた儀式魔法である。

Đó là một bí kĩ tối thượng cho phép sử dụng liên tục những ma pháp siêu khó bằng cách thực hiện các phép tính với hiệu suất áp đảo.

圧倒的な性能で演算を行う事で、超難易度の魔法を連続で使用可能とする究極奥義であった。

Vấn đề là, đây là một thuật thức được chuyên biệt hóa cho Luminous.

問題は、これがルミナス仕様に特化された術式である事だ。

Nếu một người thay thế sử dụng nó một cách bất cẩn, cái giá phải trả sẽ rất đắt.

代理の者が軽々しく扱えば、その代償は手痛いものとなるだろう。

Trước đó, việc sử dụng nó vốn dĩ đã là không thể.

それ以前に、行使する事すら本来ならば不可能であった。

Tuy nhiên, nếu là Misery, Lục sắc Nguyên sơ Vert...

しかし、原初の緑(ヴェール)たるミザリーならば……。

“Misery cũng rất giỏi trong việc bắt chước thần mà.”

「ミザリーは、神様の真似事も得意だったものね」

“Bắt chước... có thể nói một cách khác được không...”

「真似事……もう少し、言い方というものを……」

Misery nói với vẻ mặt hơi khó xử, nhưng Rain lại không hề để tâm.

少し困り顔で、ミザリーが苦言を呈したのだが、レインはどこ吹く風だ。

“Vậy thì tôi, sẽ đi cổ vũ Luminous-sama, người mà tôi tự nhận là bạn thân.”

「それでは私は、心の友だと勝手に自称している、ルミナス様の応援に向かうとしましょうかね」

Nói xong, Rain bắt đầu hành động mà không cần chờ câu trả lời.

そう言い残し、レインは返事も聞かずに行動を開始する。

Misery, còn lại một mình, tiễn Rain đi với vẻ mặt lo lắng, “Con bé đó, có ổn không nhỉ?”.

その場に一人残ったミザリーは、「大丈夫かしら、あの子?」と、心配そうにレインを見送ったのだった。

Nhìn thấy Luminous đã ngừng lại, Twilight thở dài một hơi.

停止したルミナスを見て、トワイライトが大きな溜息を吐いた。

“A... thật là. Kiệt tác của ta, lại phải do chính tay ta phá hủy.”

「あーあ。せっかくの最高傑作を、ボクの手で壊す事になるなんてね」

Twilight lẩm bẩm như vậy, nhưng một cơn ớn lạnh đột ngột khiến ánh mắt của hắn trở nên sắc bén.

そう呟いたトワイライトだったが、急な悪寒を感じて視線を鋭くさせた。

Luminous không di chuyển.

ルミナスは動かない。

Tuy nhiên, cơ thể nàng đang lơ lửng giữa không trung.

しかし、その身体が宙に浮いていた。

Thần Tổ Huyết Thương (Origin Blood) biến thành những cánh hoa hồng, tỏa ra ánh sáng mờ ảo và được hút vào ngực của Luminous.

神祖の血槍(オリジンブラッド)が薔薇の花びらに変化して、淡く輝きながらルミナスの胸に吸い込まれていく。

“Hả? Cây thương của ta, tại sao? Tại sao lại vào Luminous...?”

「は? ボクの槍が、何で? どうしてルミナスに……?」

Trước mắt Twilight đang kinh ngạc vì một tình huống bất ngờ, đôi mắt của Luminous đã mở ra.

想定外の事態に驚愕するトワイライトの目の前で、ルミナスの目が開いた。

Gương mặt đó, rất đẹp.

その顔は、とても美しい。

Twilight cảm thấy có gì đó không đúng, nhưng hắn đã nhanh chóng nhận ra lí do.

違和感を覚えたトワイライトだが、その理由を直ぐに察した。

Chiều cao của Luminous đã tăng lên một chút.

ルミナスの身長が、少しばかり伸びていたのだ。

Đôi môi hồng của nàng khẽ mở, để lộ ra những chiếc răng nanh trắng muốt, và giọng nói ngọt ngào đã báo hiệu một thực tế tàn khốc.

その桜色の唇が薄く開き、真っ白な犬歯がチラリと覗いて、麗しい美声が残酷な現実を告げた。

“Thí nghiệm đã thành công. Ta đã nhớ lại tất cả.”

「実験は成功じゃ。全て思い出したぞ」

Luminous ngẩng mặt lên và nói.

ルミナスが顔を上げて、そう言った。

Màu sắc của đôi mắt nàng vẫn bất đối xứng. Tuy nhiên, có một chút thay đổi.

その瞳の色は、左右非対称のまま。しかしながら、少し変化がある。

Trong mống mắt đỏ thẫm, đồng tử màu xanh lam hiện ra rõ rệt, và ngược lại, trong mống mắt xanh biếc, đồng tử màu đỏ lại tỏa sáng một cách khác thường. Dù không có nhiều thay đổi so với trước đây, nhưng nó đã trở nên hỗn loạn hơn.

真紅の角膜の中には蒼い瞳孔が存在感を示し、逆に青(せい)碧(へき)の角膜には紅い瞳孔が異彩を放っていた。今までとほとんど変わらないが、より混沌とした感じになっていたのである。

Sự thay đổi không chỉ ở màu mắt.

変化は瞳の色だけではない。

Khí tức của nàng cũng đã khác hẳn so với lúc nãy.

その気配も、先ほどまでとは別人の如くだった。

Bá khí (Aura) tỏa ra cũng khác.

放たれる覇気(オーラ)が違う。

Luminous hiện tại rõ ràng đã có sự hiện diện tăng lên.

今のルミナスは、明らかに存在感が増していたのだ。

“Ngươi là...”

「お前は……」

“Hừm, ngay cả ngươi cũng không hiểu sao?”

「ふむ、貴様でも理解出来ぬか?」

Luminous kiêu ngạo hỏi Twilight, người vẫn chưa thể che giấu được sự bối rối sau khi mất đi Thần Tổ Huyết Thương (Origin Blood).

神祖の血槍(オリジンブラッド)を失い動揺を隠せないままでいたトワイライトに、ルミナスが傲慢に問うた。

Twilight thậm chí còn không hiểu ý nghĩa của câu hỏi.

トワイライトには、質問の意味すらわからない。

“...Chuyện gì vậy?”

「……何の話かな?」

“...Cũng được. Để ta giảng dạy cho ngươi, một kẻ chậm hiểu, được hiểu.”

「──まあ良かろう。物分かりの悪い貴様でも理解出来るように、〝私〟が教授してやろう」

Luminous nói với giọng thương hại Twilight.

ルミナスは、トワイライトを憐れむようにそう告げた。

Và rồi, nàng bắt đầu giảng giải.

そして続けて、講釈し始める。

“Yếu tố quan trọng nhất để hình thành nên một ‘người’... một nhân cách là gì?”

「〝人〟を──人格を形成する要素として、一番大事なものは何じゃ?」

“Đó là... ‘linh hồn’. Chính xác hơn là, tâm hạch (kokoro) và kí ức.”

「それは──〝魂〟だね。もっと厳密に言うと、心核(ココロ)と記憶だ」

Ừm, Luminous gật đầu.

うむ、とルミナスは頷く。

Nhìn từ bên ngoài, họ giống như thầy và trò. Không biết từ lúc nào, vị thế của họ đã bị đảo ngược.

傍から見れば、師匠と弟子。いつの間にか、立場が逆転したような構図となっていた。

“Khi người chết, linh hồn sẽ phân tán và rồi biến mất. Có thể sẽ luân hồi, hoặc bị ác ma tộc (Daemon) hành hạ ở Minh giới, hoặc cũng có những người siêu thoát... nói cách khác là ‘thăng hoa’. Điều chung có thể nói là, nếu không thể duy trì hình dạng của linh hồn, đó là cái chết, và sẽ dẫn đến hư vô.”

「人が死ねば、魂は拡散し、そして消滅する。輪廻を巡るか、冥界にて悪魔族(デーモン)から責め苦を受けるか、成仏──言い換えれば〝昇華〟する者もいるじゃろうがな。共通して言えるのは、魂の形状を維持出来なくなれば、それは死であり、虚無へと至るという事じゃ」

“...Vậy thì sao?”

「……だから?」

“Vì vậy, ta đã suy nghĩ. Về định nghĩa của cái chết, và về sự sống vĩnh cửu.”

「だから──私は考えた。死の定義と、永遠の命について、な」

“Chúng ta là loài có tuổi thọ cao, đúng không? Vốn dĩ, chúng ta có tuổi thọ gần như vô hạn, nên không cần phải lo lắng về sự sống vĩnh cửu.”

「ボク達は長命種だよ? そもそも、無限に等しい寿命があるっていうのに、永遠の命なんて気にする必要はないじゃないか」

Đối với Twilight đang tỏ ra bực bội, Luminous ném một cái nhìn kinh ngạc.

イラついた様子のトワイライトに対し、ルミナスが呆れたような視線を向けた。

Và rồi, nàng đặt câu hỏi tiếp theo.

そして、次の問いを発する。

“Nghe câu nói vừa rồi của ngươi, ta đã chắc chắn rồi, quả nhiên là ngươi không nhớ.”

「貴様、今の発言で確信したが、やはり覚えておらぬのじゃな」

“Hả?”

「はあ?」

“Không, được rồi. Quay lại câu chuyện.”

「いや、よい。話を戻すぞ」

Luminous không còn sợ Twilight nữa.

ルミナスはもう、トワイライトを恐れていない。

Bầu không khí đó cũng đã truyền đến Twilight, và hắn đang khó hiểu mà tiếp tục cuộc trò chuyện với Luminous.

その雰囲気はトワイライトにも伝わっており、解せぬ思いでルミナスとの会話に付き合っている。

Nếu dùng vũ lực, hắn có thể hạ gục nàng trong nháy mắt. Tuy nhiên, Luminous hiện tại có gì đó đáng sợ, và bản năng của Twilight đang mách bảo rằng hắn nên lắng nghe.

力で押せば、一瞬で倒せる相手であるハズだった。しかしながら、今のルミナスはどこか不気味で、ちゃんと話を聞くべきだと、トワイライトの本能が訴えかけていたのである。

Luminous nói.

ルミナスは語る。

“Bất tử là gì? Là việc ‘nhân cách’ hiện tại được duy trì liên tục, đúng không?”

「不滅とは何か? 継続して、今の〝人格〟が維持される事であろう?」

“Đúng vậy. Dù cho ‘linh hồn’ có được kế thừa trong trạng thái giống nhau, nhưng nếu kí ức bị mất và bị nhuốm màu bởi những tư tưởng khác, thì ta nghĩ không thể coi là một tồn tại hoàn toàn giống nhau được.”

「その通りだね。仮に〝魂〟が同一状態で継承されるとしても、記憶が失われて異なる思想に染まるならば、完全なる同一存在とは見做されないとボクは思うよ」

“Trong số những loài có tuổi thọ cao, chắc hẳn cũng có nhiều người quên đi quá khứ, đúng không? Việc mất đi một phần kí ức có thể xảy ra với bất kì ai, và cũng có thể nhớ lại bằng cách đọc tài liệu. Mặc dù là một trường hợp hiếm hoi, nhưng cũng đã xác nhận được trường hợp những người chuyển sinh có cùng ‘linh hồn’ nhớ lại kiếp trước. Nếu có sự trùng khớp ở một mức độ nào đó, thì có thể bỏ qua.”

「長命種ならば、過去を忘れる者も多いであろう? 記憶の欠落は誰にでも起こり得るし、文献などを読んで思い出す事もあろう。希少な事例ではあるが、〝魂〟を同一とする転生者が前世を思い出す事例も確認されておる。ある程度合致するのならば、無視しても良かろう」

“Đó chắc chắn là một vấn đề về mức độ. Cực đoan mà nói, dù không có kí ức...”

「それは確かに、程度の問題ではある。極論、記憶なんてなくても──」

“Đúng vậy. Ta cũng đã từng nghĩ rằng, dù kí ức có mất đi, nhưng nếu ‘linh hồn’ được kế thừa trong trạng thái giống nhau, thì nên được coi là cùng một cá thể. Nhưng, không phải vậy.”

「そうとも。私も今までは、記憶が失われようが〝魂〟が同一状態で継承されるならば、それは同一個体であると認識されるべきであると考えておった。しかし、違ったのじゃ」

“...”

「……」

“Hãy thử nghĩ về ‘Long chủng’. Dù là bất tử, nhưng cơ chế đó không phải là vạn năng, đúng không?”

「〝竜種〟を思い浮かべてみるがよい。不滅ではあるが、その仕組みは万能ではないであろう?」

Đó chính là sự phủ nhận tính bất tử, Luminous chỉ ra.

それこそが不滅性の否定であると、ルミナスが指摘する。

Đúng vậy.

そうなのだ。

Lí do Luminous đi đến câu hỏi này là vì đã quan sát Verudora bị tiêu diệt nhiều lần.

ルミナスがこの疑問に行き当たったのは、何度も何度も滅されるヴェルドラを観察したからである。

“Long chủng” là bất tử, nhưng mỗi lần tái sinh, “nhân cách” lại bị reset. Kí ức cũng có thiếu sót, nhưng có lẽ đó là kết quả của một sự cố nào đó xảy ra khi chuyển sinh...

〝竜種〟は不滅で、しかしながら、生まれ変わる度に〝人格〟がリセットされていた。記憶にも欠落があるが、それは転生する際に何らかの不具合が生じていた結果なのか……。

Tóm lại. Rõ ràng là việc chuyển sinh của “Long chủng” cũng có vấn đề.

ともかく。〝竜種〟の転生にも、何らかの問題があるのは明白なのだ。

“Quan trọng là phải bảo vệ hoàn toàn ‘linh hồn’.”

「大事なのは〝魂〟の完全保護じゃな」

“Ta đồng ý với ý kiến đó, nhưng vậy thì đâu là câu trả lời đúng?”

「その意見には同意するけど、だったらどうするのが正解なのかな?」

Kết luận mà Twilight đã đưa ra là, trở thành Lõi Thần Trí (Manas), một thể sống thông tin (Digital nature), và trú ngụ trong “Long chủng”, một tồn tại bất tử.

トワイライトが導き出した結論は、〝竜種〟という不滅の存在に、情報生命体(デジタルネイチャー)である神智核(マナス)となって宿らせてもらうことだった。

Tuy nhiên, vì phụ thuộc vào người khác, nên khó có thể nói là hoàn hảo. Chính vì vậy mà hắn đã chuẩn bị nhiều bản sao lưu, nhưng so với “Long thể giả”, không thể phủ nhận rằng hiệu suất của chúng kém hơn.

もっとも、他力本願なので完璧だとは言い難い。それ故に多数のバックアップを用意していたのだが、それとて、〝擬(ぎ)竜(りゅう)体(たい)〟に比べれば劣った性能なのは否めなかった。

Luminous trả lời.

ルミナスが答える。

“Nếu là ‘Tồn Tại Song Song’ mà Verugrynd rất giỏi, thì bằng cách đồng bộ hóa hoàn toàn các ‘cơ thể khác’ đều là bản thể, có lẽ có thể nói là một tồn tại bất tử vĩnh cửu.”

「ヴェルグリンドが得意としておる『並列存在』ならば、全てが本体となる『別(べつ)身(しん)体(たい)』を完全同期させる事で、永遠不滅の存在である、と言えるやも知れぬな」

Đây là phương án tốt nhất có thể nghĩ ra, đó là ý kiến của Luminous.

これが考えられる限り最善であろうというのが、ルミナスの意見だった。

Nếu có thể can thiệp vào “hạt thông tin”, thì việc đồng bộ hóa hoàn toàn “kí ức và nhân cách” vượt qua cả thời gian và không gian sẽ được thực hiện. Nếu phân bổ vật chứa là “linh hồn” theo đơn vị nhỏ nhất có thể, thì có thể tạo ra bấy nhiêu “cơ thể khác” đều là bản thể.

〝情報子〟に干渉可能ならばこそ、〝記憶と人格〟を時間も空間も超越して完全同期が成立する。〝魂〟という器を分割可能な最小単位で配分すれば、その数だけ本体そのものである『別(べつ)身(しん)体(たい)』が用意出来るという寸法だ。

Phương pháp này... với “cơ thể khác”, không thể phát huy được hiệu suất tối đa của bản thể hợp nhất, nhưng về mặt an toàn thì là vô địch. Thực tế, có thể nói rằng không có lo ngại về việc bị tiêu diệt.

この方法──『別(べつ)身(しん)体(たい)』では、統合された本体の最大最高性能を引き出す事は出来ないのだが、安全面では無敵。事実上、滅ぼされる心配は皆無であると言えた。

Do đó, Luminous đã khẳng định như thế này.

故に、ルミナスはこう断言する。

“Nếu không chuẩn bị trước, thì không có sự tái sinh hoàn toàn nào khác ngoài phương pháp này. Nói cách khác, Twilight, ngươi cũng không hoàn hảo!!”

「事前に準備しておかねば、この方法以外での完全再生はない。つまりトワイライトよ、貴様もまた不完全という事なのじゃ!!」

Nghe vậy, Twilight tặc lưỡi một cách khó chịu.

これを聞いて、トワイライトは不快そうに舌打ちした。

“...Chậc, đúng là một tên kiêu ngạo.”

「……チッ、不遜なヤツだ」

Hắn ta phun ra những lời đó và lườm Luminous một cách căm ghét.

そう吐き捨て、ルミナスを忌々しそうに睨みつける。

“Cuối cùng, ngươi chỉ định dùng lời lẽ hoa mỹ để đánh lừa ta thôi sao? Ta đã quan sát xem ngươi có giở trò gì không, nhưng không ngờ ngươi chỉ biết dựa vào mồm mép.”

「結局さ、ハッタリでボクを惑わそうとしただけかい? 君が姑息な真似をしないか観察していたけど、まさか口先だけが頼りだとは思わなかったな」

Nghĩ rằng đây là kiệt tác của ta mà thật buồn... Twilight chế giễu Luminous.

これがボクの最高傑作だと思えば悲しくなるね──と、トワイライトはルミナスを嘲った。

Vậy mà, Luminous lại không hề để tâm.

それなのに、ルミナスはどこ吹く風だ。

“Đáng thương là ngươi đó.”

「憐れなのは貴様じゃ」

Luminous nói vậy và khiêu khích Twilight bằng cách vẫy tay.

ルミナスはそう言って、トワイライトを手招きするようにして煽る。

“Ta sẽ dùng nắm đấm thay cho lời nói để dạy cho ngươi sự thật tàn khốc. Như vậy, ngay cả một kẻ ngu ngốc như ngươi cũng sẽ hiểu.”

「言葉ではなく拳で、残酷な真実を教えてやろう。そうすれば、愚かな貴様でも理解するはずじゃ」

Lời nói ngông cuồng đó càng làm Twilight tức giận hơn.

その豪語は、トワイライトを更に苛立たせた。

Với kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều năm, dù có tức giận, cảm xúc của hắn cũng không bị xáo trộn, và cảm xúc và lí trí được tách rời. Đó là điểm mạnh và bí quyết của sức mạnh của Twilight.

長年培ってきた経験によって、怒っても感情が乱れる事はなく、感情と理性は切り離されている。それがトワイライトの強みであり、強さの秘訣だ。

Vì vậy, lần này cũng vậy, dù vô cùng tức giận vì bị tác phẩm của mình coi thường, nhưng hành động của hắn vẫn rất bình tĩnh. Hắn đưa tay ra, hạ thấp trọng tâm, đạp đất và lao đi như một cơn gió.

だから今回も、自身の創造物に舐められるという屈辱に激怒しながらも、行動は冷静だった。スッと手を伸ばし、深く腰を落として、地を蹴り、滑るように突進した。

Trong nháy mắt, hắn đã thu hẹp khoảng cách giữa hai người, luồn vào lòng đối thủ và phá hủy điểm yếu của cơ thể người bằng một cú đấm như một viên đạn. Điểm yếu của Luminous chính là vật chứa mô phỏng “linh hồn”, thứ mà Twilight đã tạo ra làm “lõi” khi tạo ra nàng.

瞬足で彼我の距離をゼロにして、相手の懐に潜り込み、砲弾と化した貫(ぬき)手(て)で人体の急所を破壊する。ルミナスにとっての急所とは、トワイライトが作成時に〝核〟とした〝魂〟を模倣した器である。

Nếu phá hủy nó, Luminous sẽ chết.

これを破壊すれば、ルミナスは滅ぶのだ。

Với tư cách là người tạo ra, Twilight đã nắm rõ cấu trúc cơ thể của Luminous. Ngay cả vị trí của “linh hồn”, thứ mà thông thường không thể chắc chắn được, hắn cũng có thể biết rõ như lòng bàn tay.

トワイライトは造物主として、ルミナスの人体構造を熟知している。普通ならば不確かな〝魂〟の位置でさえ、手に取るようにわかるのだ。

(Thật đáng tiếc, Luminous. Ta đã nghĩ ngươi sẽ có thể làm trợ thủ đắc lực cho ta đến cùng...)

(本当に残念だよ、ルミナス。君ならばボクの片腕として、最後まで役立ってくれると思ったのに──)

Twilight nghĩ vậy, tin rằng mình đã chiến thắng.

と、トワイライトは勝ったつもりで考えた。

Tuy nhiên, đó là một sự kiêu ngạo quá sớm.

しかし、それは早計過ぎる驕りだったのだ。

“Quả nhiên, sẽ là như vậy.”

「やはり、そう来るであろうな」

Cơ thể của Luminous đã bị Twilight xuyên thủng. Vậy mà nàng vẫn bình thản, nắm lấy tay Twilight và nói như vậy.

ルミナスの身体は、トワイライトによって貫かれていた。それなのに平然と、トワイライトの手を掴みそう言ったのである。

Luminous siết chặt tay.

ルミナスが、握力を強めた。

Một tiếng động khó chịu vang lên, và cánh tay của Twilight bị nghiền nát.

ミシリと嫌な音が響き、トワイライトの腕が圧壊する。

“...Hả!?”

「──なっ!?」

Phần nhô ra từ lưng Luminous rơi xuống đất một cách nặng nề.

ルミナスの背中から飛び出ていた部分が、ボトリと地面に落ちた。

Sau đó, Luminous đứng đó như chưa có chuyện gì xảy ra.

その後には、何事もなかったようにルミナスが立っている。

Quần áo của nàng không hề bị rách, và nàng có một dáng vẻ vô cùng tao nhã.

服に破れた箇所もなく、実に優雅な佇まいであった。

Twilight sững sờ.

トワイライトは愕然となった。

Cánh tay bị đứt lìa không đau và có thể tái tạo dễ dàng. Vậy mà, hắn không thực hiện điều đó, mà lại nhảy lùi khỏi Luminous, đứng sững sờ trong sự kinh ngạc.

千切れた腕に痛みはないし、再生も簡単だ。それなのに、それを実行に移す事なく、その場から飛びのきルミナスから距離を取って、唖然として立ち尽くしてしまっている。

Hắn không thể hiểu được tình hình hiện tại.

今の事態に理解が追い付かないのだ。

Về Luminous, tác phẩm của mình, hắn đã nắm rõ mọi thông tin. Dù sau khi Twilight bị phong ấn, nàng đã tiếp tục rèn luyện, nâng cao trình độ và có được nhiều quyền năng, nhưng những thay đổi đó cũng đã được truyền đến.

自分の作品であるルミナスについては、全ての情報を把握している。トワイライトが封印された後も研(けん)鑽(さん)を続け、技量(レベル)を高めて数多の権能を得たようだが、そうした変化すらも伝わっているのだ。

Đó cũng là một đặc quyền của người tạo ra...

それもまた、造物主としての特権で……。

“Thật vô lí, tại sao ta lại bị tổn thương?”

「馬鹿な、何がどうして、ボクがダメージを受けるんだ?」

Trước một sự việc đáng lẽ không bao giờ xảy ra, Twilight không thể che giấu được sự bối rối của mình.

絶対に起こらないハズの出来事に、トワイライトは動揺を隠せないでいた。

Đối với Luminous, nàng rất tự nhiên.

対するルミナスは、実に自然体だ。

“Tất nhiên rồi. Vì ta đã nhớ lại tất cả.”

「当然であろう? 私は既に、全てを思い出しておるのじゃからな」

“Nhớ lại sao?”

「思い出しただと?」

“Ừm. Thông tin được lưu trữ trong Thần Tổ Huyết Thương (Origin Blood) của ngươi đã giúp ta nhớ lại tất cả những kí ức đã mất. Đúng vậy, ta mới là người thật... Luminous Twilight Valentine.”

「うむ。貴様の神祖の血槍(オリジンブラッド)に保存されていた情報が、私の欠けていた記憶まで全てを思い出させてくれたのじゃ。そう、私こそが本物──ルミナス・トワイライト・バレンタインである、とな」

Luminous nói một cách thản nhiên.

ルミナスは淡々とそう告げた。

Đó chính là sự thật.

それこそが真実である、と。

“Thật vô lí...”

「何をバカな……」

Twilight lẩm bẩm một cách bàng hoàng.

トワイライトは茫然と呟く。

Hắn muốn phủ nhận từ tận đáy lòng, nhưng không hiểu sao lại không thể.

心の底から否定したかったが、何故か出来なかった。

Luminous hiện tại, hoàn toàn tĩnh lặng. Nàng không tỏa ra bá khí (aura) dữ dội, mà chỉ lặng lẽ nhìn Twilight.

今のルミナスは、静寂そのもの。苛烈な覇気(オーラ)を発するでもなく、ただ静かにトワイライトを見つめている。

Dáng vẻ đó giống như một nhà nghiên cứu.

その姿は研究者の如く。

Nàng đang ném một cái nhìn lạnh lùng về phía Twilight, như thể đang quan sát một vật thí nghiệm.

まるで、被検体を観察しているかのように、冷たい視線をトワイライトに向けていた。

“Đừng có đùa!! Ta, ta mới là người thật!!”

「ふざけるな!! ボクが、ボクこそが本物なんだ!!」

“Không. Ngươi đúng là Twilight, nhưng không hoàn hảo. Sự thiếu hụt kí ức ở những phần quan trọng chính là bằng chứng cho điều đó.”

「違う。貴様は確かにトワイライトではあるが、完全ではないのじゃ。肝心な部分の記憶の欠乏こそが、その証拠であろうよ」

Luminous nói.

ルミナスが告げる。

“‘Linh hồn’ có chứa tâm hạch (kokoro). Và thứ hình thành nên tâm hạch (kokoro) chính là ‘kí ức và nhân cách’. Vì vậy, ta đã nghĩ. Nếu ta tạo ra những cá thể riêng biệt bằng cách tách kí ức và nhân cách, thì ai sẽ là người thật?”

「〝魂〟には、心核(ココロ)が宿る。そして心核(ココロ)を形成するのは、〝記憶と人格〟じゃ。そこで私は考えた。記憶と人格を分けて別個体を作成したなら、どちらが本物になるのか、と」

“...”

「……」

“Việc hồi sinh của ‘Long chủng’ không hoàn hảo, như đã nói ở trên. Vì vậy, chỉ tái tạo lại kí ức thôi là vô nghĩa.”

「〝竜種〟の復活が不完全であるのは、先に述べた通りよな。故に、記憶だけ再現しても意味がないと言える」

Việc tái tạo kí ức đã tái tạo cả trình độ và quyền năng.

記憶の再現では、技量(レベル)や権能までも再現された。

Vậy thì, nếu chỉ tái tạo lại nhân cách thì sẽ ra sao?

それならば、人格のみを再現すればどうなるのか?

Câu trả lời chính là Luminous.

その答えが、ルミナスなのだ。

………

………

……

……

Luminous, như thể bắt chước tính cách của Thần tổ, đã có được một ý chí không bao giờ gục ngã.

ルミナスは神祖の性格を模倣するように、挫けぬ意志を得た。

Dù sức mạnh kém hơn vì không có trình độ và quyền năng. Nhưng phong thái của nàng chính là của Thần tổ, và nàng đã thể hiện một sức hút áp đảo người khác.

技量(レベル)や権能がない分、力こそ劣る。しかし、その風格は神祖そのもので、他者を圧するカリスマ性を発揮していた。

Dù có sự khác biệt về phương hướng, nhưng Luminous cũng là một người kế thừa của Thần tổ.

その方向性に違いはあるが、ルミナスもまた、神祖の継承者だったのだ。

Với Luminous như vậy, ngay cả những kí ức đã mất cũng đã được tái tạo.

そんなルミナスに、失われた記憶まで再現される事となった。

Kết quả đó chính là sự tái sinh của Thần tổ thật sự... sự hồi sinh của Luminous Twilight Valentine.

その結果こそ、真なる神祖の再生──ルミナス・トワイライト・バレンタインの復活だったのである。

Nếu kí ức không trở lại, Luminous sẽ vẫn tồn tại như một người kế thừa nhân cách mà không có ý thức mình là Thần tổ.

記憶さえ戻らなければ、ルミナスは神祖であるという自覚はないままに、人格継承者としてのみ存在していただろう。

Tuy nhiên, đó là một câu chuyện nếu.

けれどそれは、もしも、の話だ。

Nhờ việc có được kí ức một cách bất ngờ, Thần tổ đã có một sự hồi sinh ngoạn mục, trong một hình dạng hoàn hảo trước khi thí nghiệm.

意図せぬ形で記憶まで得た事で、神祖は実験前の完全な形で、見事な復活を遂げたのだった。

Tuy nhiên, vì đã tự mình thực hiện thí nghiệm, nên dù có không thể hồi sinh cũng là tự làm tự chịu... nhưng đó cũng là một “câu chuyện nếu”.

もっとも──自分の意思で実験を行ったのだから、復活出来なくても自業自得というヤツだったのだが、それもまた、〝もしもの話〟なのだった。

………

………

……

……

Đối với Twilight đang không muốn thừa nhận thực tế, lời giải thích của Luminous vẫn tiếp tục.

現実を認めようとしないトワイライトを相手に、ルミナスの解説が続く。

“Thần tổ là ta, đã tạo ra một vật thí nghiệm chỉ cấy ghép ‘nhân cách’ của mình, giống như cách tạo ra những người đệ tử cấp cao khác. Đó chính là ‘thiếp’. Kẻ đã mất đi ‘nhân cách’ ban đầu là ngươi, nhưng có vẻ như ngươi cũng đã mất đi một chút kí ức.”

「神祖たる私は、他の高弟達を生み出すのと同様に、自分の〝人格〟のみを移植した実験体を用意した。それが〝妾(わらわ)〟じゃ。元の〝人格〟を失ったのが貴様じゃが、ついでに記憶も少々欠落してしまったようじゃな」

Dù đã kế thừa cơ thể và “kí ức” của Thần tổ, nhưng không thể phủ nhận rằng hắn vẫn là một vật thí nghiệm... Luminous nói.

神祖の肉体と〝記憶〟を継承していても、実験体なのは間違いない──と、ルミナスは言う。

Dù là chuyện của chính mình, nhưng Luminous lại cảm thấy như đang nói về một người khác. Vì đã thức tỉnh muộn hơn Jahil, nên nàng bị coi là người đệ tử cấp cao thứ hai của Thần tổ, nhưng thực tế, Luminous mới là vật thí nghiệm đầu tiên.

自分の事なのだが、若干別人の話のように思えてしまうルミナスである。目覚めるのがジャヒルより遅れてしまった為に、神祖の高弟第二位と思われているものの、実際にはルミナスが最初の実験体なのだった。

Việc tự biến mình thành vật thí nghiệm cho thấy sự tò mò tri thức điên cuồng của Thần tổ là thật. Về điều đó, ngay cả Luminous, người đã hoàn toàn tái tạo lại kí ức của người đó, cũng không thể không thừa nhận.

自分自身さえも実験材料にするあたり、神祖の狂的知的好奇心は本物だ。それについては、当人の記憶を完全再現したルミナスとしても、認めざるを得ない事実であった。

Nói cách khác, Thần tổ thật sự đã biến mất ngay khi cấy ghép “nhân cách” vào Luminous.

つまり本物の神祖は、ルミナスに〝人格〟を移植した時点で消えたのだ。

Chỉ còn lại hai vật thí nghiệm.

残されたのは、実験体である二人のみ。

Cơ thể của Twilight là của Thần tổ, nhưng khó có thể nói là Thần tổ hoàn hảo, đó là lập luận và sự thật của Luminous.

トワイライトの肉体は神祖のものであったが、完全な神祖とは言い難いというのが、ルミナスの主張であり真実である。

“Ta thừa nhận ngươi là người kế thừa của ‘Thần tổ’. Nhưng, không phải là chính người đó.”

「貴様が〝神祖〟の継承者であったのは認めよう。しかし、本人そのものではないのじゃ」

“...”

「……」

“Tất nhiên, ta cũng cảm thấy mình là Thần tổ, nhưng không phải là một tồn tại hoàn toàn giống nhau. Kí ức có cảm giác như là chuyện của người khác, và có lẽ một ngày nào đó sẽ được hợp nhất vào con gái của ta... không phải, vào thiếp.”

「無論、私もまた自分を神祖であると感じているが、完全に同一存在という訳ではない。記憶はどこか他人事だし、いずれは我が娘──ではないな、妾(わらわ)に統合されるであろうな」

Giống như Luminous có những khoảng trống trong kí ức, Twilight cũng có chúng.

ルミナスにも記憶の欠損があるように、トワイライトにもソレがある。

Luminous là vật thí nghiệm chỉ được Thần tổ kế thừa “nhân cách”.

神祖の手によって、実験体に〝人格〟のみを継承させられたのが、ルミナス。

Và cơ thể đã mất đi “nhân cách” ban đầu là Twilight.

そして、元の〝人格〟を失った肉体が、トワイライト。

Thí nghiệm kế thừa này đã được lặp lại nhiều lần thất bại. Vì vậy, Thần tổ Luminous Twilight Valentine đã nghĩ ra việc nhường lại chân danh của mình.

この継承実験だが、何度も失敗が繰り返されていた。そこで神祖ルミナス・トワイライト・バレンタインは、自身の真名を譲る事を思いついたのだ。

Kết quả của việc đặt tên Luminous cho “linh hồn” của vật thí nghiệm, việc chuyển giao “nhân cách” đã thành công tốt đẹp. Nhưng khi đó, nó đã lấy đi một phần kí ức của Thần tổ. Kí ức trước và sau thí nghiệm đã biến mất khỏi Twilight Valentine, và chỉ còn lại kí ức về sự thành công.

実験体の〝魂〟にルミナスと名付けた結果、見事に〝人格〟の移譲が成功する。しかしその際、神祖の記憶の一部を奪う形となっていたのだ。トワイライト・バレンタインからは実験前後の記憶が消え去り、成功の記憶だけが残されたという訳だった。

“Do đó, có thể khẳng định rằng ngươi không hoàn hảo.”

「故に、貴様は不完全だと断言出来よう」

Luminous kết luận.

と、ルミナスが締めくくる。

Không thể nào chấp nhận được điều này... Twilight cau mày ghê tởm.

これに納得出来るはずもなく……トワイライトが顔色を嫌悪に染めた。

“Ngươi là người thật ư? Và ta là kẻ giả mạo sao!? Làm gì có chuyện nực cười như vậy!!”

「君が本物だって? そして、ボクが偽物だと!? そんな馬鹿な話があってたまるか!!」

“Ngươi cũng không phải là một ‘kẻ giả mạo hoàn toàn’.”

「貴様もまた、〝完全な偽者〟という訳ではないのじゃがな」

“Đừng có ngụy biện nữa!”

「詭弁は止めろ!」

Twilight nổi giận, ném một viên ma lực đạn vào Luminous theo cảm xúc của mình. Thoạt nhìn, đó chỉ là một khối năng lượng mật độ cao được bắn ra bằng sức mạnh, không có chút tinh xảo nào.

トワイライトは激高して、感情のままにルミナスに魔力弾を放った。一見すると何のひねりもない、ただ力任せに撃ち出しただけの高密度エネルギー塊だ。

Tuy nhiên, trong đó có ẩn chứa bí kĩ của người tự xưng là Thần tổ.

とはいえ、それには神祖を名乗る者の秘奥義が編み込まれている。

Nó di chuyển theo ý muốn của Twilight và biến thành dạng dây xích để trói chặt Luminous.

トワイライトの意のままに動き、ルミナスを封じ込めるように鎖状へと変化した。

Sau khi trói Luminous, Twilight đã tung ra con át chủ bài.

そうしてルミナスを捕縛した上で、トワイライトが奥の手を出す。

Một bí kĩ mạnh nhất, dẫn dắt đến một nơi mà không ai có thể thoát ra được...

何(なん)人(ぴと)たりとも、どうあっても逃れられない場所へと誘う、最強の奥義──

“Ngươi là ai cũng không quan trọng! Hãy tiếp tục bị hủy diệt trong thế giới của ta đi... ‘Hoàng Hôn Vĩnh Kiếp (Eternal Twilight)’!!”

「君が何者であろうが、関係ないね! ボクの世界で滅び続けるといい──〝永劫の黄昏(エターナルトワイライト)〟──ッ!!」

Đôi mắt dị sắc vàng và bạc của Twilight tỏa sáng một cách tà ác, và hắn nói ra tên của kĩ năng đó.

トワイライトの金銀妖瞳(ヘテロクロミア)が邪悪に輝き、その技の名を口にする。

Đó giống như một lời tuyên bố chiến thắng, và với “Vĩnh Kiếp Hồi Quy” của Kĩ năng Tối thượng “Ác Đức Vương (Anra Manyu)”, số phận của Luminous dường như đã kết thúc.

それはさながら勝利宣言で、究極的な『悪徳之王(アンラ・マンユ)』の『永(えい)劫(ごう)回(かい)帰(き)』によって、ルミナスの命運は尽きたかに思われた。

Nhưng mà.

だが、しかし。

“Ta cũng đã kế thừa kí ức về Kĩ năng Tối thượng『Ác Đức Vương (Anra Manyu)』rồi sao? Tri thức là sức mạnh. Dù kĩ năng có hung ác đến đâu, cũng không thể nào không đối phó được.”

「私は、究極能力(アルティメットスキル)『悪徳之王(アンラ・マンユ)』についての記憶も継承済みなのじゃぞ? 知識は力じゃ。如何に凶悪極まりない技であろうが、対応出来ぬはずがあるまいよ」

Luminous nói như chưa có chuyện gì xảy ra.

ルミナスは何事もないかのように、そう言ってのけたのだ。

Thực tế, “Hoàng Hôn Vĩnh Kiếp (Eternal Twilight)” của Twilight đã tan biến.

事実、トワイライトの〝永劫の黄昏(エターナルトワイライト)〟は霧散してしまった。

“...!?”

「──ッ!?」

Trước hiện tượng đó, Twilight chỉ còn biết câm lặng.

その現象に、トワイライトも絶句するしかない。

Như thể đó là một sai lầm nào đó, Twilight lại một lần nữa tung ra “Hoàng Hôn Vĩnh Kiếp (Eternal Twilight)”. Tuy nhiên, tất cả đều là thực tế.

今のは何かの間違いだとばかりに、再度〝永劫の黄昏(エターナルトワイライト)〟を仕掛けるトワイライト。しかしながら、全ては現実なのだ。

“Vô ích thôi.”

「無駄じゃ」

Luminous nói một cách khinh bỉ.

と、ルミナスが言い捨てる。

“Ngay khi ta nhớ lại kí ức, Kĩ năng Tối thượng『Sắc Dục Vương (Asmodeus)』đã tiến hóa. Để có thể phát huy quyền năng của thần một cách dễ dàng hơn, nó đã đạt đến Kĩ năng Tối thượng『Sáng Tạo Vương (Ahura Mazda)』.”

「私が記憶を思い出した時点で、究極能力(アルティメットスキル)『色欲之王(アスモデウス)』が進化したからのう。より神の権能を発揮しやすいようにと、究極能力(アルティメットスキル)『善光之王(アフラ・マズダ)』へと至っておる」

“Cái gì...?”

「何だと……?」

“Đây là một quyền năng đối lập với Kĩ năng Tối thượng『Ác Đức Vương (Anra Manyu)』của ngươi, nên việc triệt tiêu tất cả các kĩ năng cũng rất dễ dàng.”

「これは貴様の究極能力(アルティメットスキル)『悪徳之王(アンラ・マンユ)』と対になる権能であるからして、全ての技を相殺するのも容易なのじゃ」

“...”

「……」

Twilight lại một lần nữa câm lặng.

トワイライトはまたしても絶句するほかなかった。

Đáng lẽ hắn phải ở vị thế áp đảo Luminous, nhưng giờ đây tình thế đã hoàn toàn đảo ngược. Hơn nữa, hắn đã được thông báo rằng mình không hoàn hảo, và thậm chí còn không có đủ bình tĩnh để chấp nhận điều đó.

ルミナスよりも圧倒的強者の立ち位置だったはずが、今や完全に形勢逆転している。しかも、自分は不完全だと告げられて、それを受け止めるほどの心の余裕さえ失っていたのだ。

Mặt khác, Luminous cũng không có nhiều thời gian.

一方、ルミナスにも心の余裕はない。

“Chỉ cần nhớ lại những hành vi xấu xa mà ngươi đã làm, ta đã thấy đau đầu rồi. Không ngờ vì thí nghiệm của ta mà lại gây ra tình huống này...”

「貴様がしでかした数々の悪事、思い起こすだけで頭が痛いわ。まさか私の実験のせいで、このような事態を引き起こしておったとは……」

Những kí ức hiện về, cái nào cũng tồi tệ.

思い出す記憶は、どれもこれも最悪なものだった。

Không có đạo đức.

倫理観などない。

Hắn đã phớt lờ đạo đức, luôn chỉ theo đuổi kết quả.

人道など無視して、常に結果だけを追い求めていた。

Kí ức về việc liên tiếp thực hiện những thí nghiệm như vậy và vui mừng. Dù không muốn thừa nhận, nhưng tất cả đều là do Twilight đã làm.

そんな実験を次々に行い、愉悦している記憶。認めたくないが、そのどれもがトワイライトが行ったものなのだ。

Kết quả của việc mất đi “nhân cách” đúng đắn, Twilight đã làm đủ mọi việc xấu. Những người đệ tử cấp cao có phẩm chất thấp kém như Jahil cũng đã theo sau và làm những gì mình muốn.

正しき〝人格〟をなくした結果、トワイライトは悪行の限りを尽くしていた。ジャヒルのような品性下劣な高弟なども後追いをして,やりたい放題していたのだ。

Do đã can thiệp vào các chủng tộc mà Thần tổ định tạo ra, nên đã trở thành nguyên nhân cho sự ra đời của những tồn tại tà ác như Jahil.

神祖が生み出そうとしていた種族にも手を加えたりしたせいで、ジャヒルのような邪悪な存在が誕生してしまう原因にもなっている。

Việc thực hiện thí nghiệm chuyển giao nhân cách vào thời điểm không thích hợp... chính là vậy.

人格移譲実験を行う時期が悪かった──という事だ。

Luminous, trước khi nhớ lại kí ức, cũng đã vô thức dọn dẹp hậu quả của Twilight, nhưng không phải là đã giải quyết được hết mọi việc. Sự thật là đã gây ra rất nhiều phiền phức ở nhiều mặt vẫn còn đó.

記憶が戻る前のルミナスも、自覚のないままトワイライトの尻拭いをしていたのだが、全ての面倒を見られていた訳ではない。多方面に迷惑をかけまくった事実が残っている。

Hiểu được điều đó, Luminous cũng cảm thấy đau đầu.

それを理解して、ルミナスとしても頭が痛かった。

“Mà thôi. Việc xấu của ngươi cũng là trách nhiệm của ta. Ta sẽ chăm sóc, nên hãy yên tâm mà biến mất đi.”

「まあよい。貴様の悪事も、私の責任なのじゃ。面倒を見てやる故、安心して消えるがよかろう」

“Đừng có đùa!! Ta không thừa nhận... ta không thừa nhận đâu!!”

「ふざけるな!! 認めるものか……そんなの、認めるものかよ!!」

Twilight la hét như một đứa trẻ hư. Ngay sau lưng hắn, Luminous đã xuất hiện ngay sau khi thu hẹp khoảng cách.

駄々っ子のように喚くトワイライト。その背後に、一瞬で距離を詰めたルミナスが出現した。

Luminous vừa đập một cú gối vào Twilight, vừa thì thầm vào tai hắn.

ルミナスはトワイライトに膝蹴りを叩き込みつつ、その耳元に囁く。

“Ta không cần sự công nhận của ngươi. Quan trọng là sự thật.”

「貴様の承認など必要とせぬよ。大事なのは、真実だからのう」

Nói xong, Luminous đưa tay lên trời.

そう言い放ち、ルミナスは天に腕を翳(かざ)した。

Dạ Tường Vi Đao (Nightrose) yêu quý của nàng đã vỡ tan, nhưng Luminous vẫn còn một thanh kiếm mà Verudanava đã giao phó khi còn là Thần tổ.

愛刀だった夜薔薇の刀(ナイトローズ)は砕けてしまったが、ルミナスにはまだ、神祖だった頃にヴェルダナーヴァより託された剣があるのだ。

Một thanh kiếm mạnh nhất, đến mức phải do dự khi sử dụng...

余りにも強力過ぎて、使用が躊躇(ためら)われる最強の剣──

“Đ...đó là, của ta...!!”

「そ、それは、ボクの──ッ!!」

...tên của nó là “Pháp Tắc (Dharma)”.

──その名は、〝法則(ダルマ)〟と言った。

“Pháp Tắc (Dharma)” được triệu hồi, vừa vặn trong tay Luminous.

召喚された〝法則(ダルマ)〟は、ルミナスの手によく馴染んだ。

Đây là lần đầu tiên nàng chạm vào nó với hình dạng này, nhưng có vẻ như nó đã công nhận nàng là chủ nhân.

その姿では初めて触れるのだが、主として認められている様子である。

Bằng chứng là, hình dạng của “Pháp Tắc (Dharma)” đã biến đổi giống hệt như Dạ Tường Vi Đao (Nightrose).

その証拠に、〝法則(ダルマ)〟の形状が夜薔薇の刀(ナイトローズ)とそっくり同じに変化している。

“Trả lại đây! Trả lại thanh kiếm của ta...!!”

「返せッ! ボクの剣を返せぇ──ッ!!」

Vì có kí ức, nên Twilight cảm thấy sợ hãi.

記憶があるだけに、トワイライトは恐ろしいのだ。

Bởi vì nếu nó được sử dụng, hắn không còn cách nào khác ngoài việc từ bỏ vì biết rằng mình không có cơ hội chiến thắng.

それを使われたら、自分に勝ち目などないのだと諦めるしかないから。

Luminous liếc nhìn Twilight với vẻ thương hại.

ルミナスは、そんなトワイライトを憐れむように一瞥した。

“Nghĩ lại thì ngươi cũng là một nạn nhân của thí nghiệm của ta. Hành vi đó khó có thể tha thứ, nhưng tất cả đều là trách nhiệm của ta. Ít nhất, ta sẽ để ngươi ra đi mà không đau đớn.”

「思えば貴様も、私の実験による犠牲者なのじゃな。その所業は許し難いが、それも全て私の責任よな。せめて、苦しまぬように逝かせてやろう」

Thẳng thắn mà nói, đối với Luminous cũng là một điều bất đắc dĩ.

正直に言えば、ルミナスからしても不本意なのだ。

Người đã thực hiện thí nghiệm là Thần tổ, và Luminous có thể nói là thuộc về phía nạn nhân.

実験をしたのは神祖であり、ルミナスは寧(むし)ろ、被害者側であると言える。

Những sự kiện tồi tệ nhất do Twilight, vỏ bọc của Thần tổ, gây ra. Người đã bôn ba để giải quyết hậu quả cũng là Luminous, và nàng không nghĩ rằng mình có một phần trách nhiệm trong đó, cũng không muốn nghĩ vậy.

神祖の抜け殻だったトワイライトが起こした、最悪な事件の数々。その後始末に奔走したのもルミナスだし、その責任の一端が自分にあるとは思えないし、思いたくもない。

Tuy nhiên, thật đáng buồn, vì đã có được kí ức về việc thực hiện thí nghiệm, nên nàng không thể nói những lời vô trách nhiệm được nữa.

しかし悲しいかな、実験をした記憶が宿ってしまった事で、無責任な発言も出来なくなってしまっていた。

Buồn, hay tức giận, hay có lỗi, những cảm xúc phức tạp đó đang đấu tranh với nhau, và nàng cũng đang cảm thấy kì lạ về chính mình.

悲しいというか、腹立たしいというか、申し訳ないというか、そうした複雑な感情がせめぎ合い、自分でも不思議な気分になってしまっている。

Nếu nhìn từ góc độ đó, thì Twilight đang ở trước mặt cũng là Thần tổ mà không phải là Thần tổ. Nếu nghĩ rằng hắn chỉ là một vật thí nghiệm, thì cũng sẽ nảy sinh lòng thương hại.

そうした観点から見れば、目の前にいるトワイライトも、神祖であって神祖ではない。単なる実験体にしか過ぎなかったのだと思えば、憐れみも湧くというものだった。

Do đó, Luminous đã quyết tâm tiễn Twilight với lòng nhân từ tối đa.

故にルミナスは、最大限の慈悲を込めてトワイライトに引導を渡そうと決意する。

“Dừng lại, dừng lại đi...!!”

「止めろ、止めろぉ────ッ!!」

Quyền năng của Luminous đã tiến hóa từ Kĩ năng Tối thượng『Sắc Dục Vương (Asmodeus)』thành『Sáng Tạo Vương (Ahura Mazda)』.

ルミナスの権能は、究極能力(アルティメットスキル)『色欲之王(アスモデウス)』から『善光之王(アフラ・マズダ)』へと進化している。

Vũ khí của Luminous đã được thay đổi từ cấp Thần thoại (God) sang cấp Sáng thế (Genesis).

ルミナスの武器は、神話級(ゴッズ)から創世級(ジェネシス)へと変更されていた。

Giá trị tồn tại của Luminous hiện đã vượt quá hai mươi triệu. Sẽ được cộng thêm phần của “Pháp Tắc (Dharma)”, nhưng Luminous hiện tại chỉ có thể rút ra được hơn hai mươi triệu... nói cách khác, tổng cộng sẽ vượt quá bốn mươi triệu.

ルミナスの存在値は、今や二千万を超えている。そこに〝法則(ダルマ)〟の分まで加算される事になるのだが、今のルミナスが引き出せるのは二千万強──つまり総計すると、四千万を超えるという事になる。

A cartoon of a person with long hair and a sword

AI-generated content may be incorrect.

Và rồi nàng tung ra bí kĩ mạnh nhất...

そして放つのは、最強奥義──

“Hãy yên nghỉ nhé... ‘Tử Giả Trấn Hồn Ca (Memory End Requiem)’!!”

「安らかに眠るがよい──〝死せる者への鎮魂歌(メモリーエンドレクイエム)〟──ッ!!」

“Aaaaaaaaaa────!!”

「ああああああああああ────ッ!!」

Đó là kết thúc.

それが、決着。

Twilight, trong sự bình yên, đã nhận ra sai lầm của mình.

トワイライトは安らぎの中で、自らの過ちに気付いた。

Hắn đã nhớ lại tất cả và hiểu rằng lời nói của Luminous là đúng.

全てを思い出し、ルミナスの言葉が正しかったのだと理解する。

Và rồi...

そして──

Hắn đã tan thành tro bụi và quay trở lại bên trong Luminous.

塵となって、ルミナスの中に回帰したのだった。

Nhân tiện, đã có những người quan sát cảnh tượng này.

ちなみに、この様子を観戦していた者達がいた。

Họ là những người sống sót trong số các đệ tử cao cấp của Thần tổ, tự xưng là “Tam Hiền Nhân Cổ Đại (Trinity Wiseman)” ở một tiểu quốc nào đó.

神祖の高弟達の生き残りで、とある小国で〝最古参の三賢人(トリニティワイズマン)〟を名乗っている者達である。

Họ đã có ý định làm ơn cho Luminous, nhưng âm mưu đó đã sụp đổ một cách dễ dàng.

あわよくばルミナスに恩を売ろうなどと考えていたのだが、その目論見は脆くも崩れ去った。

“Thành thật mà nói, có rất nhiều điều muốn nói, nhưng...”

「正直、言いたい事は色々とあるが……」

“Dù đã vất vả khắc phục được ánh nắng mặt trời, nhưng lại không có cơ hội thể hiện.”

「せっかく陽光を克服したというのに、見せ場なしだ」

“Cũng đành thôi nhỉ. Không cần tính toán cũng biết, dù chúng ta có tham chiến cũng vô ích...”

「仕方ないよね。演算するまでもなく、私達が参戦しても意味ないもん……」

Vậy là, họ đã lặng lẽ rút lui.

という事で、すごすご撤退したとか何とか。

Tuy nhiên, điều đó không liên quan gì đến Luminous.

しかしそれは、ルミナスとは何の関係もない話なのだった。

Vị vua ác đức đã biến mất.

悪徳の王は消滅した。

Lúc đó, một tràng pháo tay vang lên.

その時、拍手の音が鳴り響く。

“Rain sao?”

「レインか?」

“Quả nhiên là Luminous-sama! Thật là một màn trình diễn tuyệt vời!”

「流石はルミナス様! 素晴らしい御手並みでした!」

“Hừ, vẫn là một kẻ giỏi nịnh hót...”

「フンッ、相変わらず調子のいいヤツじゃ……」

Rain lúc nào cũng hời hợt.

レインが軽薄なのは、いつもの事だ。

Lần này cũng vậy, Luminous kinh ngạc.

今回も同じだなと、ルミナスは呆れる。

“Không không, tôi đã rất muốn giúp sức, nhưng lại không có cơ hội nào cả.”

「いえいえ、助太刀する気満々だったのですが、私の出番など御座いませんでしたわ」

“Ha, nói những lời không thật lòng.”

「ハッ、心にもない事を」

“Tôi đã rất nghiêm túc! Bởi vì tôi rất ghét tên khốn Twilight đó.”

「本気でしたとも! だって私、トワイライトのクソ野郎が大嫌いでしたもの」

Rain nói với vẻ mặt nghiêm nghị.

レインは、すまし顔でそう言った。

Luminous, dù có chút kinh ngạc, nhưng cũng chấp nhận.

ルミナスは、呆れつつも納得する。

“Về chuyện đó, ta cũng đã làm phiền ngươi. Thiếp cũng xin lỗi.”

「それについては、貴様にも迷惑をかけてしまったな。妾(わらわ)からも謝罪するとしよう」

“Không không không, không phải lỗi của Luminous-sama đâu ạ. Dù thế nào đi nữa, tôi vẫn rất kính trọng Luminous-sama!”

「いえいえいえ、ルミナス様のせいでは御座いませんよ。私、これでもルミナス様の事は尊敬しておりますので!」

Lời nói này là thật lòng của Rain.

この発言は、レインの本音である。

Dù rất ghét Thần tổ Twilight, nhưng cô lại rất yêu quý Luminous.

神祖トワイライトは大嫌いだったが、ルミナスの事は大好きなのだ。

“Vậy thì, Luminous-sama hiện tại, có phải là Luminous-sama là Ma vương không...?”

「それで、今のルミナス様は、魔王だったルミナス様──で、間違いないのでしょうか?」

Rain hỏi một cách rụt rè.

恐る恐る、レインが訊ねた。

Luminous, có phải là “Luminous” được Verudanava ban cho cái tên đó không?

ルミナスが、ヴェルダナーヴァより名付けられた名を譲られた〝ルミナス〟なのか、と。

Đối với Rain, đó cũng là một sự thật mà cô mới biết được sau khi nghe cuộc trò chuyện vừa rồi.

レインとしても、先ほどの会話を聞いていて初めて知った事実だった。

Chính vì vậy, vì quá ngạc nhiên nên cô chỉ có thể đứng nhìn.

それ故に、驚き過ぎて見守るしかなかった、というのが実情だったりする。

Twilight, người mà cô luôn ghét, cũng là một tác phẩm của Verudanava. Tại sao một kẻ thất bại như vậy lại... khi đang tự hỏi, thì lí do chính là, hắn là một vật thí nghiệm được tạo ra bằng cách tách rời “kí ức” và “nhân cách” của chính mình, nên cô vừa ngạc nhiên vừa kinh ngạc...

ずっと嫌っていたトワイライトも、ヴェルダナーヴァの作品なのだ。どうしてあんな出来損ないが──と疑問に思っていたら、その理由がまさに、自分自身で〝記憶〟と〝人格〟を分離させて生み出した実験体だった、というのだから驚くやら呆れるやら……。

Thì ra, một tên khốn như vậy cũng có thể được sinh ra... Rain đã rất đồng tình.

そりゃあ、あんなクソ野郎が誕生する事もあるよね──と、レインは大いに納得したのである。

Tuy nhiên, bây giờ.

しかし、今。

Ý chí của Luminous, một người có nhân cách tốt, dường như đã hợp nhất với kí ức và kinh nghiệm của Thần tổ. Cô nghĩ rằng cần phải xác nhận xem Luminous hiện tại giống với Luminous mà cô biết đến mức nào.

人格者であるルミナスの意思に、神祖の記憶や経験が統合された様子。どこまでレインの知るルミナスと同一なのか、それを確かめておく必要があると考えたのだった。

“Hừm, chuyện đó thì, thiếp là ‘thiếp’ mà ngươi biết. Vì ý chí liên tục của thiếp là chủ, nên ‘ta’ với tư cách là Thần tổ đang ngủ. Hay đúng hơn là, đã hoàn toàn hợp nhất rồi.”

「ふむ、それはじゃな。妾(わらわ)は、貴様の知る〝妾(わらわ)〟じゃ。継続意思としては妾(わらわ)が主である故、神祖としての〝私〟は眠りについておる。というか、もはや完全に統合されておるな」

Đó là câu trả lời của Luminous.

というのが、ルミナスの答えだった。

Luminous đã sống như Luminous, và chỉ có kí ức của Thần tổ được thêm vào, đó là sự thật. Do đó, những quyền năng của Thần tổ được kế thừa cũng là của Luminous.

ルミナスはルミナスとして生きてきたので、そこに神祖の記憶がのっかっただけ、というのが実情なのだ。故に、継承した神祖の権能諸々も、ルミナスのものだ。

Nói cách khác, Luminous đã có thể tự do sử dụng Kĩ năng Tối thượng『Ác Đức Vương (Anra Manyu)』và『Sáng Tạo Vương (Ahura Mazda)』.

つまりルミナスは、究極能力(アルティメットスキル)『悪徳之王(アンラ・マンユ)』と『善光之王(アフラ・マズダ)』を、自由自在に操れるようになっていた。

Thực ra, vẻ ngoài cũng có thể tự do thay đổi. Nếu hình dạng phụ nữ là Luminous hiện tại, thì khi trở thành hình dạng đàn ông, nàng có thể biến thành Twilight.

実は、見た目も自由自在。女性の姿が今のルミナスなら、男性体になればトワイライトへと変身可能なのである。

Vốn dĩ Thần tổ không có giới tính, nhưng Luminous lại cảm thấy có gì đó không đúng về điểm này.

元より神祖には性別などなかったのだが、この点については違和感があるルミナスなのだった。

Trong khi trả lời những câu hỏi của Rain, Luminous đã thay đổi tâm trạng.

そんな感じでレインからの質問に答え、ルミナスは気持ちを切り替えた。

Nàng quay trở lại chiến trường và nắm bắt tình hình.

戦場へと意識を戻し、状況を理解する。

“Hừm. Thay vì thiếp, Misery đã duy trì ‘Bí pháp Thánh Vực Hóa (Sanctuary)’ sao. Chắc là đã vất vả lắm, đã được giúp đỡ rồi.”

「ふむ。妾(わらわ)の代わりに、ミザリーが〝聖域化(サンクチュアリ)の秘法〟を維持してくれたのか。大変だったであろうに、助けられたな」

“Không sao đâu ạ. Misery rất giỏi mà.”

「大丈夫ですわ。ミザリーは優秀ですもの」

Rain gật đầu trước lời khen của Luminous dành cho Misery và tự hào như thể đó là chuyện của mình. Điều này cũng là chuyện thường ngày, nên Luminous chỉ nghe qua loa.

ルミナスからミザリーへの賞賛に頷き、自分の事のように自慢するレイン。これもいつもの事なので、ルミナスはサラッと聞き流す。

Luminous đã quen biết Rain từ rất lâu. Tính cách của cô ấy, Luminous đã hiểu rõ.

レインとの付き合いは古い。そんな彼女の性格など、ルミナスにはお見通しなのだ。

Rain thì, từ giờ Luminous-sama là “Thần tổ” nên thật tuyệt vời... cô đã lạc quan vui mừng như vậy.

レインはというと、今後はルミナス様が〝神祖〟なんだから最高よね──と、楽観的に喜んでいた。

Với tâm trạng vui vẻ, cô nhanh chóng liên lạc với Misery và báo tin Luminous đã trở lại.

ルンルン気分で速やかにミザリーへと連絡を行い、ルミナス復帰を伝達する。

‘Luminous-sama, ngài đã có thể trở lại mặt trận rồi, có cần tôi chuyển giao Thánh Vực Hóa (Sanctuary) lại cho ngài không ạ?’

『ルミナス様、もう戦線に復帰可能との事ですが、聖域化(サンクチュアリ)を交代してもらっても宜しいのでしょうか?』

‘Ừm. Đã làm phiền ngươi rồi, Misery.’

『うむ。迷惑をかけたな、ミザリーよ』

Luminous vừa nói chuyện bằng “Truyền Đạt Tư Niệm”, vừa bay về phía Misery.

ルミナスは『思念伝達』で会話しつつ、飛翔してミザリーを目指した。

Rain cũng đi theo.

レインも追従する。

Ngay khi họ gặp nhau một cách an toàn, Luminous đã sử dụng quyền năng của mình.

無事に合流を果たすなり、ルミナスが権能を行使した。

“Cảm ơn ngươi. Phần còn lại cứ để cho thiếp, ngươi hãy nghỉ ngơi một chút.”

「助かったぞ。後は妾(わらわ)に任せて、しばし休んでいるがよい」

“Không, nếu có thể giúp ích một chút, thì không có niềm vui nào lớn hơn ạ.”

「いえ、微力ながらお役に立てたのであれば、これに勝る喜びは御座いませんわ」

Lòng nhân từ của thần đã giáng xuống chiến trường.

戦場に神の慈悲が降り注いだ。

Luminous đã sử dụng “Thánh Vực Cực Đại Tử Giả Phục Sinh (Sanctuary Resurrection)”.

ルミナスの手で〝聖域型極大死者蘇生(サンクチュアリ・リザレクション)〟が行使されたのだ。

Misery cũng đã hoàn thành việc bàn giao một cách an toàn và thở phào nhẹ nhõm. Cô ngay lập tức hỗ trợ Luminous và góp phần rút ngắn thời gian sử dụng.

ミザリーも、引継ぎを無事に終えてひと安心である。そのままルミナスのサポートに入り、行使するタイミングの短縮に貢献する事となった。

Rain, với tư cách là hộ vệ, đã bảo vệ Luminous và Misery.

レインは護衛として、ルミナスとミザリーを警護する形だ。

Dù có vẻ như là người làm việc ít nhất, nhưng đó có lẽ chỉ là cảm giác.

一番働いていないようにも見えるが、それは気のせいであろう。

Như vậy, chiến trường đang trong tình trạng nguy kịch đã lấy lại được sự ổn định.

こうして、危機的状況にあった戦場は、再び安定感を取り戻したのだった。

Ở mặt trận phía đông, Hinata, Calgurio và những người khác đang chiến đấu chống lại những Ảo thú (Cryptid) đã biến thành hình người... những kẻ cận thần của “Diệt Giới Long” Ivalage.

東方面では、人型となった幻獣族(クリプテッド)──〝滅(めっ)界(かい)竜(りゅう)〟イヴァラージェの側近級達を相手に、ヒナタやカリギュリオ達が奮闘していた。

Vừa quan sát họ, Benimaru vừa hỗ trợ.

それを視野に入れつつ、ベニマルが援護する。

Dù nói là hỗ trợ, nhưng hỏa lực lại ở một đẳng cấp khác.

援護と言っても、火力が桁違いだ。

“Biến đi, bọn tép riu... ‘Hắc Viêm Ngục (Hell Flare)’!”

「消えろ、雑魚共──〝黒炎獄(ヘルフレア)〟!」

Để không làm gián đoạn cuộc chiến của những người có cấp bậc cao hơn, anh ta đã tiếp tục tiêu diệt những Ảo thú (Cryptid) đang bu lại để phá vỡ Kết Giới Thánh Tịnh Hóa (Holy Field).

格上同士の戦闘を邪魔させないように、聖浄化結界(ホーリーフィールド)を壊そうとして群がってくる幻獣族(クリプテッド)の殲滅を続けていた。

Benimaru đang đứng ở điểm khởi đầu phía đông do Hồng y Nicolaus triển khai. Vì là trung tâm mục tiêu của kẻ địch, nên anh ta không thiếu con mồi.

ベニマルは、ニコラウス枢機卿が展開させている東の基点に立っている。敵の狙いのド真ん中なので、獲物に事欠かない有様だった。

Dù đang trong tình huống như vậy, nhưng vẻ mặt của Benimaru vẫn rất tươi tỉnh.

こんな時だというのに、ベニマルの表情は明るい。

Sau khi biết Rimuru đã trở về, anh ta đã tin chắc rằng sẽ không có thất bại nào nữa.

リムル帰還を知って以降、最早敗北はないと確信しているのだ。

Anh ta chém một nhát, hạ gục một Ảo thú (Cryptid) đang lao đến.

迫り来る幻獣族(クリプテッド)を、一刀で斬って捨てる。

Đối với Benimaru, ngay cả một cá thể cấp cao cũng không phải là đối thủ.

ベニマルにとっては、上位個体であろうとも敵ではなかった。

Dù cá thể yếu nhất cũng có sức mạnh tương đương với Hạt giống Ma vương, nhưng đối với Benimaru hiện tại, chúng là những đối thủ dễ dàng đối phó. Chúng không sử dụng võ kĩ, cũng không có trí tuệ cao.

最弱個体でも魔王種に匹敵するほどの存在なのだが、今のベニマルからすれば御しやすい相手なのだ。武技を操る訳でもなく、知能が高い訳でもない。

Ngoài những cá thể đã tiến hóa thành hình người, anh ta nhận định rằng không có mối đe dọa nào.

人型に進化した個体以外は、脅威ではないという認識なのだった。

Tuy nhiên, nếu là các thành viên của Thánh Kị Sĩ Đoàn (Crusaders) hay Hoàng Đế Cận Vệ Kị Sĩ Đoàn (Imperial Guardian) mới thành lập, thì họ sẽ muốn phàn nàn rằng “Làm gì có chuyện đó!”.

もっとも、聖騎士団(クルセイダーズ)や新生帝国皇帝近衛騎士団(インペリアルガーディアン)の面々からすれば、『そんな訳ねーだろ!』と文句の一つも言いたくなるような話である。

Nhưng, không sao đâu.

だが、大丈夫だ。

Benimaru không hề lập kế hoạch dựa trên sức mạnh của bản thân, nên chỉ có điểm đó là có thể yên tâm.

ベニマルは自分の強さを基準にして作戦立案したりしないので、その点だけは安心なのだった。

Trong lúc đó, nổi bật trên chiến trường là hai trăm thành viên của Hắc Sắc Quân Đoàn (Black Numbers) dưới quyền Testarossa.

そんな中、戦場で目立つのはテスタロッサ配下の黒色軍団(ブラックナンバーズ)二百名だ。

Vì nữ hoàng đã trở về và đang quan sát, nên việc họ hăng hái cũng là điều đương nhiên.

女帝が帰還して睥(へい)睨(げい)しているのだから、気合が入るのも当然であった。

Ý tưởng lười biếng vốn dĩ không có, nhưng đó là một bầu không khí không cho phép dù chỉ một sai lầm nhỏ.

サボるという発想は最初からなかったが、たった一つのミスさえ許されない空気感である。

Thậm chí, có vẻ như họ còn sợ hậu phương hơn cả kẻ địch.

何なら、敵よりも後方が怖いと考えていそうな節さえあった。

Mà, nhờ sự cố gắng của họ, chiến trường đã bắt đầu có chút余裕, nên đối với Benimaru thì không có gì để phàn nàn.

まあ、彼らの頑張りで戦場に余裕が生まれ始めているので、ベニマルからすれば文句はない。

“Cố lên nhé, các ngươi!”

「頑張れよ、お前達!」

Anh ta cổ vũ một cách hờ hững.

と、生暖かく応援するのだった。

Ở phía nam, trận chiến quyết định giữa Ultima và Swim đã bước vào giai đoạn cao trào.

南方面では、ウルティマとスイームの決戦が佳境に入っていた。

Ultima cười khẩy.

ウルティマは嗤う。

Swim chắc chắn mạnh, nhưng thành thật mà nói, nó không đáng sợ bằng những kẻ thù mạnh mà cô đã từng chiến đấu trong quá khứ.

スイームは確かに強かったが、正直に言って、かつて戦った強敵達よりも脅威ではなかった。

Sức mạnh thì chắc chắn là mạnh.

力は確かに強い。

Uy lực của kĩ năng rất kinh khủng, và nếu trúng phải thì chắc chắn sẽ chết ngay lập tức.

技の威力は凄まじいし、直撃すれば即死なのは間違いない。

Tuy nhiên, nếu trình độ chỉ ở mức trẻ con thì cũng vô nghĩa.

けれど、技量(レベル)が児戯に等しくては意味がないのだ。

Nếu Swim tiếp tục sử dụng cách chiến đấu ban đầu, có lẽ cô vẫn chưa tìm ra được manh mối để đánh bại nó. Nhưng sau khi biến thành hình người, tình hình đã thay đổi hoàn toàn.

スイームが本来の戦い方を続けていれば、まだ倒す方法の糸口さえ見出せていなかっただろう。けれど人型になった事で、状況は一変した。

“Ngươi, ngươi...!!”

「お前、お前ぇーーーーっ!!」

Swim hét lên trong cơn tức giận.

スイームが癇(かん)癪(しゃく)を起こして叫ぶ。

Tia sáng mà nó định biến Ultima thành tro bụi đã bị né một cách dễ dàng. Điều đó làm nó tức giận.

ウルティマを完全に塵にするつもりだった光線が、軽々と回避されてしまった。それが悔しかったのだ。

Ý thức mong manh của Swim không thể chịu đựng được việc mình ở thế yếu. Nó chỉ có ký ức về việc luôn áp đảo những kẻ yếu một cách đơn phương, và không có kinh nghiệm vượt qua khó khăn.

スイームの脆弱な自我では、自分が劣勢な立場にあるのが我慢ならない。常に一方的に弱者を蹂躙してきた記憶しかなく、苦境を乗り越えた経験がないからだ。

Đối với Ultima, nó giống như một con mồi.

ウルティマからすれば、カモのような相手だった。

Nếu lơ là, sẽ bị tiêu diệt ngay lập tức, nhưng Ultima không phải là người sẽ mắc phải sai lầm như vậy. Cô vừa tập trung phòng thủ, vừa quan sát chuyển động của Swim và tìm ra thói quen của nó.

油断したら一瞬で滅ぼされるが、そんなヘマをするようなウルティマではない。防御に徹しつつスイームの動きを観察し、その癖を見抜いていく.

Bản thân tia sáng phát ra từ lòng bàn tay của Swim có tốc độ cận ánh sáng, nhưng động tác đưa lòng bàn tay ra lại không nhanh đến thế, nên rất dễ bị phát hiện. Nếu quan sát toàn bộ chuyển động một cách cẩn thận, có thể dễ dàng đối phó.

スイームの掌から発される光線そのものは亜光速だが、その掌を向ける動作はそこまで速くないのでバレバレだった。全体動作をちゃんと観察していれば、簡単に対応可能だったのである。

Cú đấm của Swim rất mạnh.

スイームのパンチは強い。

Sức công phá của nó còn lớn hơn cả một thiên thạch cỡ nhỏ va chạm.

その衝撃は、小岩サイズの隕石が衝突したよりも上だ。

Tuy nhiên, đó là một cú đấm nghiệp dư nên không thể nào chạm tới được Ultima.

しかしながら、それは素人同然のテレホンパンチなので、ウルティマに届くはずがないのである。

Nếu Swim học được võ thuật bài bản, nó sẽ trở thành một con quái vật không thể nào kiểm soát được. Nhưng tương lai đó sẽ không đến, và Ultima cũng không đủ tử tế để dạy nó trong khi chiến đấu.

もしもスイームが本格的な格闘技を学んだならば、手の付けられない化け物に育つだろう。けれど、そんな未来は訪れないし、戦闘中に学習させてあげるほどウルティマは優しくなかった。

“Ngươi yếu quá nhỉ ♪”

「キミって、弱いね♪」

Dù là một đối thủ có giá trị tồn tại cao hơn, và lượng năng lượng ẩn chứa gấp hơn mười lần, một đối thủ mà về mặt lý thuyết không thể nào có một trận chiến cân sức, nhưng đối với Ultima, Swim giờ đây chỉ là một con mồi.

存在値では格上。

内包されるエネルギー量は十倍以上という、数字上では勝負が成立しない相手であるにもかかわらず、もはやスイームは、ウルティマにとっての獲物でしかなかった。

Dù tốc độ vật lí kém xa, nhưng nếu sử dụng ma pháp, cô có thể đối phó ngay cả trong thế giới cận ánh sáng. Đó là khả năng chiến đấu của Ultima.

物理的な速度では遠く及ばないが、魔法を駆使すれば亜光速の世界だろうと対処可能となる。それがウルティマの戦闘センスだった。

Cô đã kế thừa kĩ năng từ Damrada và rèn luyện nó bằng cách đối đầu với Zegion để biến nó thành của riêng mình. Bằng cách rèn luyện thêm nữa, cô đã có được một thực lực không hề hổ danh với danh hiệu “Quyền Ma”.

ダムラダから技を継承し、ゼギオン相手に切磋琢磨して自分のモノにした。それを更に研鑽する事で、〝拳魔〟の称号に恥じぬ実力を身につけていたのである。

Và hơn nữa, cô đã trải qua một trận chiến với Verugrynd, một tồn tại vượt xa cô về đẳng cấp.

そして更には、ヴェルグリンドという遥か格上の存在との戦闘を経験している。

Swim còn kém hơn cả Verugrynd, nên đối với Ultima, nó giống như một đối thủ không có gì mới mẻ.

スイームはヴェルグリンドよりも劣るので、ウルティマからすれば新鮮味もない相手に思えるほどだった。

Ultima hiện thực hóa hai con dao găm để đối phó với Swim được bao bọc bởi một lớp áo giáp cứng. Tay cầm của những con dao găm đó có hình dạng của một chiếc nắm đấm, được thiết kế để có thể dùng để đấm.

ウルティマは二本のナイフを具現化して、硬質な鎧に覆われたスイームに対抗する。そのナイフの持ち手はナックル状になっていて、殴打にも用いられる造りになっていた。

Đó là thứ được gọi là dao găm bảo vệ tay.

所謂(いわゆる)、ナックルガード・ナイフというヤツである。

Ultima duy trì một phong cách chiến đấu trong đó cô cầm con dao ở tay phải theo cách cầm ngược và con dao ở tay trái theo cách cầm xuôi, với tay trái là chủ yếu để phòng thủ. Vì cả hai nắm đấm đều được bảo vệ, nên cô không chỉ có thể đâm bằng dao mà còn có thể đấm văng đối thủ.

ウルティマは、右手では逆手に、左手では順手に持ち、左手側を防御主体にするという戦闘スタイルを維持している。両方の拳が守られているので、ナイフで突くだけではなく殴り飛ばしたりも出来るのだ。

Ngoài ra, những con dao găm này, giống như Vuốt Kéo Dao (Scissors) của Diablo, là những vũ khí cấp Thần thoại (God) do Ultima hiện thực hóa. Do đó, chúng có thể được lấy ra và cất đi một cách tự do, và khi thực hiện Hồng Xà Tử Độc Thủ (Bloody Bite) bằng tay không, chúng cũng có thể tự do biến thành “Trừ độc” để bảo vệ toàn bộ lòng bàn tay.

また、このナイフはディアブロの爪鋏刃(シザーズ)と同様、ウルティマが具現化した神話級(ゴッズ)の武具である。それ故に出し入れ自由で、手刀による紅蛇死毒手(ブラッディーバイト)を仕掛ける際には、手の平全体を守るように『呪毒』へと変化させるのも自由自在なのだった。

“Này này, ta đã chán chiến đấu với ngươi rồi, nên phải kết thúc sớm thôi nhỉ ♪”

「さてさて、キミとの戦いも飽きてきたし、そろそろ終わらせなきゃね♪」

Nói rồi, Ultima nở một nụ cười rạng rỡ.

そう告げて、ウルティマはニンマリと笑みを深めた。

Thoạt nhìn có vẻ ngây thơ, nhưng đó là một nụ cười tà ác.

一見すると無邪気なのに、邪悪そのものの笑みだった。

Đó là một nụ cười chắc chắn chiến thắng.

勝利を確信した笑みだった。

Và điều đó, sẽ được thực hiện ngay sau đây.

そしてそれは、この後直ぐに実現する。

...‘Tử Khắc Băng Hoại (Limit End)’ sắp đến rồi nhỉ.

「──〝黒死崩壊(リミットエンド)〟はもう直ぐだね」

“Trừ độc” mà Ultima đã liên tục tiêm vào bằng Hồng Xà Tử Độc Thủ (Bloody Bite), đang từ từ thẩm thấu vào cơ thể Swim. Đó là một lời nguyền của ác ma, gây ra một phản ứng hóa học kịch tính bởi một tín hiệu đặc biệt... và đã làm nổi lên những vết đốm đen trên bề mặt cơ thể và áo giáp của Swim.

ウルティマが紅蛇死毒手(ブラッディーバイト)で小刻みに撃ち込んでいた『呪毒』は、スイームの体内にじわじわと浸透していた。それは特定の信号によって、劇的な化学反応を起こす悪魔の呪いそのもので──スイームの体表面や鎧にも黒い斑点模様を浮かび上がらせていた。

Đó chính là “Tử Khắc Băng Hoại (Limit End)”...

それこそが、〝黒死崩壊(リミットエンド)〟──

“Trừ độc” đã thẩm thấu vào cơ thể tạo ra “Hắc viêm hạch (Abyss Core)” và định vị ở một hình thức tối ưu để gây ra phản ứng dây chuyền. Hơn nữa, nó còn có hành vi giống như tế bào ung thư, hút năng lượng từ vật chủ mà nó đã định vị và phát triển ngày càng lớn.

体内に浸透した『呪毒』は〝黒炎核(アビスコア)〟を生成し、連鎖反応を起こすのに最適な形で定着していく。しかも、定着した宿主からエネルギーを吸い取りどんどん成長するという、癌細胞のような挙動を行うのだ。

Năng lượng của Swim rất lớn, và sự phát triển diễn ra rất nhanh.

スイームのエネルギーは膨大であり、成長はあっという間だった。

Quả ác ma chứa đầy năng lượng đã kết trái trong cơ thể Swim.

十分にエネルギーを秘めた悪魔の果実が、スイームの体内で結実する。

Vì tất cả những thứ này sẽ phát nổ cùng một lúc, nên không có sinh vật nào có thể chống lại được. Việc đối phó trước khi điều này xảy ra chính là cách đối phó với những kĩ năng thuộc hệ này.

これらが一斉に起爆するのだから、如何なる生命体であろうが抗えるものではない。こうなる前に対処するのが、こうした系統の技への対処方法なのだ。

Việc không biết điều đó chính là nguyên nhân thất bại của Swim.

それを知らなかったのが、スイームの敗因となる。

Đối đầu với một kẻ thiếu hiểu biết, thật dễ dàng để gài bẫy... Ultima nghĩ.

無知なヤツが相手だと、ここまで簡単に仕込めるのか──と、ウルティマは思った。

Dễ dàng đến mức ngược lại còn thấy không thú vị.

簡単過ぎて、逆に面白くなかったほどである。

Những vết đốm đen nổi lên trên khắp cơ thể Swim đang thay đổi màu sắc và hoa văn.

スイームの全身に浮かび上がった黒い斑点が、その色と模様を変えていく。

Những dây leo đen chạy dọc nối các vết đốm lại với nhau, và ở trung tâm bề mặt cơ thể của Swim... vị trí tim của con người... một bông hoa màu tím đã nở ra.

斑点を繋ぐように黒い蔦が走り、スイームの体表中心──人体で言えば心臓の位置に、紫色の華を咲かせた。

Đó là dấu hiệu cho thấy độc tố đã lan ra khắp nơi.

それが、毒が行き渡った合図となる。

Ultima không bỏ lỡ điều đó và đã thực hiện đòn kết liễu cuối cùng một cách thích hợp.

ウルティマはそれを見逃さず、適切に最後の仕上げを行った。

“Phá hủy tâm hạch (Core Break).”

「心核破壊(コアブレイク)」

“Hả?”

「はィ?」

Khoảnh khắc tiếp theo, Hắc viêm hạch (Abyss Core) được kích hoạt đã làm cho lượng năng lượng khổng lồ tích trữ bên trong cơ thể Swim bị nổ nén. Toàn bộ năng lượng đó tập trung vào trung tâm của Swim... và ở đó, một “cánh cửa” dẫn đến『Hư Vô』do Ultima tạo ra đã mở ra.

次の瞬間、起動した黒炎核(アビスコア)がスイームの体内に向けて、溜め込んだ膨大なエネルギーを爆縮させる。その全てのエネルギーはスイームの中心部に集中して──そこに、ウルティマが生み出した『虚無』に至る〝扉〟が開かれた。

Cộng trừ bằng không.

プラスマイナス=ゼロ。

Swim, không hề hiểu chuyện gì đã xảy ra, đã bị『Hư Vô』nuốt chửng ngay tại chỗ.

スイームは何が起きたのかも理解出来ぬまま、その場で『虚無』に呑まれたのだった。

Ở phía tây, Kakeashi đang một mình đối phó với những lực lượng chiến đấu chính.

西方面にて、カケアシは主力級の戦力相手に無双していた。

Shion đang chiến đấu chống lại Kakeashi, và bên cạnh đó Gobuta & Ranga đang cố gắng, trong khi Kumara đã chán việc đối phó với những kẻ yếu và tham chiến.

シオンがカケアシを相手に奮闘し、その横でゴブタ&ランガが頑張っているところに、雑魚相手に飽きたクマラが参戦した形である。

Kakeashi cảm thấy phiền phức.

カケアシは、うっとうしいと感じていた。

Kakeashi, một trong những vị vua thống trị thế giới khác, luôn được kính sợ.

異界に君臨する王の一角として、常に恐れられていたカケアシ。

Sức mạnh của hắn là bất bại, và hắn thậm chí còn chưa từng có một trận chiến nào có thể gọi là chiến đấu.

その力は無敗を誇り、戦いと呼べるような戦闘を行った経験もないほどだ。

Trước mặt Kakeashi, tất cả các sinh vật đều chỉ là con mồi.

カケアシの前では、あらゆる生命体が獲物でしかなかった。

Cũng có những ngoại lệ, nhưng vì hắn và những kẻ đó đều bảo vệ lãnh địa của mình, nên không có tranh chấp nào xảy ra.

例外もいたが、そうした者達とはお互いに領(ナワ)域(バリ)を守るようにしていたので、争う事がなかったのである。

Tuy nhiên, bản năng của Kakeashi lại tìm kiếm sự săn bắn.

ただし、カケアシの本能は狩猟を求めていた。

Khát vọng về một trận chiến sôi máu là mong muốn của Kakeashi.

血湧き肉躍る戦いへの渇 vọngが、カケアシの願望だったのだ。

Sự khác biệt với Swim nằm ở điểm này.

スイームとの違いが、この点だった。

Kakeashi đã biết cách tự rèn luyện bản thân một cách bản năng.

カケアシは本能的に、自己研鑽を重ねる術を知っていたのである。

Chính vì là một Kakeashi như vậy, hắn đã thất vọng với cuộc chiến này.

そんなカケアシだったからこそ、この戦いに失望していた。

Không có sự phấn khích như mong đợi. Bởi vì Gobuta, người đã “Ma Lang Hợp Nhất (Henshin)” với Ranga, Kumara, người đã thu lại “Bát bộ chúng” vào đuôi và dốc toàn lực, và ngay cả Shion, cũng yếu đến mức không thể gây ra một vết xước nào cho Kakeashi.

思っていたような高揚はない。何故ならば、ランガと『魔狼合一(ヘンシン)』したゴブタも、召喚した『八部衆』を尻尾に戻して全力となったクマラも、シオンでさえも、カケアシに傷すらつけられぬほど弱かったからだ。

Hắn đã cố tình nhận một đòn trực diện, nhưng nó không đau như hắn nghĩ.

ワザと直撃を受けてみたりもしたが、思ったほど痛くはなかった。

Hắn đã giả vờ đau để đối thủ lơ là, nhưng hắn bắt đầu nghĩ rằng có lẽ không cần thiết.

痛そうに演技をして相手を油断させたりもしたが、その必要すらなかったのではと思い始めている。

Tuy nhiên, hắn không lơ là.

ただし、油断はしない。

Kakeashi hiện tại không phải là bốn chân, mà là hình người.

今のカケアシは四本足ではなく、人型になっているからだ。

Không chỉ chưa quen với việc điều khiển sức mạnh, mà cách chiến đấu cũng đã thay đổi hoàn toàn. Dù đang đối phó bằng khả năng chiến đấu phi thường, nhưng vẫn chưa đạt đến trình độ thành thạo.

まだ力加減になれていない上に、戦い方が一変していた。類まれなる戦闘センスで対応しているものの、まだまだ熟練の域には達していないのである。

Kakeashi đã hiểu điều đó, và đang học hỏi từ cách chiến đấu và sự phối hợp của Gobuta & Ranga và Shion.

カケアシはそれを理解しており、ゴブタ&ランガやシオンの戦い方や連携を見て、学びを得ていたのだった。

“Cứng kinh khủng luôn...”

「ヤバいくらい硬いっすね……」

“Đòn tấn công của ta cũng không có tác dụng...”

「わっちの攻撃も通用しんせんえ……」

“Đừng có từ bỏ! Chắc chắn sẽ có cách giải quyết. Tôi nhất định sẽ tìm ra!”

「諦めるな! 必ず攻略法はある。この私が、きっと見つけ出してみせましょう!」

Gobuta & Ranga và Shion ở hàng tiền đạo, Kumara làm du kích, dù là một sự phối hợp ngẫu hứng nhưng lại rất tuyệt vời, đang thách thức Kakeashi. Tuy nhiên, đối với Kakeashi, nó giống như một sự lặp lại của cùng một thứ.

ゴブタ&ランガとシオンが前衛、クマラが遊撃という、即席ながらも見事な連携を取って、カケアシに挑んでいた。しかしカケアシからすれば、同じ事の繰り返しに思える。

Khứu giác nhạy bén của Kakeashi đã nắm bắt hoàn hảo chuyển động của ma tố.

カケアシの鋭敏な嗅覚は、魔素の動きを完璧に把握する。

Từ thông tin về mùi, hắn có thể tái tạo hoàn toàn chiến trường trong não.

匂いという情報から、脳内で戦場を完全再現可能なのだ。

Nó chính xác hơn cả “Cảm Nhận Ma Lực”, và độ trễ thông tin cũng ít hơn. Hắn đã nắm bắt được thông tin từ mọi hướng mà không cần đến thị giác hay thính giác.

それは『魔力感知』などよりも正確で、しかも情報の遅延は少ない。全方位の情報を、視覚や聴覚を必要とせずに把握していたのだ。

Đối với một Kakeashi như vậy, chuyển động của kẻ địch là rõ như ban ngày.

そんなカケアシからすれば、敵の動きは丸わかりだった。

Mô hình có thay đổi, nhưng không có gì thú vị cả.

パターンは変わっているが、面白みはなかったのだ。

Do đó, hắn cảm thấy buồn chán và định kết liễu nhanh gọn.

故に退屈になって、さっさと仕留めようとした。

Tuy nhiên, từ đây mọi chuyện lại không như ý.

ところが、ここからが思い通りにならない。

Tưởng là một đối thủ dễ dàng hạ gục, nhưng lại dai dẳng đến không ngờ.

簡単に倒せそうな相手だと思っていたのに、存外しぶとかったのだ。

Gobuta & Ranga đã chú trọng vào phòng thủ hơn là tấn công. Họ di chuyển để không bị trúng đòn, và tấn công vào những sơ hở của Kakeashi.

ゴブタ&ランガは、攻撃よりも防御に重きを置いていた。自分が被弾しないように立ち回りつつ、カケアシの隙を見つけて攻撃を仕掛けてくる。

Dù Kumara là du kích, nhưng đòn tấn công của cô lại nhẹ đến mức có thể bỏ qua. Tuy nhiên, điều đó lại trở thành một sai lầm. Cô đã gây ra những trạng thái bất thường như độc và tê liệt, cản trở chuyển động của Kakeashi.

遊撃のクマラだが、無視出来るレベルで攻撃が軽かった。しかし、それが仇となる。毒や麻痺といった状態異常を仕掛けられ、カケアシの動きを阻害したのだ。

Shion cũng phiền phức tương tự.

シオンも同様に厄介だった。

Dù có vẻ là những đòn tấn công bừa bãi, nhưng sự phối hợp lại rất khéo léo.

大雑把な攻撃に思えるが、連携が実に巧みだったのだ。

Cô đã sử dụng đòn tấn công của mình để làm phân tâm, tạo ra sơ hở cho Gobuta & Ranga tấn công. Hoặc là, nhắm vào khoảnh khắc yếu đi sau đòn tấn công của Kumara, cô lại tung ra một đòn mạnh mẽ.

自身の攻撃を目くらましに使って、ゴブタ&ランガが仕掛ける隙を作ったり。はたまた、クマラの攻撃で弱った瞬間を狙って、強力な一撃を放ってきたり。

Thực sự rất thành thạo trong chiến đấu.

実に戦闘慣れしていた。

Ngay khi Kakeashi định chú ý đến người khác, cô lại tung ra một kĩ năng lớn.

カケアシが注意を他の者に向けようとするなり、大技を仕掛けてきたりもする。

Và chỉ có đòn tấn công của Shion mới có thể khiến Kakeashi cảm thấy “đau”. Dù chỉ đau thôi, không đến mức là một mối đe dọa, nhưng nó đã bắt đầu khiến hắn cảm thấy phiền phức.

そしてシオンの攻撃だけは、カケアシにとっても〝痛い〟と思えるものだったのだ。痛いだけで、そこまで脅威ではないのだが、それでもうっとうしく思えてきたところだったのである。

Chính vì vậy, Kakeashi đã định kết thúc nhanh chóng, nhưng...

だからこそ、さっさと終わらせようとしたカケアシだったが……。

Shion tuyệt đối không bao giờ truy đuổi quá sâu.

シオンは、絶対に深追いはしてこなかった。

Nên gọi là trực giác bẩm sinh hay sao, khả năng phát hiện nguy hiểm của cô rất vượt trội.

天性の勘とでも呼ぶべきか、危険察知能力がずば抜けていたのである。

Chỉ thị cho Gobuta & Ranga, và Kumara cũng rất chính xác, và dù Kakeashi là một kẻ mạnh tuyệt đối, hắn cũng chưa thể gây ra một vết thương chí mạng nào.

ゴブタ&ランガ、そしてクマラへの指示も的確で、絶対的強者であるはずのカケアシであっても、致命傷を負わせるまでに至っていないのだった。

Tuy nhiên, nếu cứ tiếp tục chiến đấu như vậy, việc đánh bại hắn chỉ là vấn đề thời gian.

もっとも、このまま戦闘を続ければ、時間の問題で倒せただろう。

Nhưng ở đây, tình hình đã có sự thay đổi.

だがしかし、ここで状況に変化が起きた。

“Ta, đến rồi!”

「我、参上!」

Cuối cùng, vào thời điểm này, Verudora đã tham chiến.

遂にこの時、ヴェルドラが参戦したのだった。

Verudora, sau khi hợp nhất, đã đến nơi mà Shion và những người khác đang chiến đấu chống lại Kakeashi đã biến thành hình người.

合流したヴェルドラが向かった先では、人型となったカケアシを相手にシオン達が奮戦していた。

Dù chưa từ bỏ... nhưng Shion lại có vẻ rất hăng hái.

まだ諦めていない──どころか、シオンなどはやる気満々に見える。

Nhưng đối với Verudora thì không quan trọng.

だが、ヴェルドラには関係なかった。

Đứng ở vị trí sư phụ và quan sát cũng tốt, nhưng nếu nhìn theo một cách khác, nó cũng giống như đang lười biếng.

師匠ポジで見守るのもいいが、それは見方を変えるとサボっているようにも見える。

Bây giờ khi Rimuru đã trở về, Verudora muốn giảm thiểu tối đa những yếu tố có thể bị mắng.

リムルが帰ってきた今、怒られそうな要素は極力減らしておきたいヴェルドラなのだった。

“Ừm. Trước tiên phải lập công đã. Như vậy, ta lại có thể được khen rồi!”

「うむ。先ずは手柄を立てねばな。そうすれば、またも褒められちゃいそうである!」

Để ca ngợi công lao của ta, phải mở tiệc nữa chứ... Verudora đang rất phấn khích.

我の功績を称えて宴も開いてもらわねば──と、ヴェルドラはウキウキ気分だ。

Vậy nên, hắn đã đứng trước mặt Kakeashi và nói “Ta, đến rồi!”.

そんな訳で、「我、参上!」とカケアシの前に立ったのである。

Tuy nhiên, đã có người nổi giận vì điều này.

ところが、これに激怒した者がいた。

Shion.

シオンだ。

“Verudora-sama, lại nữa sao?”

「ヴェルドラ様、またですか?」

“Hừm? ‘Lại nữa’ là có ý gì?”

「む? 〝また〟とは、どういう意味だ?」

“Lần trước ngài cũng xuất hiện một cách ngầu lòi và cướp đi con mồi của tôi mà!!”

「この前も恰好良く登場して、私の獲物を奪っていったではありませんか!!」

Shion phồng má, phàn nàn với Verudora.

シオンはプンプンしながら、ヴェルドラに文句を言った。

Đó là sự việc trong trận chiến với Dagruel.

それはダグリュール戦の際の出来事だ。

Tuy nhiên, có vẻ như ký ức của cô đã bị thay đổi một chút.

しかしどうやら、少しばかり記憶が改竄されている気配があった。

“Ta thừa nhận là ta ngầu nhưng...”

「我が恰好いいのは認めるが……」

“Không phải chuyện đó!”

「そういう話はしていません!」

Shion thẳng thừng bác bỏ lời nói của Verudora.

ヴェルドラの発言を、ピシャリと撥ね除けるシオン。

Ở đây, Verudora đã suy nghĩ.

ここでヴェルドラは考えた。

Khoan đã, đây là lỗi của ta sao?

あれ、これって我が悪いのかな? ──と。

Chắc chắn, việc bị cướp mất con mồi là điều đáng tức giận.

確かに、獲物を横取りされるのは立腹ものだ。

Theo nghĩa đó, lời nói của Shion cũng có lí.

そういう意味では、シオンの言い分にも一理ある。

Nhưng mà, rõ ràng là đang gặp khó khăn, nên ở đây, Verudora, người đang cố gắng giúp đỡ, chẳng phải là người đúng hay sao.

だがしかし、どう見ても苦戦しているのだから、この場では助太刀しようとしているヴェルドラの方が正しいのではあるまいか。

Đến kết luận đó, Verudora đã lấy lại tự tin, tin rằng mình có lí.

そういう結論に至ったヴェルドラは、我に正義あり、と自信を取り戻した。

Anh ta nói ý kiến của mình như thể đang dạy bảo Shion.

シオンを諭すように、意見を述べる。

“Ta hiểu ý của ngươi. Ai cũng không vui khi bị cướp mất cơ hội của mình. Nhưng mà! Tên đó chẳng phải đã quá sức của ngươi rồi sao?”

「貴様の言い分も理解は出来る。誰しも、自分の出番を奪われるのは面白くないからな。だが、しかし! アヤツは貴様の手に余るのではないか?」

“Grừ...”

「ぐぬぬ……」

Shion nghiến răng tức giận.

シオンは、歯ぎしりして悔しがる。

Cô gần như đã tìm ra được manh mối để giải quyết, nhưng lại không thể đáp lại lời chỉ trích rằng nó đã quá sức.

もう少しで攻略の糸口を見出せそうだが、手に余るという指摘には言い返せなかった。

Chỉ cần có thời gian... điều đó không thể nói ra được.

時間さえあれば──というのは、口に出来ない。

Bởi vì nếu cứ tiếp tục đối phó với Kakeashi, thiệt hại cho những người khác sẽ chỉ tăng lên.

何故ならば、このままカケアシの相手をしていると、他の者達への被害も増すばかりだからだ。

Chiến trường rất hẹp. Vì vậy, những kĩ năng có uy lực cao sẽ gây ra thiệt hại lớn cho xung quanh.

戦場は狭い。その為、高威力の技は周囲への被害も甚大となってしまうのである。

Hiện tại, Kakeashi dường như cũng đang thăm dò, và chưa thực sự hành động một cách nghiêm túc. Shion cũng hiểu rõ rằng chính vì vậy mà trận chiến mới có thể diễn ra.

今はカケアシも様子見をしているようで、そこまで本格的に動いてはいない。だからこそ戦いが成立しているのだと、シオンも重々理解しているのである。

Nếu Kakeashi bắt đầu tấn công một cách nghiêm túc, thì dù mình có sao đi nữa, những người khác cũng sẽ không thể bình an. Việc Verudora đến giúp đỡ trước khi điều đó xảy ra, thay vì phàn nàn, nên là một việc đáng cảm ơn.

もしもカケアシが本格的な攻勢に出たら、自分はともかく他の者達は無事では済まないだろう。そうなる前にヴェルドラが助けに来てくれたのは、文句を言うより感謝すべき案件なのだった。

“À thì... làm ơn giúp đi, bất cứ điều gì cũng được!”

「あのう……何でもいいから、助けて欲しいっすよ!」

Lời cầu xin thảm thiết đó của Gobuta đã trở thành động lực, và Shion cũng đã nhượng bộ.

ゴブタのその悲痛な訴えが契機となって、シオンも折れた。

“Lần này cũng xin ngài giúp đỡ.”

「今回も宜しくお願いします」

“Ừm! Cứ để cho ta!!”

「うむ! 我に任せるがよい!!」

Vậy là, trận chiến giữa Verudora và Kakeashi đã bắt đầu.

こうして、ヴェルドラ対カケアシの戦いが始まったのだった。

Kakeashi cảnh giác nhìn Verudora.

カケアシは油断なく、ヴェルドラを見据えた。

Hắn ta mạnh hơn ba người lúc nãy, bản năng mách bảo.

先程の三体よりも強いと、本能的に察せられる。

Lượng năng lượng có vẻ không nhiều lắm... nhưng, liệu có thực sự như vậy không? Kakeashi do dự trong việc phán đoán.

エネルギー量は大した事がなさそうだが……いや、本当にそうだろうか? と、カケアシは判断に迷った。

Đó là lần đầu tiên trong đời hắn có kinh nghiệm này.

それは、生まれて初めての経験だ。

Kĩ thuật kiểm soát yêu khí (aura) của Verudora là siêu hạng. Khác với ngày xưa, bây giờ hắn có thể che giấu hoàn toàn mà không phát ra một chút ma tố nào. Kakeashi, người chỉ quen chiến đấu với những kẻ yếu, rất khó để đánh giá được thực lực ẩn giấu của Verudora.

ヴェルドラの妖気(オーラ)制御技術は超一流だ。昔と違って、今では一切の魔素を発する事なく、隠し通せるようになっている。弱者とばかり戦ってきたカケアシでは、ヴェルドラの隠された実力を見極めるのは困難なのだ。

Ngược lại, chỉ riêng việc bản năng cảm nhận được sự nguy hiểm của Verudora cũng đã đủ để đánh giá cao trực giác phi thường của Kakeashi.

逆に言えば、ヴェルドラの危険性を本能的に察しただけでも、カケアシのずば抜けた勘の良さを評価すべきであった。

Khi Verudora bước một bước, Kakeashi lùi lại một bước, có lẽ là do cảnh giác.

ヴェルドラが一歩踏み出すと、警戒してかカケアシが一歩後ずさった。

“Hô? Ngươi đang cảnh giác ta sao?”

「ほう? 我を警戒しておるのか?」

“...”

「……」

Kakeashi im lặng.

カケアシは無言だ。

Hắn hiểu ngôn ngữ, nhưng không có lí do gì để nói chuyện.

言葉は理解しているが、会話する理由がない。

Kakeashi gầm gừ nhỏ để tăng cường ý chí chiến đấu, vừa quan sát sơ hở của Verudora, vừa di chuyển để giữ một khoảng cách nhất định.

カケアシは小さく唸って戦意を高めつつ、ヴェルドラの隙を窺いながら、一定の距離を保つように歩を進める。

Ngược lại, Verudora dừng lại và quan sát chuyển động của Kakeashi.

対するヴェルドラは、足を止め、カケアシの動きを観察している。

“Ừm ừm. Không vội vàng lao vào mà quan sát kẻ địch là điều cơ bản. Để xem nào, ta sẽ chơi với ngươi một chút.”

「うむうむ。迂闊に飛び掛からず、敵を観察するのは基本であるぞ。どれ、少しだけ遊んでやろう」

Kakeashi không còn nghi ngờ về sự bất thường mà hắn đã cảm nhận được nữa.

カケアシはもう、自分が抱いた違和感を疑っていない。

Hắn đã tin chắc rằng Verudora rất mạnh và đang vạch ra một chiến lược trong đầu. Cảm giác như tất cả chúng sẽ bị cản trở, Kakeashi gầm gừ ngày càng sắc bén.

ヴェルドラが強いと確信し、取るべき戦略を脳内で思い描いている。そのどれもが阻まれるような気がして、カケアシは唸り声を鋭くさせていった。

Và rồi, Kakeashi lại một lần nữa xây dựng lại chiến lược đối phó với Verudora từ đầu.

そして、カケアシはもう一度最初から、対ヴェルドラ戦略を組み立て直した。

Đó là một đối thủ nguy hiểm, nhưng không rõ nguy hiểm ở điểm nào.

危険な相手だが、何が危険なのか不明だった。

Nếu vậy, phải bắt đầu từ việc tìm hiểu điều đó.

であれば、それを探る事から始めなければならない.

Dù có phải chịu một chút tổn thất, cũng nên tìm ra một điểm đột phá... Kakeashi đã quyết định như vậy.

多少のダメージを甘受してでも、突破口を見出すべきだ──と、カケアシは決断したのだ。

“Hô hô, bầu không khí đã thay đổi rồi nhỉ?”

「ほほう、雰囲気が変わったな?」

Verudora cười vui vẻ.

と、ヴェルドラは嬉しそうに笑った。

Ngay sau đó, Kakeashi lao đi.

その直後、カケアシが駆ける。

Dù đã chuyển từ bốn chân sang hai chân, tốc độ không hề giảm sút. Hắn đã quan sát chuyển động của Gobuta & Ranga, bắt chước chúng và đã học được cách đi và chạy hoàn hảo.

四足歩行から二足に変わっても、速度低下はなかった。ゴブタ&ランガの動きを観察し、その動作を真似して、完璧な歩法・走法を習得していたのだ。

Khả năng phát triển đó cũng là sự đáng sợ của Kakeashi... nhưng đối thủ lại quá mạnh.

その成長性もカケアシの恐ろしさだったのだが──相手が悪過ぎた。

Kakeashi lao đến Verudora với một chuyển động giống như dịch chuyển tức thời. Cứ thế, không hề giảm tốc độ, hắn đưa hai nắm đấm có móng vuốt sắc nhọn ra và vung chéo nhau để cắt đầu Verudora.

カケアシが瞬間移動を彷彿とさせるような動きで、ヴェルドラに迫った。そのまま勢いを殺す事なく、鋭い爪を伸ばした両拳を交互に薙ぐ様に交差させて、ヴェルドラの頭を刈り取ろうとする。

Tuy nhiên, vào khoảnh khắc đó.

しかし、その瞬間。

“Hừ, ryaaaaaaaaa!!”

「とう、りゃあああああッ!!」

Một cú uppercut của Verudora đã nổ tung vào cằm của Kakeashi.

カケアシの顎に、ヴェルドラのアッパーが炸裂したのだ。

Khi đó, tiếng gầm hét quá mức của hắn đã lấp đầy thính giác của Kakeashi.

その際の、大袈裟なほどの声量で発された雄叫びが、カケアシの聴覚を埋め尽くしていた。

“Thấy chưa! Đây là kĩ năng tất sát mới của ta, ‘Bạo Loạn Bạo Phong Nha (Storm Fang)’!!”

「見たか! これが我の新必殺技、〝収束暴風乱牙(ストームファング)〟であるぞ!!」

Đó là một kĩ năng hội tụ “Cuồng Phong Đen Hủy Diệt (Ruin Tempest)” vào cả hai nắm đấm và trực tiếp đập vào kẻ địch bằng năng lượng khổng lồ đó... hay đúng hơn là, đấm.

両拳に〝黒き破滅の嵐(ルインテンペスト)〟を収束させた上で、その膨大なエネルギーを敵に直接叩きつける──というか、ぶん殴る技である。

Không cần phải nói, nó ẩn chứa một sức mạnh kinh khủng.

言うまでもないが、凄まじい威力を秘めていた。

Lần này, Kakeashi đã lao đến với tốc độ tối đa và đã nhận một đòn phản công một cách hoàn hảo. Uy lực của nó đã tăng gấp đôi, và chỉ bằng một đòn... chính xác hơn là, một đòn kép, với nắm đấm trái đập vào má và nắm đấm phải đấm từ dưới lên vào cằm... đã cướp đi một phần lớn thể lực của hắn.

今回、カケアシは最大戦速で突っ込んで来て、見事にカウンターをもらった形になる。その威力は倍増しており、ただの一撃──正確には、左拳で頬を打ち抜き、右拳は下から突き上げるようにして顎を打ち抜いているので、連打の二撃──で体力の相当部分を奪われる結果となってしまっていた。

Nếu có thời gian, hắn có thể sẽ hồi phục, nhưng ngay cả việc đứng dậy cũng khó khăn. Đó cũng là một bất lợi do việc Kakeashi đã biến thành hình người, nhưng giả sử hắn vẫn ở dạng bốn chân, nếu nhận phải “Bạo Loạn Bạo Phong Nha (Storm Fang)” của Verudora, kết quả cũng sẽ như vậy.

時間が経てば回復するだろうが、立ち上がる事さえ難しい。それは、カケアシが人型になった事での弊害でもあるのだが、仮に四足だったとしても、ヴェルドラの〝収束暴風乱牙(ストームファング)〟を喰らっては、同じ結果になっていたはずだ。

Kakeashi bối rối.

カケアシは混乱する。

Kakeashi đã không lơ là và luôn chú ý đến Verudora.

カケアシは油断せず、常にヴェルドラを意識していた。

Chính vì vậy hắn mới nhận ra rằng, vào khoảnh khắc nắm đấm va chạm, hắn đã quan sát thấy một nguồn năng lượng khổng lồ.

だからこそ気付いたのだが、拳が当たる瞬間、膨大なエネルギーを観測したのだ。

Nó còn lớn hơn cả tổng lượng năng lượng của Kakeashi...

それは、カケアシのエネルギー総量を凌駕するほどで……。

Verudora, người đã không để cho hắn nhận ra điều đó, là một kẻ thù không thể hiểu nổi đối với Kakeashi.

そうと悟らせなかったヴェルドラは、カケアシにとって理解不能な敵であった。

Cảm xúc mà hắn ôm ấp là sự sợ hãi.

抱いた感情は、恐怖。

Tuy nhiên, với nỗi sợ hãi lần đầu tiên cảm nhận được, Kakeashi chỉ biết bối rối. Ý tưởng chạy trốn khỏi một đối thủ không thể thắng cũng không nảy ra, và phạm vi lựa chọn của hắn đang bị thu hẹp.

しかし、生まれて初めて感じた恐怖に、カケアシは戸惑うばかり。勝てない相手からは逃げるという発想も思い浮かばず、取るべき選択の幅を狭めている。

Sự thiếu kinh nghiệm đó đã quyết định thất bại của Kakeashi.

そうした経験の少なさが、カケアシの敗北を決定づけたのだった。

北方面ではハバタキの天下だった──のだが、ユウキ達が参戦した事で状況が好転しかけていた。

Ở mặt trận phía bắc, Habataki đã thống trị... nhưng nhờ sự tham chiến của Yuki và những người khác, tình hình đã bắt đầu có chuyển biến tốt.

「流石は、ユウキ君……」

“Quả nhiên là Yuki-kun...”

と、マイが茫然となっている。

Mai sững sờ.

自分が扱う以上に権能を使いこなしていると、マイは複雑な心境で認めるしかない。

Mai chỉ có thể thừa nhận với một tâm trạng phức tạp rằng Yuki đang sử dụng quyền năng còn thành thạo hơn cả cô.

マイはハバタキの『瞬間移動』を必死に邪魔する事で、現状を保つだけで精一杯だった。

Mai đã phải cố gắng hết sức để duy trì tình hình hiện tại bằng cách cản trở『Dịch Chuyển Tức Thời』của Habataki.

ところがユウキは、ハバタキの出現場所を限定するという、ちょっと意味がわからないような芸当を行って見せたのである。

Thế nhưng, Yuki lại thực hiện một kĩ thuật khó hiểu là hạn chế vị trí xuất hiện của Habataki.

「簡単だろ? こうやって空間に干渉を行えば、影響のない場所は限られてくる。ここは『結界』内なんだし、そこまで難しい話じゃないさ」

“Dễ mà, đúng không? Nếu can thiệp vào không gian như thế này, những nơi không bị ảnh hưởng sẽ bị giới hạn. Ở đây là bên trong『Kết giới』, nên cũng không phải là chuyện gì khó khăn đâu.”

とまあ平然と、マイに向かって言ってのけたのだ。

Nói rồi, anh ta thản nhiên nói với Mai.

もっとも、ユウキが自分で語ったように、限定された空間内だから可能なのだ。

Tuy nhiên, như chính Yuki đã nói, điều đó chỉ có thể thực hiện được trong một không gian hạn chế.

実際、美女の姿となったハバタキは知性を得た事で、北方面の戦士達を自分の獲物だと認識している。だからこそ、他の方面に行こうとしたりせず、この地に留まっていた。

Thực tế, Habataki sau khi biến thành hình dạng mỹ nữ và có được trí tuệ, đã nhận định những chiến binh ở mặt trận phía bắc là con mồi của mình. Chính vì vậy, nó không hề có ý định đi đến những mặt trận khác mà chỉ ở lại đây.

もしもハバタキが聖浄化結界(ホーリーフィールド)を突き破って外に出たならば、転移する移動先の予測など不可能になっていたのである。

Nếu Habataki xuyên thủng Kết Giới Thánh Tịnh Hóa (Holy Field) và ra ngoài, việc dự đoán vị trí dịch chuyển sẽ trở nên bất khả thi.

だからこそ、今の状況は恵まれているのだとユウキは告げた。

Chính vì vậy, Yuki đã nói rằng tình hình hiện tại là rất may mắn.

それに、ユウキの表情は思わしくなかった。

Hơn nữa, vẻ mặt của Yuki cũng không mấy khả quan.

思っていたよりも、ハバタキが難敵だったからだ。

Vì Habataki còn khó đối phó hơn anh ta nghĩ.

「ちぇ、僕達だけで仕留めてやろうと思ったのに、これは厳しいかな?」

“Chậc, mình đã định tự mình hạ gục nó, nhưng có lẽ sẽ khó đây?”

と、ユウキは冷静に判断している。

Yuki bình tĩnh phán đoán.

現状維持から攻勢に転じられたとはいえ、成果は上がっていなかったのだ。

Dù đã chuyển từ thế duy trì sang tấn công, nhưng vẫn chưa có kết quả nào.

マイが驚いたように、ハバタ-キの出現地点を的中させた。そこに全火力を集中させたのだが、ハバタキはほぼ無傷だったのである。

Như thể Mai đã kinh ngạc, Yuki đã đoán trúng vị trí xuất hiện của Habataki. Toàn bộ hỏa lực đã được tập trung vào đó, nhưng Habataki gần như không hề hấn gì.

「いやはや、不甲斐ない……」

“Thật là, bất tài...”

「ワシとアダルマンの最強魔法をぶつけたというのに、平然としておるのう……」

“Dù đã tung ra ma pháp mạnh nhất của ta và Adalmann, mà nó vẫn tỏ ra bình thản...”

アダルマンとガドラが、面目なさそうにユウキに謝った。

Adalmann và Gadra xin lỗi Yuki với vẻ mặt xấu hổ.

しかし、これは何も二人だけが悪い訳ではない。

Tuy nhiên, đây không phải là lỗi của riêng hai người.

他にも、各所に散っている血紅騎士団(ブラッディーナイツ)からの援護射撃や、エルメシアやシルビアが率いる魔法士団(メイガス)の魔導兵器の数々、現状ガドラの指揮下にあるディアブロ配下の黒色軍団(ブラックナンバーズ)百名も各々の最強魔法を撃ち込んでおり、その一瞬に最大火力が叩き込まれていたのだ。

Ngoài ra, còn có những đòn bắn yểm trợ từ Huyết Hồng Kị Sĩ Đoàn (Bloody Knights) đang rải rác ở nhiều nơi, vô số vũ khí ma đạo của Ma Pháp Sĩ Đoàn (Magus) do Elmesia và Sylvia dẫn đầu, và cả một trăm thành viên của Hắc Sắc Quân Đoàn (Black Numbers) dưới quyền Diablo hiện đang dưới sự chỉ huy của Gadra cũng đã tung ra những ma pháp mạnh nhất của mình, và hỏa lực tối đa đã được dồn vào khoảnh khắc đó.

それがハバタキに通用しなかった、ただそれだけの事だったのである。

Chỉ là, nó không có tác dụng với Habataki, chỉ vậy thôi.

ハバタキは『瞬間移動』の法則を応用して、自身に集中した火力を全て『転移』させてしまったのだった。

Habataki đã ứng dụng quy luật của『Dịch Chuyển Tức Thời』để『Dịch chuyển』toàn bộ hỏa lực tập trung vào chính mình.

そんな出鱈目な権能を見せつけられてしまっては、本来なら心が折れそうなものである。

Khi phải đối mặt với một quyền năng vô lí như vậy, thông thường người ta sẽ nản lòng.

しかし、ユウキは違った。

Tuy nhiên, Yuki thì khác.

「仕方ないさ。そもそも君がいてくれたお陰で、こうして皆が僕の作戦に従ってくれているんだしさ」

“Đành chịu thôi. Vốn dĩ nhờ có anh mà mọi người mới tuân theo kế hoạch của tôi.”

ユウキが、ガドラを慰める。

Yuki an ủi Gadra.

事実、元裏切り者にしてこの戦では新参者のユウキの作戦など、皆に無視されても仕方のない話だった。そこを取りなしたのがガドラであり、『思念伝達』で全戦場から情報を集めていたベニマルだった。

Thực tế, kế hoạch của Yuki, một kẻ phản bội cũ và là một người mới trong cuộc chiến này, dù có bị mọi người phớt lờ cũng không có gì lạ. Người đã hòa giải chính là Gadra, và Benimaru, người đã thu thập thông tin từ khắp chiến trường bằng “Truyền Đạt Tư Niệm”.

『その作戦を承認する。この場限りだが、ユウキには北方面の作戦指揮を任せるとしよう』

“Ta chấp thuận kế hoạch đó. Chỉ lần này thôi, ta sẽ giao phó quyền chỉ huy chiến dịch ở mặt trận phía bắc cho Yuki.”

というベニマルの決定によって、今ではユウキが指揮官になっていたのだ。

Với quyết định đó của Benimaru, Yuki giờ đã trở thành chỉ huy.

そんな訳で行われた大攻勢だったのだが、結果は失敗。ハバタキに大したダメージを与える事なく、貴重な機会を消費してしまった。

Vậy là một cuộc tấn công lớn đã được thực hiện, nhưng kết quả là thất bại. Họ đã không thể gây ra nhiều thiệt hại cho Habataki và đã lãng phí một cơ hội quý giá.

けれど、これで諦めるようなユウキではなかった。

Tuy nhiên, Yuki không phải là người sẽ từ bỏ chỉ vì điều đó.

それどころか、ハバタキの防御技を見た事で発想を得たのか、直ぐに次なる作戦を思いついた様子である。

Ngược lại, có vẻ như anh ta đã có được ý tưởng sau khi nhìn thấy kĩ năng phòng ngự của Habataki và đã ngay lập tức nghĩ ra một kế hoạch mới.

『よーし、それじゃあ次の作戦を実行するけど、これには人数は必要ないんだ。一旦解散するから、皆は空飛ぶ魔獣(クリプテッド)の討伐を頑張ってね!』

‘Được rồi, vậy thì chúng ta sẽ thực hiện kế hoạch tiếp theo, nhưng kế hoạch này không cần nhiều người. Mọi người tạm thời giải tán và hãy cố gắng tiêu diệt những ma thú (Cryptid) bay trên trời nhé!’

とまあ、実にお気楽な感じで皆を解散させてから、自分達だけの作戦を敢行し始めたのである。

Nói rồi, anh ta giải tán mọi người một cách rất thoải mái và bắt đầu thực hiện kế hoạch của riêng mình.

「なんやなんや、もう一回全員で仕掛けるんと違うんかい?」

“Cái gì, không phải là sẽ tấn công một lần nữa với tất cả mọi người sao?”

「やっても無駄だぜ。それに、何度も繰り返すと罠にかかってくれなくなる。もう一回くらいは通用しそうだけど、さっきの策は繰り返すものじゃないね」

“Làm cũng vô ích thôi. Hơn nữa, nếu lặp lại nhiều lần, nó sẽ không mắc bẫy nữa. Có lẽ sẽ có tác dụng thêm một lần nữa, nhưng kế hoạch lúc nãy không phải là thứ có thể lặp lại.”

ハバタキの出現場所にもう一度最大火力を叩き込むつもりだったラプラスは、ユウキがベニマルに指揮権を返した事に驚いた。言えばまた返してもらえるかもしれないが、ベニマルは甘くない。有効な作戦でなければ、二度目はないだろう。

Laplace, người định sẽ dồn toàn bộ hỏa lực vào vị trí xuất hiện của Habataki một lần nữa, đã rất ngạc nhiên khi Yuki trả lại quyền chỉ huy cho Benimaru. Nếu nói, có lẽ sẽ được trả lại, nhưng Benimaru không dễ dãi. Nếu không phải là một kế hoạch hiệu quả, sẽ không có lần thứ hai.

そう思って驚いたラプラスに、ユウキは『多用する策じゃないのさ』と答えたのだ。それから、次の作戦を説明してくれたのだが……。

Với Laplace đang kinh ngạc như vậy, Yuki đã trả lời “Đó không phải là một kế hoạch có thể sử dụng nhiều lần”. Sau đó, anh ta đã giải thích kế hoạch tiếp theo, nhưng...

その作戦がまた、とんでもないものだった。

Kế hoạch đó lại là một điều vô cùng kinh khủng.

当然のように協力者に組み込まれていたマイが、信じられないといった様子で呟くように問う。

Mai, người đã được đưa vào nhóm hợp tác một cách hiển nhiên, hỏi với vẻ mặt không thể tin được.

「嘘でしょ? そんな事出来るの?」

“Không thể nào? Có thể làm được sao?”

「理論上はね」

“Về mặt lí thuyết thì có.”

「まあまあ。ボスが出来る言うんやったら、任せたらええねん。失敗してもボスの責任やしな!」

“Thôi thôi. Nếu sếp nói làm được thì cứ giao cho sếp đi. Dù có thất bại cũng là trách nhiệm của sếp mà!”

「酷いな、ラプラス。僕の作戦で失敗した事なんて、リムルさんとかかわるまでゼロだっただろ?」

“Tàn nhẫn quá, Laplace. Trước khi dính líu đến Rimuru-san, kế hoạch của tôi chưa từng thất bại, đúng không?”

「そっから失敗続きやん。今のボスには信用性が薄いんや!」

“Từ đó đến giờ toàn thất bại. Bây giờ sếp không đáng tin đâu!”

そんなふうに文句を言いながらも、ラプラスはユウキの言葉を信じて命令に従っている。

Vừa phàn nàn như vậy, Laplace vẫn tin vào lời của Yuki và tuân theo mệnh lệnh.

それは、カガリやティアも同様だ。

Kagali và Tear cũng vậy.

「まあね。ボスが胡散臭いのは昔からだし、今更よ。文句ばかり言ってないで、さっさと言われた通りにしなさい」

“Mà, sếp từ xưa đã đáng ngờ rồi, bây giờ cũng vậy thôi. Đừng có phàn nàn nữa, nhanh làm theo lời đi.”

「しとるやん!」

“Tôi đang làm rồi mà!”

「ラプラスさあ、そういうトコがダメなんだよ。ちょっとニヒルな自分が恰好いい、とか思ってるんじゃないの?」

“Laplace này, cái điểm đó của cậu là không được đâu. Chẳng lẽ cậu nghĩ mình ngầu khi tỏ ra hơi bi quan sao?”

「ええやん、そのくらい思わせてくれても!」

“Thì sao chứ, cứ để tôi nghĩ vậy đi!”

ラプラスは必死に言い返すも、はいはい、と受け流されるだけだった。

Laplace cố gắng đáp trả một cách quyết liệt, nhưng chỉ nhận lại những lời qua loa.

そんなラプラスをジト目で見る二人の女性。

Hai người phụ nữ nhìn Laplace bằng ánh mắt chán nản.

「ふーん。貴方って、どこにいても軽く扱われてるのねぇ」

“Hừm. Anh ở đâu cũng bị coi nhẹ nhỉ.”

元ではなく、現在進行形で妻であるシルビアが、二千年ぶりくらいに再会した旦那に向けての発言である。

Đó là lời nói của Sylvia, người vợ hiện tại, không phải là vợ cũ, dành cho người chồng mà cô đã gặp lại sau khoảng hai nghìn năm.

そこには確かな愛情もあるのだが、若干──そう、若干だが呆れも含まれていた。

Trong đó có một tình yêu chắc chắn, nhưng cũng có một chút... đúng vậy, một chút sự kinh ngạc.

「朕(ちん)としては、あのような者を父と認めたくないわねぇ……」

“Với tư cách là trẫm, ta không muốn công nhận một người như vậy là cha...”

天帝モードで、エルメシアが追従した。

Với chế độ Thiên đế, Elmesia cũng hùa theo.

照れもあるのだが、半分以上は本気の本音だ。

Dù có chút ngại ngùng, nhưng hơn một nửa là lời nói thật lòng.

生まれてから今まで会った事もない父親の、情けない姿など見たくなかった。そういう思いがあるからこそ、ラプラスに対して辛口評価になってしまうのである。

Cô không muốn nhìn thấy bộ dạng thảm hại của người cha mà mình chưa từng gặp từ khi sinh ra cho đến nay. Chính vì có suy nghĩ đó, nên cô mới đưa ra những đánh giá khắt khe với Laplace.

しかも、母シルビアからは「エルちゃんのお父さんって、本当に凄かったのようぅ! だって、弱者を助ける〝勇者〟だったんだもの!!」といった具合に、武勇伝を聞かされて育っている。

Hơn nữa, cô đã lớn lên với những câu chuyện về chiến công của cha mình từ mẹ Sylvia, đại loại như “Cha của El-chan thực sự rất tuyệt vời đó! Bởi vì ông ấy là một “Dũng giả” cứu giúp những người yếu đuối!!”.

現実とのギャップで風邪をひきそうになったとしても、それはエルメシアのせいではないと主張すべきであろう。

Dù có cảm thấy như sắp bị cảm lạnh vì sự khác biệt với thực tế, nhưng cô nên khẳng định rằng đó không phải là lỗi của mình.

エルメシアはそう思ったので、当面、ラプラスとの関係改善を見送る方針なのである。

Elmesia đã nghĩ như vậy, nên cô quyết định tạm thời hoãn việc cải thiện mối quan hệ với Laplace.

ちょっとは見直せるような活躍をして欲しいものよねぇ──と、ラプラスを見る目は冷たいのだ。

Cô mong muốn anh ta có những hành động để cô có thể thay đổi cách nhìn, nên ánh mắt nhìn Laplace rất lạnh lùng.

そんな感じで、ラプラスがいじられキャラになっていたのだが、ユウキが緩んだ空気を引き締める。

Vậy là, Laplace đã trở thành một nhân vật bị trêu chọc, nhưng Yuki đã làm cho bầu không khí căng thẳng trở lại.

「はいはい! 作戦は今言った通りだよ。僕がヤツの体内に届けるから、君達の力を爆弾に込めて渡してくれ!」

“Vâng vâng! Kế hoạch như tôi vừa nói. Tôi sẽ đưa nó vào cơ thể của tên đó, nên hãy dồn sức mạnh của các bạn vào một quả bom và đưa cho tôi!”

マイが不可能だと思ったのも無理もない話で、ユウキが立てた作戦は無茶なものだった。

Cũng không có gì lạ khi Mai nghĩ rằng điều đó là không thể, kế hoạch mà Yuki đã vạch ra thật là liều lĩnh.

ユウキが『瞬間移動』を応用して、ラプラス達が作成した爆弾をハバタキに直接ぶつけるというものだったのだ。

Đó là kế hoạch Yuki sẽ ứng dụng『Dịch Chuyển Tức Thời』để ném quả bom do Laplace và những người khác tạo ra trực tiếp vào Habataki.

しかも、体内に。

Hơn nữa, là vào bên trong cơ thể.

その爆弾というのも、実際の爆弾ではなく単なる表現である。

Quả bom đó, không phải là một quả bom thực sự, mà chỉ là một cách nói.

権能を気弾に込めたり、呪具に発動させたり、得意な形で用意させていた。

Anh ta đã cho họ chuẩn bị nó theo cách mà họ giỏi nhất, chẳng hạn như dồn quyền năng vào một viên đạn khí hoặc kích hoạt nó trên một công cụ nguyền rủa.

たとえば、エルメシアの場合。

Ví dụ, trong trường hợp của Elmesia.

バレーボール大くらいの球状にエネルギー弾を形成して、権能を発動させたままどんどん圧縮している。これが炸裂すると、神速の風流が発生して万物を斬り裂く大災害が生じるだろう。

Cô tạo ra một viên đạn năng lượng có hình cầu cỡ một quả bóng chuyền và nén nó liên tục trong khi vẫn kích hoạt quyền năng. Nếu nó phát nổ, một dòng gió thần tốc sẽ được tạo ra, gây ra một thảm họa xé toạc mọi thứ.

ただし、球体では速度が出ないので、実戦では扱えない技だった。今回はそれでいい、威力が一番高ければ最高だよ、とユウキに言われて用意したのである。

Tuy nhiên, vì hình cầu không thể đạt được tốc độ cao, nên đó là một kĩ năng không thể sử dụng trong thực chiến. Lần này, Yuki đã nói rằng như vậy là được,威力 càng cao càng tốt, nên cô đã chuẩn bị nó.

シルビアも似たような感じで、雷球を。

Sylvia cũng tương tự, với một quả cầu sấm sét.

ラプラスとティアは、気弾を。

Laplace và Tear thì dùng đạn khí.

カガリは、呪爆札を。

Kagali thì dùng bùa nổ.

アダルマンは〝霊子崩壊(ディスインテグレーション)〟を唱え、ガドラがそれを『虚無』で包んで……。

Adalmann niệm chú “Linh Tử Băng Hoại (Disintegration)”, và Gadra bọc nó bằng『Hư Vô』...

「これ、大真面目に撃ち出したり出来ないんじゃが、大丈夫なのかの?」

“Cái này, không thể nào bắn ra một cách nghiêm túc được đâu, có sao không vậy?”

「若い見た目になったのに、その口調? 違和感凄いし、何だか馬鹿にされてる気がするからやめて欲しいね」

“Trông thì trẻ ra mà giọng điệu thì... Thật là không hợp, và tôi cảm thấy như đang bị coi thường, nên làm ơn đừng như vậy nữa.”

ガドラがアダルマンと合作したその技──疑似的な〝虚無崩壊〟とでも名付けられそうなその塊は、敵にぶつける手段がないのは事実なのだ。威力だけは間違いなく最高だが……だからこそ逆に、ここで発動させたら危険極まりないと、ガドラ達は心配しているのである。

Kĩ năng mà Gadra đã hợp tác với Adalmann... khối đó có thể được đặt tên là “Hư Vô Băng Hoại giả”, sự thật là không có cách nào để ném nó vào kẻ địch. Chỉ riêng威力 thì chắc chắn là cao nhất... nhưng chính vì vậy mà ngược lại, nếu kích hoạt nó ở đây thì sẽ cực kì nguy hiểm, Gadra và những người khác đang lo lắng.

とんでもない合体技だと心配するガドラに対し、ユウキは飄(ひょう)々(ひょう)と答える。

Đối với Gadra đang lo lắng về kĩ năng hợp thể kinh khủng đó, Yuki trả lời một cách thản nhiên.

その様子には一切の不安がなく、ガドラとしては信じるしかない。

Trong bộ dạng đó không có chút lo lắng nào, và Gadra chỉ có thể tin tưởng.

そうして、次なる攻撃が開始された。

Vậy là, cuộc tấn công tiếp theo đã bắt đầu.

ユウキがハバタキの動向から未来到達地点を予測して、そこに現れたハバタキの体内にどんどんと〝爆弾〟を『瞬間移動』で投(とう)擲(てき)していったのである。

Yuki đã dự đoán điểm đến trong tương lai từ xu hướng của Habataki, và đã liên tục ném những “quả bom” vào cơ thể của Habataki xuất hiện ở đó bằng『Dịch Chuyển Tức Thời』.

Habataki, sau khi biến thành hình dạng một mỹ nữ, đã bối rối trước tình hình của mình.

美女の姿となったハバタキは、自分が置かれた状況に困惑していた。

Về mặt cảm giác, năng lực chiến đấu đã tăng lên.

感覚的に、戦闘能力は上昇している。

So với khi còn là một ma điểu, gánh nặng cho khả năng tính toán đã giảm đi, và việc『Dịch Chuyển Tức Thời』cũng đã trở nên tự do.

魔鳥形態だった頃よりも演算能力への負荷が少なく、『瞬間移動』するのも自由自在だ。

Đối tượng đó không chỉ là chính nó, mà hiệu quả ngăn chặn tất cả các hiện tượng có hại cũng đã hoàn hảo.

その対象は自分だけではなく、害意ある全ての現象を防ぐ効果も万全だった。

Việc bị tập trung hỏa lực ngay sau khi dịch chuyển là một sai lầm, nhưng có lẽ đó chỉ là do không may. Thực tế, vì hầu như không bị thiệt hại gì, nên nó đã gần như phai mờ trong kí ức.

転移した先で集中砲火を浴びる事になったのは誤算だったが、それも運が悪かっただけだろう。実際、ダメージはほとんどなかったので、もう既に記憶から薄れかけているほどだった。

Tuy nhiên, cuộc tấn công tiếp theo thì khác.

ところが、次の攻撃は違った。

Đúng vậy, Habataki cũng đã cảm nhận được một cơn đau rõ ràng lần đầu tiên trong đời.

そう、ハバタキも生まれて初めて、明確な痛みを感じたのだ。

Yuki và những người khác đang ẩn nấp sau một tảng đá.

ユウキ達は、岩陰に隠れている。

Họ đã che giấu khí tức bằng kĩ năng của Laplace và cẩn thận để không bị phát hiện.

ラプラスの能力(スキル)で気配を遮断し、そこにいるのがバレないように気を配っていた。

Đối với Habataki, nó đang lơ lửng trên không trung và nhìn xuống mặt đất với vẻ đường hoàng của một vị vua.

対するハバタキは、王者としての貫禄そのままに、空に浮かんで地上を睥睨したままだ。

Habataki đó, đột nhiên cảm thấy đau ở vùng sườn.

そんなハバタキだったが、突如、脇腹あたりに痛みを感じたのである。

Phát đầu tiên... Yuki lẩm bẩm, nhưng tất nhiên, giọng nói đó không đến được tai của Habataki.

先ずは一発目──とユウキが呟いていたのだが、当然、ハバタキの耳にその声は届いていない。

Không biết chuyện gì đã xảy ra, Habataki đặt tay lên sườn để cố gắng hồi phục.

何が起きたのかもわからないまま、ハバタキは脇腹に手を当てて回復しようとした。

Nó cảm thấy đau, nhưng thiệt hại không lớn lắm.

痛みは感じたが、そこまで大したダメージではない。

Dù đã biến thành hình người, cấu trúc cơ thể vẫn giống như khi là một con chim ma. Thứ chảy ra không phải là máu đỏ, mà là ma tố hóa lỏng. Chỉ cần ý thức, lỗ hổng sẽ đóng lại và dòng ma tố cũng sẽ ngừng chảy.

人の姿になっても、身体の構成は魔鳥の時と同じだ。流れ出るのは赤い血潮ではなく、液体化した魔素だった。意識するだけで穴は塞がり、魔素の流出も止まる。

Vấn đề là, không biết chuyện gì đã xảy ra...

問題は、何が起きたかわからない事で──

“Đau quá.”

「痛いわ」

Một lời nhận xét chân thành thốt ra từ miệng Habataki.

ハバタキの口から、素直な感想が零れ落ちる。

Ngay khi mặt nó nhăn lại một cách khó chịu, nó đã làm bay lượn những cơn mưa lông vũ khắp nơi.

そのまま不愉快そうに顔を歪めるなり、四方八方に羽吹雪を舞わせた。

Lông vũ của Habataki ẩn chứa sức mạnh hủy diệt, và mỗi chiếc đều có uy lực đủ để tiêu diệt cả một “Hạt giống Ma vương”. Tuy nhiên, vì không phải là đòn tấn công nhắm vào mục tiêu, nên không có ai tử vong vì cuộc tấn công này.

破壊の力を秘めたハバタキの羽毛は、一枚一枚が〝魔王種〟をも屠る威力を秘めている。しかしながら、目標に向けて放った訳ではないので、この攻撃による死亡者は出なかった。

Tuy nhiên... có rất nhiều người bị thương.

ただし──被害者は多数。

Chỉ riêng việc không có ai tử vong cho đến khi Misery kích hoạt “Thánh Vực Cực Đại Tử Giả Phục Sinh (Sanctuary Regeneration)” đã là một may mắn vô cùng lớn.

ミザリーが〝聖域型極大部位再生(サンクチュアリ・リジェネレーション)〟を発動させてくれるまで死者が出なかっただけでも、この上ない幸運だったのだ。

Đó là một đòn tấn công vô cùng mạnh mẽ, nhưng đối với Habataki, nó chỉ là một hành động xua đuổi những con ruồi phiền phức.

それほどまでに強烈な攻撃だったのだが、これはハバタキにとっては、五月蠅い蠅を追い払おうとした、程度の行為だったのだ。

“...Có hiệu quả rồi, tốt!”

「……効果はあったね、ヨシ!」

“Ngài thật lạc quan.”

「前向きですわね」

“Tất nhiên rồi? Dù có tập trung hỏa lực cũng không được, nên bất cứ thứ gì có thể trở thành manh mối để tấn công đều được chào đón!”

「当たり前だろ? 集中砲火でもダメだったんだから、攻略の糸口になりそうなものは、何だって大歓迎さ!」

Vừa tự cổ vũ bản thân như vậy, Yuki vừa chuẩn bị đòn tiếp theo.

そんなふうに自分を鼓舞しつつ、ユウキは次弾を用意した。

Dù hiệu quả không cao, nhưng như Mai đã kinh ngạc, những gì anh ta đang làm thật là vô lí.

効果は薄かったが、マイが驚愕したようにやっている事は出鱈目なのだ。

Phát đầu tiên, nhân tiện thử nghiệm, là một quả cầu năng lượng toàn lực của Laplace. Đó là một sản phẩm siêu nén, không thể nào hoàn thành được trong thực chiến.

初手は実験がてら、ラプラス全力のエネルギー球だった。実戦なら完成させる事すら不可能な、超圧縮された一品である。

Hiệu quả của nó là câu nói “Đau quá” của Habataki, nên Laplace đang âm thầm suy sụp.

その効果が、ハバタキの「痛いわ」だったので、ラプラスは密かに凹んでいたりする。

Tuy nhiên, Yuki không hề để tâm và lần này bắt đầu gửi đi đồng loạt.

しかしユウキは気にせず、今度は一斉に送り付け始めた。

Đó là vô số bí kĩ chỉ chuyên về威力, mà những kẻ mạnh ở đây không thể nào sử dụng trong thực chiến. Chúng liên tục phát nổ bên trong cơ thể của Habataki.

この場にいる強者達が実戦では使えないような、威力だけに特化した奥義の数々だ。それらがハバタキの体内で、次々に炸裂していく。

“Không cho mày thời gian hồi phục đâu! Nào, tiếp theo...”

「回復の暇なんて与えないぜ! さあ、次を──」

“Làm sao mà chuẩn bị nhanh như vậy được chứ!?”

「そないに早く用意出来る訳ないやろ!?」

“Lại bắt ta làm những việc vô lí. Nếu có thể liên tục sử dụng những kĩ năng nguy hiểm như vậy, ta cũng đã có thể ở một vị trí cao hơn rồi!”

「相変わらず、無茶な真似をさせるわい。こんな危険極まりない技を連発出来るなら、ワシだってもっと上位にいけたんじゃ!」

Laplace phàn nàn, và Gadra cũng đồng ý với điều đó.

ラプラスから苦情が入り、これにガドラも同意する。

Những người khác im lặng, nhưng đôi mắt của họ tràn ngập sự bất mãn với Yuki.

他の者は無言だったが、その目はユウキへの不満の色で満ち満ちている。

“À thì, mình đã nghĩ mọi người sẽ cố gắng, nhưng mà xin lỗi nhé?”

「いやあ、みんななら頑張ってくれると思ったんだけど、なんかゴメンね?」

Yuki cũng tự nhận thức rằng mình đang nói những điều vô lí, nên anh ta đã thẳng thắn xin lỗi.

ユウキも無茶を言っている自覚があったので、そこは素直に謝罪したのだった。

Kế hoạch đã bị tạm dừng, và họ quyết định sẽ kiểm tra trạng thái của Habataki.

作戦は一時中断となり、ハバタキの状態を確認するという話になった。

Thực tế, kĩ năng “Hư Vô Băng Hoại giả” do Adalmann và Gadra hợp tác tạo ra có một sức mạnh khủng khiếp đến mức không thể nghi ngờ rằng nó có thể hạ gục đối thủ chỉ bằng một đòn.

実際、アダルマンとガドラ合作の疑似的〝虚無崩壊〟など、それだけで仕留められそうな凶悪な威力なのは疑いようもない。

Có lẽ đã hạ gục được rồi... một hi vọng đã nảy sinh trong lòng mọi người.

もしかしたら、もう倒せているのでは──という期待が、皆の心に希望的観測として宿っていたのだ。

Tuy nhiên, thực tế thật phũ phàng.

しかし、現実は残酷だった。

《Nguy hiểm đó! Nhanh chạy đi!!》

《危険よ! 速く逃げるのよ!! 》

Tiếng hét của Maria vang vọng trong đầu Yuki.

というマリアの叫びが、ユウキの脳内に響いた。

Không hề phàn nàn hay phản đối, Yuki đã phản ứng.

これに苦情や反論を述べたりせず、ユウキが反応する。

Nhắm vào tất cả mọi người, anh ta đã nhanh chóng rút lui khỏi nơi đó.

全員を対象にして、その場から急速離脱したのだ。

Ngay sau đó, một tia sáng chói lòa đã bùng nổ trên mặt đất.

その直後、地上で眩いばかりの閃光が炸裂する。

Tảng đá mà Yuki và những người khác đã ẩn nấp cũng nằm trong phạm vi ảnh hưởng của tia sáng đó. Nếu không có cảnh báo từ Maria, chỉ cần tưởng tượng chuyện gì sẽ xảy ra cũng đã thấy đáng sợ...

ユウキ達が隠れ潜んでいた岩陰も、その閃光の影響範囲に含まれていた。もしもマリアからの警告がなければ、どうなっていたか想像するだけでも恐ろしい……。

Sau tia sáng, một lớp bụi cát đã bao phủ mặt đất.

閃光の後、砂埃が地表を覆い隠していた。

Khi nó tan đi, kết quả khủng khiếp đã khiến mọi người kinh hãi.

それが晴れるなり、その凄(せい)絶(ぜつ)な結果に一同は戦慄する。

Địa hình đã bị biến đổi.

地形が変形していた。

“Không thể nào? Tảng đá ở khu vực này, không phải là đã bị cứng hóa do ảnh hưởng của ma tố nồng độ cao sao?”

「うっそだろ? ここら一帯の岩盤って、高濃度魔素の影響で硬質化してるんじゃなかったっけ?」

“Đúng vậy. Nó cứng hơn cả ma cương thông thường, chính vì vậy mà chúng ta mới ẩn nấp ở đây...”

「その通りですわよ。下手な魔鋼より頑丈で、だからこそ、こうして隠れていた訳ですけど……」

Những tảng đá không chỉ bị vỡ, mà còn tan thành bụi.

岩が砕かれるどころか、塵と化していた。

Cả khu vực xung quanh đã biến thành sa mạc và trở thành một ngọn đồi thoai thoải.

その周辺一帯が砂漠化して、なだらかな丘陵になっていた。

Có lẽ núi đá đã biến thành cát và tích tụ lại, nhưng tình hình đã trở nên vô cùng hỗn loạn.

岩山が砂となって積もったのだろうが、無茶苦茶な状況になっていたのだ。

《...Tia sáng đó đã giải trừ liên kết phân tử. Nếu bị trúng trực tiếp sẽ chết ngay lập tức đó.》

《……あの閃光は、分子結合を解除していたの。直撃を浴びれば即死するのよ》

Nghe vậy, Yuki cũng câm lặng.

それを聞いて、ユウキも絶句する。

Đó là một loại tấn công chỉ để lại kết quả, không liên quan gì đến威力.

威力が云々ではなく、結果だけが残る系統の攻撃だ。

May mắn là phạm vi ảnh hưởng không quá lớn.

幸いなのは、効果範囲がそこまで広大ではない事だろう。

Dù vậy, với một hình tròn có bán kính năm trăm mét đã bị phá hủy hoàn toàn, thì nói rằng phạm vi hẹp hơn so với các cuộc tấn công của Swim là cách nói đúng đắn hơn.

と言っても、半径にして五百メートルの円形内部は完全崩壊している点から、スイームの攻撃などに比べたら範囲が狭い、というのが正しい言い方になる。

Đối với Yuki và những người khác, việc vẫn có thể chạy trốn bằng『Dịch Chuyển Tức Thời』đã là một điều may mắn.

ユウキ達からすれば、まだ『瞬間移動』で逃げられるだけマシ、という事なのだ。

(Nhân tiện, ngươi nghĩ ‘Phong Sát Kĩ Năng (Anti Skill)’ của ta có thể chịu được không?)

(ちなみに、僕の『能力殺封(アンチスキル)』で耐えられると思うかい?)

《Nếu không chịu được thì sẽ chết thôi. Dù vậy, nếu muốn, cứ thử xem.》

《耐えられなければ死ぬわ。それでも良ければ、試してみるといいのよ》

Dù là một câu trả lời hoàn toàn chế giễu, nhưng Yuki nghĩ rằng nó rất giống Maria.

完全に馬鹿にしている回答だが、実にマリアらしいとユウキは思った。

Tất nhiên, anh ta không có ý định thử.

勿論、試そうなどという気にはならない。

Trực giác mách bảo rằng tia sáng của Habataki không phải là một kĩ năng, và có vẻ như sẽ xuyên thủng được “Phong Sát Kĩ Năng (Anti Skill)”.

直感的に、ハバタキの閃光はスキルなどではなく『能力殺封(アンチスキル)』を貫かれそうだ、と感じていたからだ。

Đúng là một đối thủ phiền phức... Yuki đau đầu.

本当に厄介な相手だぜ──と、ユウキは頭を悩ませる。

Và rồi, thủ phạm gây ra thiệt hại đó thì...

そして、そんな被害を生み出した元凶はというと──

Những kẻ mạnh bậc nhất thế giới này, sau khi bị những quả bom năng lượng siêu đậm đặc được tạo ra một cách bất chấp, liên tục phát nổ bên trong cơ thể, đã phải chịu một lượng thiệt hại đáng kể.

この世界で有数の強者達が、なりふり構わずに生み出した超高密度のエネルギー爆弾を体内で連発されて、それなりにダメージを受けていた。

Đặc biệt là kĩ năng “Hư Vô Băng Hoại giả” có威力 vô cùng lớn, nên đã phá hủy bên trong cơ thể của Habataki một cách nặng nề. Sườn, ngực, lưng, ngoài ra còn có cánh tay trái đã bị đứt lìa, và chân phải cũng đã bị mất.

特に疑似的〝虚無崩壊〟は絶大な威力だったので、ハバタキの体内を大いに破壊しまくっていた。脇腹、胸部、背中、その他にも左腕は千切れ落ち、右足も失っている。

Trán của Habataki bị nứt ra, và từ đó phun ra ma tố như máu.

ハバタキの額が割けて、そこから血潮の如き魔素を噴出させていた。

Tuy nhiên, chỉ có vậy thôi.

しかし、それだけだ。

Dù trông có vẻ rất thảm hại, nhưng nó còn xa mới là một vết thương chí mạng.

見た目は酷い有様だが、致命傷にはほど遠い。

Thực tế, khi bụi cát tan đi, tất cả các vết thương đã lành lại.

事実、砂埃が晴れる頃には、全ての傷が癒えていた。

Đòn tấn công lớn thứ hai của Yuki và những người khác nhằm xoay chuyển tình thế, đã kết thúc thất bại như vậy.

ユウキ達の起死回生に向けた大攻勢第二弾は、こうして失敗に終わったのである。

Tuy nhiên, nếu nói rằng không có ảnh hưởng gì, thì không phải vậy.

けれど、何の影響もなかったのかというと、そうではない。

Vẻ mặt của Habataki đã thay đổi từ một chiếc mặt nạ vô cảm sang một vẻ mặt giận dữ.

ハバタキの表情が、能面から憤怒へと変わっていたのだ。

“Ch-chúng ta đã thành công rồi! Đã thành công trong việc chọc giận nó rồi?”

「や、やったね! 怒らせる事に成功したぜ?」

《Ngươi là đồ ngốc! Đồ ngốc》

《貴方は馬鹿よ! バカなの》

“Sếp lạc quan thì tốt đó. Nhưng mà, không có chút an ủi nào đâu?”

「ボスが前向きなのは、ええこっちゃ。せやけど、何の慰めにもなってへんで?」

Vì đã quen biết nhau, nên lời châm chọc không hề nương tay.

気心が知れているだけに、突っ込みに容赦はない。

Hơn nữa, đây là điều thay mặt cho tâm trạng của tất cả mọi người ở đây.

しかもこれは、この場にいる皆の心境を代弁するものだった。

Vì không có phương án thay thế nào nên chỉ im lặng, chứ chọc giận nó rồi thì sao chứ!? Đó là câu chuyện.

代案がないから黙っているだけで、怒らせてどうする!? という話なのだ。

Dù không phải là lỗi của riêng Yuki, nhưng độ khó để tấn công Habataki đã tăng lên là chắc chắn, nên không thể nào cười một cách dễ dàng.

ユウキだけが悪い訳ではないのだが、ハバタキ攻略の難易度が上がったのは確かなので、そう簡単には笑えないのである。

Chỉ có thể cười trong tình huống này, Yuki đã có được một nhận thức rằng anh ta thật tuyệt vời.

ここで笑えるだけ、ユウキは凄いという認識も持ったほどだ。

Tuy nhiên, không ai có trái tim tan vỡ cả. Họ vẫn còn đủ sức để nói đùa và nghe đùa.

もっとも、誰の心も折れていない。まだ冗談を言ったり聞いたりする気力は残っていた。

Sự thật rằng Rimuru đã trở về, đã trở thành một hi vọng và là chỗ dựa tinh thần cho mọi người.

リムルが帰還したという事実が、希望となって皆の心の支えになっていたのだった。

Một nhóm người đang lơ lửng trên không trung, quan sát Habataki từ xa và che giấu khí tức.

ハバタキを遠くに見据える空中に浮遊しながら、気配を殺す一同。

Bỏ mặc Yuki, một cuộc họp chiến thuật đã bắt đầu.

ユウキを放置して、作戦会議が始まる。

“Hỏa lực rõ ràng là không đủ...”

「決定的に火力が足りていないのよねぇ……」

“Kĩ năng hợp thể lúc nãy, có vẻ như đã có tác dụng.”

「さっきの合体技、アレは効いてたっぽいけどね」

Kĩ năng “Hư Vô Băng Hoại giả” do Adalmann và Gadra hợp tác tạo ra chắc chắn có hiệu quả rất lớn. Dù chỉ là vài phần trăm, nhưng nó đã làm giảm thể lực của Habataki.

アダルマンとガドラ合作の疑似的〝虚無崩壊〟は、確かに効果絶大だった。ハバタキの体力を数パーセントとはいえ、削ってみせたのだ。

Tuy nhiên, liệu nó có còn hiệu quả nếu lặp lại nhiều lần hay không, điều đó vẫn còn là một dấu hỏi.

しかしそれも、何度も通用するかといえば疑わしいのだ。

“Đến nước này, có lẽ nên chuyển sang chiến đấu cận chiến để câu giờ?”

「こうなると、格闘戦に持ち込んで時間稼ぎに徹しますかな?」

“Chờ đợi sự giúp đỡ từ Rimuru-san hoặc những quái vật khác cũng là một phương án.”

「リムルさんなり、他の化け物なり、助けが来るのを待つのも手だよね」

“Hừm, đúng vậy. Nếu ta và Adalmann thách đấu, và cô gái kia phong ấn được『Dịch Chuyển Tức Thời』của nó, có lẽ sẽ có một trận đấu khá tốt nhỉ.”

「ふむ、そうよな。ワシとアダルマンが挑み、お嬢ちゃんがヤツの『瞬間移動』を封じてくれれば、それなりに良い勝負になりそうじゃな」

“Tôi cũng sẽ hợp tác!”

「私も協力するわよぉ!」

Một ý kiến tích cực đã được đưa ra, nhưng Elmesia đã phản đối.

という前向きな意見が出たが、これにエルメシアが反対した。

“Nếu chỉ là tốc độ thì không thua đâu, nhưng nếu bị nhắm vào bằng đòn tấn công phạm vi lúc nãy thì coi như xong...”

「速さだけなら負けないけどぉ、さっきの範囲攻撃を向けられたら終わりなのよねぇ……」

Nghe vậy, Sylvia cũng cứng họng.

これを聞いて、シルビアも言葉に詰まる。

Đòn tấn công lúc nãy của Habataki không hề có dấu hiệu báo trước nào.

さっきのハバタキの攻撃は、予兆も何もなかった。

Không thể giống như trận chiến với Millim được, và nếu bị tung ra đòn đó, sẽ không thể né tránh và kết thúc ngay lập tức.

対ミリム戦のような訳にもいかず、アレを放たれたら回避不能で即終了となるだろう。

Nếu Chloe ở đây, cô ấy có lẽ sẽ đưa ra những chỉ thị thích hợp... vì có thể nhìn thấy tương lai nên đó là điều đương nhiên... nhưng với Yuki, độ tin cậy lại có phần thiếu sót.

ここにクロエがいたならば、適切な──未来を視られるのだから当然なのだが──指示をくれるだろうが、ユウキでは、イマイチ信用性に欠けていた。

Anh ta chỉ được công nhận ở mức độ tốt hơn so với bất kỳ ai khác ở đây.

この場の誰よりもマシ、という程度の認識だったのだ。

“Thật quá đáng, các bạn không nghĩ vậy sao?”

「酷くない、君達?」

“Mà, có lẽ chỉ có chúng ta mới biết sự tuyệt vời của sếp thôi. Đành chịu vậy.”

「まあ、ボスの凄さを知っているのは、ワタクシ達だけでしょうし。仕方ないわよ」

Dù Kagali đã an ủi như vậy, nhưng nếu không thể đưa ra chỉ thị thì sẽ mất tư cách lãnh đạo. Vì đã hiểu rõ điểm đó, nên Yuki cũng không thể phàn nàn.

そうカガリが慰めたものの、指示を出せないのではリーダー失格なのだ。その点を十分に理解しているので、ユウキとしても文句は言えないのである。

Vậy thì, phải làm gì đây... cả nhóm đều đau đầu.

さて、どうしたものか──と、一同は頭を悩ませる。

Không có ý tưởng nào tốt cả.

良い案は出ない。

Sau khi biết rằng ngay cả việc câu giờ cũng phải liều mạng, họ đã không dám liều lĩnh ra tay với Habataki.

時間稼ぎをするにも命懸けだと判明した今、ハバタキに対して迂闊に手出し出来なくなっていた。

Dù vậy, thời gian không chờ đợi ai...

そうは言っても、時間は待ってくれなくて……。

Dù mọi người đang họp bằng “Gia Tốc Tư Duy”, nhưng thời gian vẫn rất ít.

皆が『思考加速』で会議しているが、それでも猶予は少ないのだ。

Nếu không đưa ra một phương hướng quyết định, điều chờ đợi họ sẽ là thất bại.

決定的な方針を打ち立てねば、待っているのは敗北である。

Kết luận có thể đưa ra là “hi sinh cũng là điều khó tránh khỏi”... nhưng ngay khi Yuki định nói ra, thì...

出せる結論は、『犠牲もやむなし』なんだけど──と、ユウキが口にしかけた瞬間だった。

“Này này, có vẻ như các ngươi đang gặp khó khăn nhỉ. Chọn đến đây là đúng rồi!”

「やあやあ、困っているみたいだね。こっちを選んで正解だったよ!」

Đúng lúc đó, Carrera đã đến.

この地に、カレラがやって来た。

Và rồi, cô nhìn Habataki và cười một cách kiêu ngạo.

そして、ハバタキを見て傲岸不遜に嗤ったのだ。

Yuki cũng biết sự tồn tại của Carrera.

ユウキも、カレラの存在は知っている。

Tuy nhiên, không phải là quá chi tiết.

とは言っても、そこまで詳しい訳ではない。

Là một trong những vị vua của ác ma được gọi là Hoàng sắc Nguyên sơ Jaune, đã được Rimuru đặt tên và trở thành thuộc hạ.

原初の黄(ジョーヌ)と呼ばれていた悪魔の王の一柱(ヒトリ)で、リムルに名付けられて配下になった。

Là một tồn tại vô cùng hiếu chiến, đã đẩy quân đội Đế quốc xuống tận cùng của sự khủng bố.

恐ろしく好戦的で、帝国軍を恐怖のどん底に突き落とした存在。

Đó là những thông tin mà anh ta có được.

そのくらいの情報が精々だ。

Dù có vẻ mạnh hơn những người ở đây, nhưng nếu so sánh với Habataki, có lẽ cũng chỉ là kẻ tám lạng người nửa cân.

今この場にいる面子よりは強そうだが、ハバタキを比較対象にするなら五十歩百歩なのではないか、と思われた。

Tuy nhiên.

ところが。

《Nguy hiểm đó, nguy hiểm đó! Đừng có chọc giận con mụ đó!!》

《危険よ、危険なの! あの女を怒らせたらダメなの!!》

Vì Maria ồn ào như vậy, nên chắc chắn là cần phải cảnh giác.

という具合にマリアが煩(うるさ)いので、警戒すべきなのは間違いなさそうだった。

Hơn nữa, ngay cả Elmesia và Sylvia cũng đang truyền đạt thông điệp bằng ánh mắt đến Yuki.

しかもエルメシアやシルビアまでも、ユウキに向けて目線で訴えかけている。

(Tuyệt đối không được chọc giận tên đó!!)

(ソイツは絶対に怒らせちゃダメよぉ!!)

(Phối hợp là không thể! Đừng có nghĩ đến việc dỗ dành và lợi dụng nó, cứ để nó làm theo ý mình là tốt nhất!!)

(連携とか無理だから! 上手く宥めて利用しようなんて考えずに、好きにさせてあげた方がいいわよぉ!!)

Dù không nói chuyện, nhưng suy nghĩ đó vẫn được truyền đi một cách rõ ràng.

会話していないのに、その思いがビシビシと伝わってくる。

(Nhiều đến mức nào chứ...)

(どんだけだよ……)

Yuki kinh ngạc.

と、ドン引きするユウキであった。

Carrera đã dẫn theo rất nhiều thuộc hạ.

カレラは手下を大勢引き連れていた。

Đó là hai trăm thành viên của Hắc Sắc Quân Đoàn (Black Numbers) đã được giải phóng khỏi tượng băng, nhưng người dẫn đầu lại là Esprit.

氷像から解放された黒色軍団(ブラックナンバーズ)二百名だが、それを率いるのはエスプリだ。

“Vậy thì, chúng ta sẽ đi dọn dẹp bọn tép riu nhé~”

「それじゃ、私らは適当に雑魚専しときますね〜」

“À, giao cho ngươi đó. Ở đây cũng có bọn thuộc phe Diablo, nên đừng có đánh nhau.”

「ああ、任せたよ。ここにはディアブロ派の奴等もいるから、喧嘩しないように」

“Haha! Carrera-sama lại nói vậy sao?”

「アハハ! それをカレラ様が言います?」

“Tất nhiên rồi? Ta không muốn bị chủ nhân giận đâu.”

「当然だろ? 我が君に怒られたくはないからね」

Ta đã cảnh báo rồi đó... Carrera cười nhếch mép.

私は忠告したよ──と、カレラはニヤリと笑う。

A, đây là ý định đổ trách nhiệm rồi, Esprit nhận ra.

あ、これは責任を押し付ける気だ、とエスプリは悟った。

Vậy nên ở đây, cô ngoan ngoãn bắt đầu công việc và cho thuộc hạ của mình tản ra.

なのでこの場は大人しく、さっさと作業開始とばかりに手下共を散開させる。

Carrera, còn lại một mình lơ lửng giữa không trung, từ từ quay lại và bắt gặp ánh mắt của Yuki.

宙に浮かんだまま一人残ったカレラは、ゆっくりと振り向くようにしてユウキと視線を合わせた。

A, đây là một kẻ nguy hiểm... Yuki cũng đã nhận ra bằng bản năng.

あ、コレは危険なヤツだ──と、ユウキも本能的に悟った。

Anh ta đã nắm bắt được tính cách của Carrera trong nháy mắt, rằng cô ấy sẽ không bao giờ nghe lệnh.

絶対に命令なんて聞かないだろうと、一瞬にしてカレラの性格を把握したのである。

(Rimuru-san thực sự rất tuyệt vời. Ngay cả một kẻ như thế này cũng có thể phục tùng.)

(リムルさんって、マジで凄いね。こんなヤツまで従えるなんて)

Yuki thầm thán phục.

と、心の底から感心するユウキ。

Carrera hỏi Yuki.

そんなユウキに向けて、カレラが問いかけた。

“Vậy? Chắc chắn là không có kế hoạch nào rồi, đúng không?”

「で? どうせ策なんてないんだろう?」

“Không, thì... cũng có nhưng...”

「いや、まあ……あるにはあったんだけど……」

Không thể nói ra rằng tất cả đều đã thất bại, Yuki ngập ngừng.

全てダメだったと言い出せず、ユウキは口ごもる。

“Thật bất tài. Dù vậy, ngươi có phải là người đàn ông mà chủ nhân ta công nhận không?”

「不甲斐ないな。それでも我が君が認めた男なのかい?」

Ánh mắt của Carrera nhìn Yuki giống như đang nhìn một thứ bẩn thỉu.

カレラがユウキを見る様は、まるで汚物を見るかのようだ。

Bằng chứng là, từ giọng điệu của Carrera có thể cảm nhận rõ ràng sự kinh ngạc và khinh bỉ.

その証拠にカレラの口調からは、呆れと、軽蔑、そうした感情が明確に感じ取れた。

《Đúng vậy, đúng vậy đó! Nói thêm nữa đi.》

《いいわ、いいのよ! もっと言ってやるのよ》

Ngay cả Maria cũng đồng tình với Carrera, reo hò trong đầu Yuki.

マリアまでカレラに同調して、ユウキの脳内で大喜びしている。

Điều này đối với Yuki cũng không thể chịu đựng được.

これにはユウキも、たまったものではない。

Với Yuki định phản bác lại, Carrera lại nói thêm.

流石に反論しようとしたユウキに、カレラが更に意見する。

“Ý kiến của ngươi, thì, không quan trọng. Ta sẽ giúp đỡ, nên hãy biết ơn đi.”

「君の意見なんて、まあ、どうでもいいんだ。私が手助けしてやるから、感謝するように」

Đó là một lời thông báo hoàn toàn đơn phương.

見事なまでに、一方的な通告だった。

Và rồi, Carrera ra lệnh.

そして続けて、カレラが命じる。

“Ta sẽ hạ gục con bọ có cánh đó, nên hãy canh thời điểm mà đưa nó đến đây.”

「あの羽虫を私が仕留めてやるから、タイミングを合わせて連れて来い」

Đó là một yêu cầu vô lí.

無茶ぶりであった。

Nếu là thuộc hạ của Carrera thì đã quen rồi, nhưng đối với Yuki thì lại rất ngạc nhiên.

カレラの配下なら慣れっこだが、ユウキからすれば驚きである。

Vốn dĩ, Yuki không phải là thuộc hạ của Carrera, nên anh ta không có nghĩa vụ phải tuân theo mệnh lệnh.

そもそも、ユウキはカレラの手下ではないので、命令に従う義務すらないのだ。

Nhưng mà.

だが、しかし。

Ở đây, không có ai là đồng minh của Yuki.

この場にユウキの味方はいなかった。

Elmesia và Sylvia đã biết rõ sự nguy hiểm của Carrera. Họ đã khôn ngoan giữ khoảng cách ngay từ đầu như thể không muốn dính líu đến.

エルメシアやシルビアは、カレラの危険性を熟知していた。賢明にも関わり合いになりたくないとばかりに、真っ先に距離を置いている。

Kagali và Tear có lẽ cũng đã cảm nhận được sự nguy hiểm và đã lặng lẽ biến mất.

カガリやティアも危険を察知したのか、スッと気配を消していた。

Ngay cả Laplace cũng đang giả vờ là người ngoài cuộc.

ラプラスでさえも、他人のフリをしている始末だ。

Adalmann và Gadra thì...

アダルマンやガドラはというと……。

“Ngươi là một trong số ‘Thánh Ma Thập Nhị Thủ Hộ Vương’ đồng cấp, không nên can ngăn Carrera-dono sao?”

「お主は同格の〝聖(せい)魔(ま)十(じゅう)二(に)守(しゅ)護(ご)王(おう)〟なのだから、カレラ殿を諫めた方がいいのではないか?」

“Hahaha, trò đùa của Gadra thật thú vị. Ngươi nghĩ Carrera-dono sẽ nghe lời của một kẻ như ta sao?”

「はっはっは、ガドラの冗談は面白いな。カレラ殿が、私如きの話を聞いてくれるとでも?」

“Ừm... không được sao? Mà, chắc là... người có thể ra lệnh cho một vị ‘Nguyên thủy’ chỉ có thể là Rimuru bệ hạ thôi...”

「うむ……無理か? まあのう……〝原初〟たる御方を従えられるのは、リムル陛下のみであろうな……」

Họ đã từ bỏ ngay từ đầu.

最初から諦めモードであった。

Chỉ có Mai là lo lắng cho Yuki và tỏ ra bồn chồn, nhưng lại quá yếu đuối nên không thể trông cậy được.

マイだけはユウキを心配してかオロオロしているが、頼りなさ過ぎて論外である。

Nắm bắt được tình hình đó ngay lập tức, Yuki đã quyết định phương hướng của mình.

そんな状況を瞬時に把握し、ユウキは方針を定めた。

Đó là, đầu hàng kẻ mạnh là đúng đắn.

長い物には巻かれるのが正解だ、と。

“Hiểu rồi. Cho tôi chỉ thị.”

「わかったよ。指示をくれ」

“Vậy là tốt. Đừng có làm hỏng chuyện đấy!”

「それでいい。しくじらないでくれよ!」

Nói rồi, Carrera nở một nụ cười rạng rỡ.

そう言って、カレラは満面の笑みを浮かべたのだった。

Ngay khi Yuki chấp nhận, Carrera đã đáp xuống mặt đất.

ユウキが承諾するなり、カレラは地上に降りた。

Có vẻ như không có ý định ẩn nấp, cô đứng hiên ngang giữa một ngọn đồi đã biến thành sa mạc.

隠れる気などサラサラないようで、砂漠と化した丘陵のド真ん中に堂々と仁王立ちしている。

Và rồi, cô hét lên.

そして、叫ぶ。

“‘Agera, đến đây!’”

「『アゲーラ来い!』」

Đó không phải là một nghi thức triệu hồi ác ma.

それは、悪魔召喚の儀式ではない。

Đơn giản là, cô đã gọi thuộc hạ của mình có lẽ đang ở trên chiến trường này.

単純に、この戦場にいるであろう配下を呼び出したのだ。

Agera, người đã hành động cùng với vua Dwarf Gazeru, tất nhiên cũng đã nghe thấy giọng nói đó.

ドワーフ王ガゼルと行動を共にしていたアゲーラにも、当然ながらその声は届いた。

“Chậc, Carrera-sama vừa mới hồi sinh mà đã định bắt ta làm việc rồi.”

「やれやれ、カレラ様は復活直後であろうに、拙者をこき使うつもりのようじゃ」

“Fufufu, có lẽ là vì được tin cậy đó.”

「フフフ、頼られているという事であろうさ」

“Vậy thì, Gazeru-vua. Chúng ta hãy cùng nhau uống rượu lần nữa.”

「ではな、ガゼル王。また酒を酌み交わそうぞ!」

“Ừm, ta rất mong chờ. Vì vậy, chúng ta phải nhanh chóng kết thúc cuộc chiến này.”

「うむ、楽しみだ。その為にも、さっさとこの戦を終わらせねばな」

Agera và Gazeru cười với nhau.

アゲーラとガゼルは笑い合う。

Và rồi, Agera đã đến bên chủ nhân Carrera của mình với tốc độ của một cơn gió lốc.

そしてアゲーラは疾風の速度で、主であるカレラの下に馳せ参じたのである。

“Đã để ngài phải chờ đợi, Carrera-sama.”

「お待たせいたしました、カレラ様」

“Ừm. Giúp ta một tay!”

「うむ。手伝ってくれ!」

Nói xong, Carrera đưa tay phải lên trời.

カレラはそう告げるなり、右手を天に向けた。

“Tuân lệnh!!”

「承知!!」

Agera đã chấp nhận mệnh lệnh. Và rồi, anh ta kích hoạt quyền năng như thể đang cầu nguyện “Thân ta là lưỡi đao, là lưỡi đao bất diệt tiêu diệt kẻ thù!”.

アゲーラは命令を受諾した。そして「我が身は刃、敵を滅ぼす不滅の刃なり!」と祈るように権能を発動させる。

Agera đã biến thành một thanh kiếm vàng bằng Phước lành Tối thượng “Đao Thân Biến Hóa”, và được hút vào tay phải của Carrera.

アゲーラは究極贈与(アルティメットギフト)『刀(とう)身(しん)変(へん)化(げ)』によって黄金の刀に変化し、カレラの右手に吸い込まれるように収まったのだった。

Vậy là, việc chuẩn bị đã hoàn tất.

こうして、準備は完了した。

Carrera không hề lo lắng cho Agera mà tập trung toàn bộ sức mạnh của mình vào tay phải.

カレラはアゲーラの身を案じたりせず、持てる力の全てを右手に集中させていく。

Đó là một tư thế liều lĩnh, không hề nghĩ đến việc phòng thủ.

防御なんて一切考えていない、捨て身の構えだ。

Nhìn thấy Carrera như vậy, Yuki kinh hãi.

そんなカレラを見て、ユウキは戦慄した。

(Đùa sao!? Trước một kẻ địch nguy hiểm như vậy mà lại hoàn toàn không phòng bị...)

(冗談だろ!? あんな危険な攻撃をする敵を前に、完全に無防備になるなんて……)

Đó là một hành động nguy hiểm mà Yuki sẽ không bao giờ làm, và ai cũng có thể hiểu được.

ユウキなら絶対にしない、誰にでも理解出来そうな危険行為である。

Tuy nhiên, Carrera đã thực hiện nó một cách bình thản.

しかし、カレラは平然と実行していた。

Agera, người đã giao phó tính mạng cho Carrera, cũng tỏ ra như đó là điều đương nhiên.

カレラに命を預けて従うアゲーラも、それが当然という様子である。

“Điên rồ thật, các ngươi...”

「クレイジーだよ、君達って……」

Anh ta bất giác lẩm bẩm như vậy, nhưng đồng thời cũng nghĩ rằng.

思わずそう呟いてしまったが、同時にこうも思った。

Với những kẻ có quyết tâm như thế này, thì mình có lẽ chỉ là một kẻ nửa vời.

これだけの覚悟があるヤツらからすれば、自分は半端者に見えるのだろうな、と。

(Mà, lúc thế giới sắp kết thúc mà còn lo lắng về tương lai thì cũng thật nực cười.)

(まあさ、世界が終わるかもって時に、後先の心配をしてるのも滑稽ってものだよね)

Yuki tự giễu mình.

と、ユウキは自嘲した。

Sau khi Rimuru trở về, anh ta đã có cảm giác như mọi vấn đề đã được giải quyết.

リムルが帰還した事で、全ての問題が片付いた気分になっていた。

Nếu là Rimuru, thì ngay cả Habataki đó cũng sẽ bị đánh bại, anh ta nghĩ vậy.

リムルであれば、あのハバタキだってどうにかしてしまうのだろう、と。

Nếu chết ở đây thì sẽ là một cái chết vô ích... suy nghĩ đó đã tồn tại ở một góc nào đó trong đầu anh ta.

だったら、ここで死んだら犬死にだ──という考えが、脳裏のどこかにあったのだ。

(Chẳng lẽ mình đã chuyển sang tư duy phòng thủ từ lúc nào rồi sao. Mà, có lẽ cũng đành thôi.)

(いつの間にか、守りの思考に入っちゃってたか。まあ、それも仕方ないかもだけどさ)

Yuki xấu hổ về bản thân mình.

ユウキはそんな自分を恥じた。

Để thực hiện kế hoạch một cách chắc chắn, anh ta quyết định tin tưởng vào Carrera.

作戦を確実に遂行する為にも、カレラを信じる事にしたのである。

《Hừm! Đúng là đồ ngốc. Thất bại là không thể tha thứ, không thể tha thứ đâu! Nếu ngươi chết, ta sẽ không còn ai để chế giễu nữa.》

《フンッ! 本当に馬鹿なのよ。失敗は許さないわ、許さないのよ! 貴方が死んだら、もう馬鹿に出来なくなるもの》

Hiểu rồi... Yuki cười.

わかってるさ──と、ユウキは笑った。

“Chỗ này giao cho các bạn.”

「ここは任せるよ」

Nói rồi, Yuki đã『Dịch Chuyển Tức Thời』đến sau lưng Carrera. Kế hoạch đã có thể được bàn bạc qua『Truyền Đạt Tư Niệm』, nhưng đây là để giảm bớt gánh nặng tính toán tọa độ.

と仲間達に言い残し、ユウキはカレラの背後に『瞬間移動』した。作戦は全て『思念伝達』を通して相談可能なのだが、座標計算の負担を少しでも軽減する為である。

Mai cũng đi theo.

マイも、これに追随する。

“Đành vậy thôi. Tôi cũng sẽ hợp tác.”

「仕方ないですね。私も協力しますよ」

Nói rồi, cô xuất hiện bên cạnh Yuki.

そう言って、ユウキの隣に出現したのだ。

Dù cảm nhận được sự hiện diện của hai người sau lưng, Carrera không hề ngạc nhiên.

背後に二人の気配を感じても、カレラは驚かなかった。

Như thường lệ, cô thản nhiên hỏi về phía sau.

いつも通り気楽に、背後に向けて問いかける。

“Định làm gì vậy? Nếu ngươi làm đúng vai trò của mình, ngươi có thể ở một nơi an toàn.”

「何のつもりだい? 自分の役割を果たしてくれるなら、君は安全な場所にいてもいいんだよ?」

“Hahaha, tôi cũng muốn tỏ ra ngầu chứ. Hơn nữa, nếu muốn dụ tên đó đến, thì ở đây sẽ chắc chắn hơn.”

「ははは、僕だって恰好つけたいのさ。それに、ヤツを呼び寄せるなら、こっちに居た方が確実だからね」

“Hừ, đó mới là người đàn ông mà chủ nhân ta công nhận!”

「フッ、それでこそ我が君が認めた男だ!」

Carrera đã dự đoán được điều này ngay từ đầu. Vì bản thân sẽ hoàn toàn không phòng bị, nên trong trường hợp xấu nhất, cô đã định nhờ ai đó giải quyết.

カレラは最初から、こうなると予想していたのだ。自身が完全無防備になるから、最悪、誰かに何とかしてもらうつもりだったのである。

Hiểu điều đó, Yuki cười khổ.

そう理解して、ユウキは苦笑する。

Dù đã bị lừa một cách khéo léo, nhưng anh ta không hề cảm thấy tồi tệ.

上手く乗せられてしまったが、悪い気はしなかった。

Dù có thán phục sự tính toán đó, nhưng đó cũng là một bằng chứng cho sự tin tưởng của họ dành cho mình.

その計算高さに感心はすれど、それは自分達への信頼の証でもある。

Sự tin tưởng từ một đối thủ, người thậm chí còn không phải là đồng minh, mà là kẻ thù, đã khiến Yuki cảm thấy có chút phấn khích.

味方でも何でもなかった相手、むしろ敵側だった相手からの信頼に、少しばかり気分が高揚するのを感じるユウキであった。

“Vậy thì, bắt đầu đây!”

「それじゃあ、始めるぜ!」

Nói rồi, Yuki bắt đầu hành động.

そう言って、ユウキは行動を開始する。

“Nếu có chuyện gì, tôi sẽ dùng『Dịch Chuyển Tức Thời』để đưa hai người rút lui!”

「いざとなったら、私の『瞬間移動』でお二人とも退避させます!」

Mai cũng đã quyết tâm. Cô đã quyết định rằng mình chỉ cần tập trung vào việc chạy trốn.

マイも覚悟を決めている。自分は逃げる事だけに集中すればいいのだと、割り切って考えていた。

Vậy là, kế hoạch cuối cùng nhằm đối phó với Habataki đã được bắt đầu.

こうして、対ハバタキ戦に向けた最終作戦が開始されたのだ。

Trên bầu trời nơi Yuki và Mai đã rời đi, những người còn lại nhìn nhau.

ユウキとマイが去った上空にて、残った者達は顔を見合わせた。

Những người ở đây, đều đang tự mình bay bằng một cách nào đó. Vì tình hình không còn là ẩn nấp dưới mặt đất sẽ an toàn hơn, nên họ đã duy trì trạng thái chờ đợi.

この場にいる者達は、何らかの手段で自力飛行している。地上に隠れた方が安全という状況ではなくなったので、そのまま待機状態を維持していた。

“Nếu sếp đã quyết tâm chết, thì chúng ta cũng không còn cách nào khác là đi theo.”

「ボスが死ぬ覚悟を決めたのなら、ワタクシ達も付き合うしかなさそうね」

“Đúng vậy. Nếu thất bại, thì đó là chuyện của lúc đó. Chắc chắn sẽ bị Kleiman và Footman cười nhạo ở thế giới bên kia, nhưng phải làm sao để không còn hối tiếc.”

「せやな。失敗したら、それはその時の話や。あの世でクレイマンやフットマンから笑われるやろけど、悔いだけは残さんようにせんとな!」

“Laplace, thỉnh thoảng cậu cũng nói những điều hay nhỉ!”

「ラプラスって、たまに良い事言うよね!」

“Đừng có nói vậy chứ, Tear. Tôi lúc nào cũng là người nói những lời hay ý đẹp mà?”

「そりゃないで、ティア。ワイは常に名言マンやで?」

Vừa đùa giỡn như thường lệ, anh ta vừa làm cho bầu không khí trở nên nhẹ nhàng hơn. Mọi người đều cảm thấy như được cứu rỗi bởi một Laplace như vậy.

いつものようにおどけつつ、その場の空気を軽くする。そんなラプラスに、誰もが救われる思いであった。

Sylvia lẩm bẩm một cách xúc động.

シルビアがしみじみと呟く。

“Thật sự không thay đổi chút nào nhỉ.”

「本当に変わっていないのねぇ」

“À thì, mà, đúng vậy.”

「えっと、まあ、せやな」

Laplace cảm thấy khó xử.

これには気まずいラプラスだ。

Vì mới nhớ lại ký ức gần đây, nên anh ta không thể tự tin nói “Không có gì thay đổi”. Nhưng nếu phủ nhận thì cũng thật kì lạ.

記憶を思い出したのはつい最近なので、『変わってませんよ』とは、堂々と口に出来ない。かと言って、否定するのも可笑(おか)しな話であった。

“Lần này đừng có chạy trốn nhé. Nếu chết, thì cùng nhau.”

「今回は抜け駆けしないでよ。死ぬなら、一緒にね」

“...Được rồi.”

「……わかったで」

“Được rồi! Vậy thì, tôi sẽ đi đánh lạc hướng tên đó.”

「よし! それじゃあ、私はアイツを惑わす事にするわ」

Sylvia nói với một nụ cười.

シルビアが笑顔で告げた。

“Sẽ dùng thần tốc để đánh lạc hướng sao. Vậy thì, hãy làm một cách an toàn hơn.”

「神速で翻弄するのねぇ。それなら、もっと安全にいきましょ」

Nói rồi, Elmesia tham gia vào cuộc trò chuyện.

そう言って、エルメシアが会話に参加する。

Sau đó, một cuộc họp chiến thuật ngắn gọn đã được tổ chức qua “Truyền Đạt Tư Niệm”.

それから『思念伝達』にて、簡単な作戦会議が行われた。

Tia sáng của Habataki, nếu trúng phải sẽ là kết thúc. Vì nghĩ rằng ngay cả với thần tốc cũng khó có thể né tránh, nên việc không để nó bắn ra là tốt nhất.

ハバタキの閃光は、浴びたら終わりだ。神速でも回避が難しいと思われる以上、放てないようにするのが一番である。

Tuy nhiên, dù không thể nào thuận lợi như vậy, nhưng Elmesia đã quyết định rằng chỉ cần câu giờ cho đến khi Carrera chuẩn bị xong, thì chỉ cần một mình họ cũng có thể xoay sở được.

とはいえ、そう都合良くいくわけもないのだが、カレラの準備が整うまでの時間稼ぎくらいなら、自分達だけでも何とかなるだろうとエルメシアは判断していた。

“Tên đó có vẻ như không chỉ sử dụng thị giác mà còn cả ‘Cảm Nhận Ma Lực’. Nhưng mà, có vẻ như nó vẫn chưa quen với việc chiến đấu. Ở đó, tôi nghĩ có một sơ hở để chúng ta có thể lợi dụng!”

「アイツはどうやら、視覚だけでなく『魔力感知』も駆使しているみたいね。でもぉ、まだまだ戦闘に慣れていないみたい。そこに、私達がつけ込む隙があると思うのよぉ!」

Kế hoạch của Elmesia là như thế này.

エルメシアの作戦はこうだ。

Cô và Sylvia sẽ đứng ở khoảng cách xa nhau và lần lượt giải phóng đấu khí. Như vậy, Habataki sẽ phản ứng với điều đó.

自分とシルビアが距離を置いて、交互に闘気を解放する。そうすれば、ハバタキはそれに反応を示すだろう。

Nếu phối hợp đúng thời điểm, có thể sẽ làm nó bối rối.

上手くタイミングを合わせれば、混乱させる事が出来るのではないか、と。

“...Giống như thế này, chúng ta sẽ che giấu đấu khí (aura)! Như vậy, có lẽ nó sẽ hiểu lầm rằng đối thủ đã『Dịch Chuyển Tức Thời』, đúng không?”

「──こんな感じに、闘気(オーラ)を隠しちゃうのよぉ! そうすれば、相手が『瞬間移動』したのだって、勘違いしてくれるんじゃないかしら?」

Vì mình có thể làm được, nên sẽ ảo tưởng rằng đối thủ cũng có thể. Khả năng đó là rất cao.

自分が出来るからこそ、相手にも可能だと錯覚する。その可能性は十分にありそうだった。

Tuy nhiên, cũng có những ý kiến phản đối.

けれど、反対意見も当然出る。

“Nguy hiểm đó? Vì có thể nhìn thấy được, nên sẽ bị giết từng người một và kết thúc thôi, đúng không?”

「危険やで? 視認可能なんやから、個別に殺されて終わりちゃうか?」

“Đúng vậy! Có vẻ như nó cũng có thị giác, nên sẽ bị phát hiện thôi, đúng không?”

「そうだよ! 視覚もあるみたいだし、バレちゃうんじゃないかな?」

Thông thường, việc nắm bắt thông tin bằng thị giác sẽ chậm hơn so với “Cảm Nhận Ma Lực”. Chính vì vậy mà Elmesia mới có ý kiến như vậy, nhưng đó cũng có thể là một quan sát lạc quan dựa trên sự tự tin.

通常、視覚での情報把握は、『魔力感知』よりも遅れるものだ。だからこそのエルメシアの意見なのだが、それは思い込みによる希望的観測である可能性もある。

Nếu thị lực của Habataki là một khả năng phi thường có nguồn gốc từ quyền năng, có lẽ nó sẽ dễ dàng nhìn thấu và kế hoạch sẽ thất bại. Lời chỉ trích của Laplace là do lo lắng về điều đó.

ハバタキの視力が権能由来の卓越したものだった場合、アッサリと見抜かれて作戦が失敗するかも知れないのだ。ラプラスの指摘は、それを心配してのものだった。

Kagali, người đã im lặng cho đến bây giờ, cuối cùng đã mở miệng.

ここまで沈黙していたカガリが、ようやくここで口を開いた。

“Vậy thì, ta sẽ dùng Phó thác Tối thượng ‘Dư Ngôn Thư (Agastya)’ để che giấu tất cả thông tin tồn tại của các ngươi.”

「ならばワタクシの究極授与(アルティメットエンチャント)『予言之書(アガスティア)』で、貴女方の存在情報の全てを隠蔽いたしましょう」

Nói rồi, Kagali kích hoạt quyền năng.

そう言うなり、カガリは権能を行使した。

Quyền năng của Phó thác Tối thượng “Dư Ngôn Thư (Agastya)” chi phối các sự kiện liên quan đến thông tin. Việc dự đoán tương lai gần trong vài giây là điều cơ bản, và các kĩ năng ứng dụng của nó bao gồm cả “lừa dối” và “ngụy trang”. Dù không thể viết lại thông tin của đối tượng, nhưng có thể tạm thời làm cho họ tin như vậy.

究極授与(アルティメットエンチャント)『予言之書(アガスティア)』の権能は、情報にまつわる事象を司っている。数秒先の近未来を予測したりというのは基本で、その応用技には『欺瞞』や『偽装』だって含まれていた。対象の情報そのものを書き換えたりは出来ないものの、一時的にそう思い込ませる事は出来たのだ。

Cũng có thể sử dụng như một phiên bản nâng cao của thuật thôi miên, nhưng nó vô dụng đối với những người có ý chí mạnh mẽ vì sẽ bị kháng cự.

催眠術の強化版のような使い方も可能だが、意思の強い者には抵抗(レジスト)されてしまうので無駄である。

Tuy nhiên, nếu có sự cho phép thì lại là chuyện khác...

もっとも、許可があれば話は別で……。

Kết quả của việc Kagali sử dụng quyền năng, hình dạng của Sylvia và Elmesia đã biến mất. Không, có vẻ như đã biến mất.

カガリが権能を行使した結果、シルビアとエルメシアの姿が消える。否、消えたように見えた。

“...Tuyệt vời nhỉ. Cái này, hình dạng hiện tại của El-chan, nếu không dùng quyền năng thì không thể ‘nhìn’ thấy được.”

「……凄いわねぇ。これって、今のエルちゃんの姿が、権能を駆使しないと〝視〟えないわぁ」

“Thật sao...”

「本当ねぇ……」

Hai người thán phục như vậy.

そう感心する二人。

Tất nhiên, những người khác cũng có phản ứng tương tự.

当然、他の者達も同様の反応であった。

“Vậy thì, tôi cũng sẽ dùng quyền năng!”

「それならそれなら、私も権能を使っちゃうよ!」

Lần này, Tear kích hoạt Phó thác Tối thượng “Nghệ Sĩ Lạc Quan (Orpheus)”.

今度はティアが、究極授与(アルティメットエンチャント)『楽天奏者(オルフェウス)』を発動させる。

“Cho đến bây giờ, nó chỉ có hiệu quả với chính tôi... nhưng có vẻ như, có thể ban cho người khác nữa!”

「今までは、私自身にしか効果なかったんだけど……どうやらね、他人にも付与出来るみたいなの!」

Ý nghĩa của lời nói của Tear, hai người được ban cho đã hiểu được qua cảm giác.

ティアのその言葉の意味は、付与された二人には実感として理解出来た。

“Woa... cảm giác như sức mạnh đã tăng lên một cách đáng kinh ngạc!!”

「わぁ……ビックリするくらい、力が増した気がするわぁ!!」

“Nhưng cái này, có vẻ như tiêu hao rất nhiều, nên để vận dụng trong thực chiến thì cần phải có bí quyết...”

「でもこれぇ、消耗が半端ないっぽいから、実戦で運用するにはコツが要りそうねぇ……」

Đối với Sylvia đang kinh ngạc và vui mừng vì đã được tăng cường, phân tích của Elmesia rất chính xác.

強化されたと驚き喜ぶシルビアに対し、エルメシアの分析は正確だ。

Thực tế, dù năng lực chiến đấu đã tăng lên gấp vài lần, nhưng khả năng chiến đấu liên tục lại giảm đi không chỉ vài lần. Vì nó tiêu hao nhiều hơn cả khi chiến đấu hết sức, nên đó là một kết quả tất yếu.

事実、戦闘能力は数倍に跳ね上がったものの、継戦能力は数倍どころではなく減少している。全力戦闘をする以上に消耗するのだから、それは当然の帰結なのだ。

“Có ổn không?”

「大丈夫なんか?」

Laplace hỏi với vẻ mặt lo lắng.

と、ラプラスが心配そうに問いかけた。

Ngược lại, vợ và con gái của anh ta lại rất thản nhiên.

これに対し、妻と娘はあっけらかんとしたものだ。

“Nếu chiến đấu thực sự thì sẽ là một trở ngại...”

「実際に戦うのならむしろ邪魔だけど──」

“Nếu chỉ là để đánh lạc hướng và tạo ra sự hiện diện, thì lại rất tiện lợi nhỉ!”

「陽動で存在感を出すだけなら、好都合よねぇ!」

Nói rồi, họ cười và trả lời rằng không có vấn đề gì.

という感じで、何の問題もないと笑って答えたのだった。

Vậy là, kế hoạch đánh lạc hướng cũng đã được bắt đầu đồng thời.

こうして、陽動作戦も同時に開始されたのである。

Trong khi đó, việc chuẩn bị của Carrera cũng đang được tiến hành một cách chắc chắn.

一方、カレラの方も準備が着実に進められていく。

Với thanh kiếm đã biến thành thân đao, Carrera đã tăng cường đấu khí (aura) của mình.

刀身化したアゲーラを脇構えにして、カレラは闘気(オーラ)を高めていった。

Vậy mà lại rất tĩnh lặng.

それなのに、静謐。

Đó là một cách diễn đạt không phù hợp với tình hình, nhưng trạng thái của Carrera, với đôi mắt khép hờ, lại vô cùng tĩnh lặng và bình yên.

状況的にはそぐわない表現だが、半眼となったカレラの状態は実に静かで穏やかだったのだ。

Vai đã thả lỏng... không chỉ vậy, toàn thân cô có vẻ đã thả lỏng.

肩の力が抜けて──それどころか、全身が脱力した様子だった。

Chỉ có một điểm duy nhất, toàn bộ khí lực đã được tập trung vào thanh kiếm vàng.

ただ一点、黄金の刀身にのみ気力の全てが集中していた。

Trong một bầu không khí tĩnh lặng, chỉ có tiếng tim đập của Yuki và Mai là vang lên.

静寂な雰囲気の中、ユウキやマイの心臓の鼓動だけが音を奏でている。

Carrera đang nắm bắt toàn bộ tình hình chiến sự bằng cả cơ thể.

カレラは全身で、戦況を把握していた。

Cô cũng đang lắng nghe “Truyền Đạt Tư Niệm” mà phe đồng minh đang chia sẻ, và đã nắm bắt được xu hướng của mọi người.

味方陣営が共有している『思念伝達』にも耳を傾けており、全員の動向も把握済みだ。

Trong số đó, cô đã chú ý đến lời nói của Tear.

そんな中、ティアの発言に目を留めていた。

Một quyền năng có thể tăng cường năng lực chiến đấu trong chốc lát chính là thứ mà Carrera đang tìm kiếm.

瞬間的に戦闘能力を上昇させる権能とは、まさにカレラが求めているものだった。

‘Không thú vị sao! Ban cho ta quyền năng đó đi!!’

『面白いじゃないか! その権能、私にもかけてくれ!!』

Carrera không ngần ngại gọi Tear.

カレラは迷わず、ティアに呼び掛けた。

‘Nhưng, cái này...’

『でも、コレは──』

‘Chậc, không cần lo lắng về sau này! Chỉ cần đánh bại nó là được mà!!’

『なあに、後の事など気にする必要はないさ! 必ず倒せばいい話だからな!!』

Dù Tear có vẻ lo lắng, nhưng Carrera lại không hề để tâm.

不安そうなティアだったが、カレラはどこ吹く風だ。

Cô chỉ tin vào chiến thắng của mình và đã dốc toàn lực để tăng tỉ lệ chiến thắng.

自分の勝利だけを信じて、その為に勝率を高めるべく全力を賭していた。

Tear đã nhượng bộ và tuân theo lời của Carrera.

ティアは折れて、カレラの言葉に従ったのだった。

Vậy là, việc chuẩn bị đã xong.

こうして、準備は整った。

“Giao cho ngươi đó, Yuki Kagurazaka!”

「頼んだよ、ユウキ・カグラザカ!」

“Được nhớ tên thật vinh dự.”

「名前を覚えてもらえるなんて、光栄だよ」

Yuki cũng đã sẵn sàng.

ユウキも準備万端である。

Chỉ cần có tín hiệu của Carrera, anh ta có thể bắt đầu kế hoạch bất cứ lúc nào.

カレラの合図があれば、いつでも作戦決行可能だった。

“Làm đi!”

「やれ!」

“Được thôi!!”

「オッケー!!」

Ngay khoảnh khắc đó, Habataki, kẻ đang bị Sylvia và Elmesia đánh lạc hướng, đã biến mất khỏi nơi đó.

その瞬間、シルビアとエルメシアに翻弄されていたハバタキが、その場から消えた。

Cùng lúc đó.

同時刻。

Nó đã xuất hiện ở đúng nơi mà Carrera đã chỉ định, đúng như mong muốn.

カレラが指定した場所に、望んだ通りに出現した。

Yuki đã đồng bộ ý thức với Carrera, và đã đáp ứng yêu cầu một cách không một chút sai sót, để Habataki xuất hiện ngay trước mắt như Carrera mong muốn.

ユウキはカレラと意識を同調させて、カレラが望んだ通りにハバタキが目の前に出現するように、一寸の狂いもなく要望に応えたのである。

Cách làm cũng giống như khi tập trung hỏa lực vào Habataki lúc nãy.

要領は、先ほどハバタキに集中砲火した時と同じだった。

Nếu sử dụng nhiều lần, có lẽ Habataki đã có biện pháp đối phó, nhưng may mắn là Habataki đã không cảnh giác.

多用していたら、ハバタキも対策を立てていたかも知れないが、幸いにもハバタキは無警戒だった。

Đó là sự kiêu ngạo của kẻ mạnh.

強者故の驕りがあったのだ。

Hơn nữa, Habataki hiện đang bận rộn truy đuổi Elmesia và những người khác, và đã ở trong trạng thái đầu óc nóng lên. Điều đó cũng đã giúp cho Yuki dễ dàng mắc bẫy.

それにハバタキは、今はエルメシア達を追跡するのに忙しくて、頭に血が上った状態になっていた。それも幸いして、ユウキの術にあっさり引っかかってしまったのだった。

Trước đó, dù thế nào đi nữa, lần này cũng đã có tác dụng.

それ以前に、どちらにしても今回だけは通用したはずだ。

Bởi vì Yuki đã dốc hết sức mình để thực hiện phép tính.

何故ならば、ユウキが死力を尽くして演算を行っていたからである。

Không thể nào không thành công được.

成功しないはずがなかったのだ。

Quyết tâm của Yuki đã được truyền đến Carrera một cách chính xác.

ユウキの覚悟は、正しくカレラに伝わった。

‘Đúng như mong đợi!’

『期待通りだね!』

Đó là một lời khen ngợi từ tận đáy lòng, chỉ là không nói ra.

それは、〝声〟にしないだけの、心からの賞賛だった。

Và Carrera sẽ không lãng phí cơ hội đó.

そしてカレラは、その機会を無駄にしたりしない。

Riiiiinnnn... trong sự tĩnh lặng, một âm thanh trong trẻo vang lên.

リィーーーッン──────と、静寂の中、澄んだ音色が響いた。

Lưỡi kiếm vàng được vung ra.

振り抜かれた黄金の刃。

Đó là đỉnh cao của kiếm thuật.

それは、剣の極致だ。

Đó là điểm đến lí tưởng của “Lung Lưu” mà Agera đã mơ ước nhưng vẫn chưa đạt được. Đó chính là...

アゲーラが夢想し、未だ実現に至ってはいなかった、〝朧(おぼろ)流(りゅう)〟の理想的到達点。それこそが──

“Cực kĩ... ‘Nhất Thiểm’.”

「極技──〝一閃(にのまえ)〟──」

Kinh nghiệm và kiến thức của Agera, tất cả đã được Carrera kế thừa, và cuối cùng đã đạt đến sự hoàn thiện, đó chính là bí kĩ của kiếm thuật... đó chính là một đòn tất sát.

アゲーラの経験と知識、その全てをカレラが受け継ぐことで、遂に完成へと至った剣の極意──それこそが、一撃必殺。

Nó cũng tương đồng với tư tưởng “không cần đòn thứ hai” của trường phái Jigen, một bí kĩ tối thượng kết thúc mọi thứ bằng đòn tấn công đầu tiên.

示(じ)現(げん)流(りゅう)の〝二ノ太刀いらず〟の思想にも通じる、先制攻撃の初太刀で全てを終わらせる究極の奥義であった。

Lí do mà Agera chưa học được kĩ năng này là rất rõ ràng, vì anh ta luôn nghĩ đến trường hợp bị chặn lại.

この技をアゲーラが習得に至らなかった理由は明白で、常に防がれた場合について考えてしまっていたからだ。

Đặc biệt là trên chiến trường, không phải lúc nào cũng chỉ có một kẻ địch. Ngược lại, kĩ năng đã được mài giũa để đối phó với nhiều đối thủ, nên việc liều lĩnh đặt cược tất cả vào một đòn duy nhất có thể nói là điều cấm kị.

特に戦場では、敵が一人とは限らない。むしろ、一対多数を想定して技が磨かれていった訳で、たった一撃に全てを賭けるような真似は御法度、とも言えたのである。

Mục đích và phương hướng hoàn toàn trái ngược nhau, nên bí kĩ lí tưởng đã kết thúc trong mơ mộng.

目的と方向性が真逆だったが故に、理想的な奥義は夢幻で終わっていたのだ。

Tuy nhiên, Carrera thì khác.

ところが、カレラは違った。

Cô đã dốc toàn lực, bỏ lại tất cả những suy nghĩ tạp nham khác.

まさに全力で、それ以外の雑念を全て捨てて挑んだ。

Nếu mình có ngã xuống, thì những người bạn sẽ lo liệu... dù có một chút suy nghĩ như vậy, nhưng trước đó, suy nghĩ “chỉ cần giết được kẻ địch trước mắt là được!”... một suy nghĩ rất đặc trưng của Carrera, đã là nền tảng.

自分が倒れたならば、後の事は仲間達が何とかしてくれるだろう──というような気持ちも若干ながらあったが、それ以前に『目の前の敵を殺せればそれでいい!』という、実にカレラらしい思想が根底にあったのだ。

Chính vì vậy, cực kĩ “Nhất Thiểm” đã được hoàn thành.

それ故に、極技〝一閃(にのまえ)〟は完成に至ったのだった。

Và kết quả là...威力 của kĩ năng đã được chứng minh bởi Habataki bị chém thành hai nửa từ đỉnh đầu.

そしてその結果──技の威力は、頭頂から左右真っ二つになったハバタキが物語っている。

Tâm hạch (kokoro) đã bị chém đôi một cách sạch sẽ, và nó đã thăng thiên mà không hề hiểu chuyện gì đã xảy ra.

綺麗に心核(ココロ)まで両断されており、何が起きたのか理解出来ぬまま昇天してしまっていたのだ。

“Thật là một màn trình diễn tuyệt vời, Carrera-sama.”

「いやはや、お見事で御座いますな、カレラ様」

“Trả lời cũng lười.”

「返事するのも怠(ダル)い」

Đối với Agera, người đã nói lời khen ngợi sau khi giải trừ hình dạng thân đao, Carrera ngửa mặt lên trời và chửi thề.

刀身化が解けて賞賛の言葉を口にするアゲーラに対し、カレラは仰向けに倒れて天を見上げて悪態をつく。

“Phần còn lại giao cho ngươi.”

「後は任せた」

Nói rồi, Carrera ngất đi.

そう言うなり、カレラは気絶する。

Sau khi dốc hết sức lực, cô đã rơi vào trạng thái ngủ say.

全てを出し尽くし、休眠状態になったのだ。

“Tuân lệnh!!”

「承知!!」

Đáp lại, Agera ôm lấy cơ thể đang ngủ của chủ nhân.

そう応じて、アゲーラが眠る主君の身体を抱き上げた。

Từ đôi mắt của anh ta, nước mắt tuôn rơi như thác.

その双眼から、滝のような涙が溢れている.

Agera, khi chứng kiến giấc mơ của mình trở thành hiện thực, đã vô cùng xúc động.

アゲーラは夢の実現を目の当たりにして、心の底から感動していたのだった。

Và rồi, một người nữa.

そして、もう一名。

“...Thật tuyệt vời. Đó chính là đỉnh cao của kiếm thuật sao?”

「……見事だ。あれこそが、剣の到達点であるか」

Người đã bất giác lẩm bẩm như vậy chính là vua Gazeru, người đã quan sát từ trên không để có thể hỗ trợ nếu có chuyện gì xảy ra.

と思わず呟いたのは、何かあれば援護に入ろうと上空で見守っていた、ガゼル王その人だった。

Gazeru cũng đã rất xúc động.

ガゼルも感動していた。

Việc chứng kiến điểm đến của “Lung Lưu” đã trở thành một kho báu cả đời đối với Gazeru.

〝朧(おぼろ)流(りゅう)〟の到達点を目撃した事は、ガゼルにとって一生の宝となった。

Sự phấn khích đó làm cho Gazeru mạnh hơn.

その興奮は、ガゼルを強くする。

“Các ngươi, tình hình vẫn còn rất nguy hiểm! Hãy cẩn thận!!”

「者ども、まだまだ油断ならん局面である! 心してかかれィ──ッ!!」

Anh ta quát lên cổ vũ thuộc hạ của mình và bắt đầu hỗ trợ tấn công hết mình để Carrera và những người khác có thể trở về vùng an toàn một cách an toàn.

配下達を鼓舞するようにそう檄を飛ばして、カレラ達が無事に安全地帯まで戻れるように、全力で援護攻撃を始めたのだった。

Nhân tiện, thêm hai người nữa.

ついでに、もう二名。

“Cái đó, chắc chắn không thể bắt chước được, đúng không?”

「アレ、絶対に真似出来ないよね?」

“Tôi thì không thể.”

「私には無理よ」

“Đúng không? Đây là giữa chiến trường mà. Lẽ ra phải để dành sức mạnh để đối phó với kẻ địch tiếp theo chứ...”

「だよね? ここ、戦場のド真ん中だもの。次の敵を見据えて、普通なら力を温存しておく場面だと思うもの……」

Hai người gật đầu đồng ý, đó là Misery và Rain.

そう頷き合うのは、ミザリーとレインだった。

Nhìn thấy hành động điên rồ của Carrera, họ không còn cách nào khác ngoài việc thừa nhận rằng đó là một hành động mà họ không thể bắt chước.

カレラのぶっ飛んだ所業を見て、自分達には真似出来ない行為だと認めるしかなかった。

Chỉ có Carrera mới bất thường như vậy.

それだけ、カレラが異常なのだ。

Có câu nói “không nghĩ đến hậu quả”, nhưng thông thường, người ta vẫn sẽ suy nghĩ một chút.

後先考えないという言葉があるが、普通なら、少しは考えてしまう。

Nếu có một chút nghi ngờ “lỡ như?”, thì mũi kiếm sẽ trở nên cùn và “Nhất Thiểm” sẽ thất bại.

もしも? という疑いの心が生じたら、剣先が鈍って〝一閃(にのまえ)〟は不発に終わっていたはずだ。

Do đó, bí kĩ đó là một kĩ năng ảo, và khả năng thực hiện gần như bằng không.

故に、その奥義は幻の技であり、実現可能性がほぼゼロに等しかったのである。

Hơn nữa, đây là giữa chiến trường. Nếu xét về thời gian và địa điểm, thì không thể không nói rằng đó là khoảnh khắc tồi tệ nhất.

しかも、ここは戦場のド真ん中。時と場所を考える上でも、最悪の瞬間であると言わざるを得なかった。

Vậy mà, Carrera đã làm được.

それなのに、カレラは成し遂げた。

Hai người không biết nên ngạc nhiên hay nên khen ngợi.

これは驚くべきなのか、賞賛すべきなのか、判断に迷う二人である。

“Quả nhiên là Carrera, đầu óc có vấn đề rồi.”

「やっぱりカレラって、頭がぶっ壊れてるわ」

Rain lẩm bẩm một cách xúc động.

レインがしみじみと呟いた。

Misery cũng hoàn toàn đồng ý.

ミザリーも深く同意する。

“Đồng ý. Hãy nghĩ rằng thật may khi không phải là kẻ thù.”

「同感ね。敵じゃなくて良かったと思いましょう」

Hai người gật đầu mạnh mẽ, và nghĩ rằng nếu là Carrera thì cũng không có gì lạ.

大きく頷き合う二名は、カレラならさもありなんと思った。

Và rồi, họ yên tâm rằng hiện tại là đồng minh, và đã thề với lòng rằng sau này sẽ cố gắng không đối đầu.

そして、今は味方である事に安堵し、今後もなるべく敵対しないようにしようと、深く心に誓ったのだった。

Ở ba mặt trận trừ phía đông, ba thuộc hạ của “Diệt Giới Long” Ivalage đã bị đánh bại.

東を除く三方面で、〝滅(めっ)界(かい)竜(りゅう)〟イヴァラージェの三つの従僕(シモベ)達が倒された。

Đó là những sự việc diễn ra gần như cùng một lúc, như thể đã được tính toán trước.

それは計ったように、ほぼ同時刻の出来事だ。

Hầu hết những người nắm được tình hình đều nghĩ rằng.

これを把握していた者達の大半は思った。

Chỉ còn lại Ivalage thôi.

残るはイヴァラージェのみだ、と。

Tuy nhiên, thực tế không dễ dàng như vậy.

しかし、現実はそこまで甘くなかったのだ。

Thời gian quay ngược lại một chút.

少し時を遡る.

Trong đại sảnh của “Thiên Thông Các”, những chấn động lớn liên tục phát ra.

〝天通閣〟内部の大広間で、大きな衝撃が繰り返し発される。

Đó là ảnh hưởng từ cuộc chiến giữa Millim và Ivalage.

ミリムとイヴァラージェの戦闘による影響だ。

Nhờ vậy, những Ảo thú (Cryptid) đang tấn công về phía mặt đất đã lần lượt bị tiêu diệt không còn một chút tro bụi.

これによって、地上に向けて攻めて来ていた幻獣族(クリプテッド)の後続が、塵も残さず次々と殲滅されていった。

Đúng như kế hoạch của Millim.

ミリムの作戦通りである。

Cô đã có ý đồ vừa giảm thiểu ảnh hưởng đến mặt đất, vừa tiêu diệt những kẻ địch còn lại.

地上への影響を抑えつつ、残る敵も倒すという思惑があったのだ。

Nó đã mang lại hiệu quả, và kẻ địch bên trong “Thiên Thông Các” chỉ còn lại “Diệt Giới Long” Ivalage.

それは功を奏し、〝天通閣〟の中にいる敵は〝滅(めっ)界(かい)竜(りゅう)〟イヴァラージェのみ。

Tuy nhiên, từ đây trở đi là điều bất ngờ.

ところが、ここからが想定外となる。

Millim và Ivalage đang có một trận chiến ngang tài ngang sức... có vẻ là vậy.

ミリムとイヴァラージェは、互角の戦いを演じている──ように見えた。

Tuy nhiên, nếu người có khả năng nhìn thấy, họ sẽ nhận ra rằng có một khoảng cách lớn tồn tại giữa họ.

しかしながら、見る者が見れば、そこには大きな隔たりが存在している事に気付いただろう。

Đúng vậy, giống như Chloe.

そう、クロエのように。

(Không ổn rồi. Millim hiện tại cũng có sức mạnh không thể tưởng tượng được, nhưng không bằng ‘Cuồng Hóa Bạo Loạn (Stampede)’. Cứ thế này, có lẽ sẽ bị áp đảo...)

(不味いね。今のミリムも想像を絶するような力だけど、『狂化暴走(スタンピート)』ほどじゃない。このままじゃ、押し負けそう──)

Chloe lo lắng như vậy, và nỗi lo đó đã trở thành hiện thực.

そう心配するクロエだったが、その不安は的中する。

“Kyaha♪”

「きゃは♪」

Dù đã trưởng thành đến vóc dáng của một phụ nữ trưởng thành, nhưng lời nói và hành động của Ivalage không có gì thay đổi. Với vẻ mặt vui vẻ tận hưởng cuộc chiến, không có một chút bi thương nào, thậm chí còn không thể hiện sự tham lam chiến thắng, cô vẫn tiếp tục cuộc đấu tay đôi với Millim.

成人女性の体格まで成長したイヴァラージェだが、その言動に変化はない。無邪気に戦いを楽しんでいる様子で悲壮感など欠片もなく、勝利への貪欲さすら見せず、ミリムとの殴り合いを続けていた。

“Chiến đấu thật là vui!!”

「戦うのって、オモシロイ!!」

Ban đầu có sự chênh lệch về trình độ, nhưng Ivalage không hề nao núng, không hề sợ hãi, không hề lùi bước dù có bị đánh. Cô luôn tiến lên phía trước và đã bắt đầu đối phó với những đòn tấn công của Millim.

最初こそ技量(レベル)格差があったのだが、イヴァラージェは殴られても怯えず、怯まず、退かず。常に前に出て、ミリムの攻撃に対応し始めていたのだ。

“Hừm... cứ thế này, có cảm giác không ổn đâu.”

「むぅ……このままでは、マズイ気がするのだ」

Millim cũng giống như Chloe, đã cảm nhận được điều đó bằng bản năng.

ミリムもクロエ同様、本能的に察していた。

Millim hiện tại đang mặc một bộ giáp đen tuyền. Cô đã để lộ ra hình dạng thật của một Long ma nhân (Dragonoid), với chiếc sừng màu đỏ thẫm xinh đẹp mọc ra từ trán.

今のミリムは、全身に漆黒の鎧を纏っている。額からは美しい紅色の角が生えた、竜魔人(ドラゴノイド)の真の姿を晒した状態だ。

Tuy nhiên, cô đã không triệu hồi “Thiên Ma (Asura)”. Cô đang chiến đấu tay đôi.

ただし、〝天魔(アスラ)〟は召喚していなかった。素手での殴り合いを行っていた訳だ。

Nếu là một đối thủ bình thường, thì chỉ cần Millim chuyển sang chế độ nghiêm túc là có thể dễ dàng đánh bại. Tuy nhiên, Ivalage dường như không phải là một đối thủ dễ dàng có thể chế ngự chỉ bằng nắm đấm.

通常の相手ならば、ミリムが本気モードになれば余裕で倒せる。ところがイヴァラージェは、拳だけで制圧出来るような生易しい相手ではなかったようだ。

Không, không chỉ vậy...

いや、それどころか──

Tại sao Millim lại không rút kiếm?

ミリムはどうして剣を抜かなかったのか?

Chloe thắc mắc như vậy, nhưng cô đã phần nào đoán ra được lí do.

そう疑問に思ったクロエだが、何となく理由を察している。

Vì Ivalage quá đáng sợ.

イヴァラージェが不気味過ぎるからだ、と。

Tốc độ trưởng thành của Ivalage quá bất thường, nên Millim đã quyết định rằng ngay cả khi sử dụng “Thiên Ma (Asura)”, cũng không chắc có thể tiêu diệt được.

イヴァラージェの成長速度は異常過ぎるので、〝天魔(アスラ)〟を用いても滅せられるか不明──だと、ミリムは判断しているのだ。

Không chỉ vậy.

それだけではなかった。

(Hừm... hình dạng của nó giống ta. Có lẽ nó đã chiếm đoạt cơ thể của mẹ ta...)

(むぅ……ヤツの姿は、ワタシに似ているのだ。恐らくは、ワタシの母上の肉体を奪ったのであろうな……)

Chính vì đã nhận ra điều đó, nên cô đã do dự không muốn chĩa kiếm vào.

そう察していただけに、剣を向けるのが躊躇われたのだった。

Tuy nhiên, bây giờ không còn là lúc để nói những chuyện như vậy nữa.

けれどもう、そんな事を言っている場合ではなかった。

“Không còn cách nào khác. Từ giờ trở đi sẽ là thật đó!”

「仕方ないのだ。ここからは本気なのだぞ!」

Nói rồi, Millim gọi “Thiên Ma (Asura)” ra và vào tư thế.

ミリムはそう言って、〝天魔(アスラ)〟を呼び出し構えたのである。

Thấy vậy, Ivalage vui mừng.

これを見て、イヴァラージェは喜んだ。

“Trò chơi khác sao? Kyaha♪ Vui quá!”

「違う遊び? きゃは♪ 楽しみ!」

Nói rồi, cô cười và suy nghĩ một lúc, rồi Ivalage cũng lấy ra một thứ gì đó.

そう笑い、しばし思案して、イヴァラージェも何かを取り出した。

Đó là một thanh kiếm mảnh mai (rapier) xinh đẹp.

それは、一振りの美しい細剣(レイピア)だった。

Đó là một thanh kiếm có lưỡi trắng, tỏa ra ánh sáng thần thánh, với kích thước phù hợp cho phụ nữ cầm.

女性が持つのに適したサイズ感で、神々しい光を放った白刃の剣である。

Cấp Sáng thế (Genesis)... “Từ Ái (Kama)”... đó là “tên” của thanh kiếm đó.

創世級(ジェネシス)──〝慈愛(カーマ)〟──それが、その剣の〝名前〟であった。

“Đó là...”

「それは……」

Millim vào tư thế.

ミリムは身構える。

Khí tức tỏa ra từ thanh kiếm tương đương với “Thiên Ma (Asura)” của cô.

剣の放つ気配は、自分が持つ〝天魔(アスラ)〟と同等だ。

Nói cách khác, ưu thế về vũ khí đã mất đi.

つまり、武器による優位性は失われたのである。

Chloe hỏi Millim.

クロエがミリムに問いかけた。

“Không sao chứ? Dù tôi nghĩ chỉ có thể làm mồi nhử, nhưng có cần tôi giúp không?”

「大丈夫? 陽動にしかならないと思うけど、加勢しようか?」

Millim từ chối.

ミリムは断る。

“Không, không cần đâu. Ngươi cứ theo kế hoạch, theo dõi đến cuối cùng đi!”

「いや、必要ないのだ。お前は予定通り、最後まで見届けるのだぞ!」

Đó là kế hoạch đã được thống nhất từ đầu.

それが最初に取り交わした作戦だった。

Thời gian ngừng lại là vô ích, nên hoàn toàn không cần thiết.

時間停止は無駄なので、一切不要。

Quyền năng “nhớ lại kí ức tương lai” của Chloe, con át chủ bài... “Bước Nhảy Thời Gian (Time Leap)”, đã được thống nhất là sẽ không được kích hoạt cho đến khi chứng kiến kết cục.

クロエの切り札である〝未来の記憶を思い出す〟という権能──『時間跳躍(タイムリープ)』は、結末を見届けるまで発動させないという事で話は纏まっていた。

Ngay cả Chloe, người luôn ưu tiên hiệu quả, cũng đồng ý với phương án đó.

効率を優先させるクロエとしても、その方針には同意である。

Đối với Chloe, người đã lặp lại vòng luân hồi thời gian như một vĩnh cửu, thời gian để chứng kiến sự thất bại hoàn toàn của Millim không hề đau khổ.

永劫のような時の輪廻を繰り返したクロエにとっては、ミリムが完全敗北するという結末を見届けるまでの時間など苦痛ではないのだ。

Vậy là, Chloe hiện tại chỉ là một người quan sát.

という事で、今のクロエは単なる見届け人に過ぎなかった。

Tuy nhiên, Chloe cũng có một mặt là đang cố gắng phục hồi năng lượng sau khi đã bị kiệt sức khi đối đầu với Millim trong trạng thái “Cuồng Hóa Bạo Loạn (Stampede)”. Chính vì biết điều đó, Millim đã từ chối lời đề nghị của Chloe.

もっとも、クロエは『狂化暴走(スタンピート)』したミリム相手に消耗しきっていたので、この状況で気力の回復に努めているという面もある。それをわかっているから、ミリムもクロエからの申し出を断ったのだった。

Vậy là, một mỹ nữ và một cô gái xinh đẹp với mái tóc hồng bạch kim bay trong gió, cầm kiếm và đối mặt nhau.

そんな訳で、桜金色(プラチナピンク)をなびかせる美女と美少女が、剣を構えて向き合った。

Đòn đầu tiên là của Millim.

初手は、ミリム。

Với ý định hạ gục nhanh gọn, cô đã chém Ivalage.

速撃で仕留めるという意思を込めて、イヴァラージェを斬った。

Không thể đối phó với điều đó, một vết thương lớn đã mở ra từ vai phải đến sườn trái của Ivalage. Thứ phun ra không phải là máu, mà là bóng tối. Một bóng tối đậm đặc đến mức che khuất cả tầm nhìn đã phun ra như máu.

これに対応出来ず、イヴァラージェの右肩口から左脇腹にかけて、大きな傷がバクッと開く。飛び出るのは血潮ではなく、闇だ。濃厚な魔素が視界を埋め尽くすほどの闇となって、血潮の如く噴出したのである。

Tuy nhiên, nó đã nhanh chóng thu lại trong vòng chưa đầy một giây.

しかし、それは一秒もたたずに収束した。

Ma tố đã được hút vào vết thương, và mọi thứ trở lại như cũ.

魔素が傷口へと吸い込まれ、何事もなかったかのように元通りになったのである。

“Kyaha♪ Đau là cảm giác như thế này sao?”

「きゃは♪ 痛みって、こんな感じだったっけ?」

Với vẻ mặt như không hề cảm thấy đau, Ivalage hỏi.

まるで痛みなど感じていない様子で、イヴァラージェが問いかける。

Không có nghĩa vụ phải trả lời, nên Millim không quan tâm và vào tư thế tấn công liên tiếp.

それに答える義務などないので、ミリムは気にせず連続攻撃の態勢に入った。

Kiếm kĩ của Millim dù là tự học, nhưng với khả năng chiến đấu phi thường của mình, trình độ của cô đã vượt qua cả những kiếm sĩ hàng đầu.

ミリムの剣技は我流ではあるが、そのずば抜けた戦闘センスで、超一流の剣士すら凌ぐ技量(レベル)である。

ph_slime23_ill003.jpg

Dù chỉ là một trận đấu kiếm thuật thuần túy, cô cũng đã có thể vượt qua cả vua Gazeru và Hinata, và có thể chiến đấu ngang ngửa với Hakurou.

純粋な剣技だけの勝負でも、ガゼル王やヒナタを上回り、ハクロウと互角に戦えるほどだった。

Tuy nhiên, đó là hệ thống “Cương Kiếm”. Không phải là một kĩ thuật kiếm thuật mềm mại, mà là một kĩ thuật kiếm thuật mạnh mẽ, làm mất thăng bằng của đối thủ và nghiền nát kẻ địch.

ただし、その系統は〝剛の剣〟である。柔らかく相手の剣を受け流すのではなく、力強く弾いて体勢を崩させ、敵を打ち砕く剣技なのだ。

“Lung Lưu” cũng có những kĩ năng kiếm thuật mạnh mẽ, nhưng Millim lại có một phong cách chiến đấu chuyên về nó.

〝朧(おぼろ)流(りゅう)〟にも剛の剣技はあるが、ミリムはそれを特化させたような戦闘スタイルであった。

Đối với Ivalage, tất nhiên là một người nghiệp dư.

対するイヴァラージェは、当然ながら素人だ。

Mọi thứ cô thấy và nghe đều mới mẻ, và cô đang tận hưởng cuộc chiến với Millim.

見るもの聞くものが新鮮で、ミリムとの戦闘を楽しんでいる。

Ngay cả với một đòn vừa nhận, cô cũng không hề cảm thấy ngạc nhiên hay sợ hãi.

今喰らった一撃でも、驚きや恐怖など感じてはいなかった。

Chỉ có sự tò mò, và ngay cả khi mình bị thương, cô còn vui mừng quan sát.

ただただ興味だけがあり、自分が怪我した事すらも、むしろ喜んで観察していたほどだ。

Lí do rất đơn giản.

その理由は簡単だ。

Vì không hề biết đến khái niệm “cái chết”, nên cô không có lí do gì để cảm thấy sợ hãi.

〝死〟という概念すら知らないので、恐怖を感じる理由がなかったのだ。

Trước đó, với Ivalage, mức độ thiệt hại này chỉ như bị muỗi đốt.

それ以前に、この程度のダメージなどイヴァラージェにとっては、蚊に刺された程度の認識だったのである。

“...Khó khăn quá.”

「……厳しいのだ」

“Có vẻ là vậy.”

「そうみたいね」

Millim phàn nàn với vẻ mặt gay gắt, và Chloe cũng gật đầu mạnh mẽ.

ミリムが険しい表情でそう愚痴り、クロエも大きく頷いた。

Không còn cách nào khác ngoài việc thừa nhận rằng đối với một tồn tại bất thường như Ivalage, việc đối phó bằng các phương pháp thông thường là rất khó khăn.

明らかに異常な存在であるイヴァラージェに対しては、通常の方法では対処が困難であると認めるしかない。

Mặc dù vậy, quyền năng của Millim... Kĩ năng Tối thượng『Phẫn Nộ Vương (Satanael)』khó có thể vận hành an toàn, nên kích hoạt đồng nghĩa với việc bạo loạn.

かと言って、ミリムの権能──究極能力(アルティメットスキル)『憤怒之王(サタナエル)』は安全運転が難しいので、発動=暴走となってしまう。

Nghiêm밀 mà nói, nó đang được tăng cường liên tục, nhưng so với khi vận hành toàn bộ quyền năng, hiệu quả của nó có thể nói là rất nhỏ.

厳密には常日頃から強化され続けているのだが、権能を全力稼働させた場合に比べると、その効果は微々たるものだと言えた。

Trên thế giới này, không thể phủ nhận Millim là một trong những người mạnh nhất.

この世界では、ミリムが頂点の一角なのは間違いない。

Vậy mà, đối với Ivalage, cô rõ ràng là yếu thế hơn.

それなのに、イヴァラージェ相手では明白に分が悪かったのだ。

Cuộc đấu kiếm tiếp tục.

剣(けん)戟(げき)は続く。

Cả hai giao kiếm một cách quyết liệt một lúc.

両者、激しく剣を交える事しばし。

Millim dần dần trở nên yếu thế.

ミリムがどんどん劣勢になっていく。

“Không thể tin được. Tên này, ngày càng mạnh lên...”

「信じられないのだ。コヤツ、どんどん強くなっているのだぞ……」

Millim kinh ngạc cũng không có gì lạ.

ミリムが驚愕するのも無理はない。

Khác với lúc Millim “Cuồng Hóa Bạo Loạn (Stampede)”, sức mạnh cơ bản của Ivalage không hề tăng lên. Lượng năng lượng tuyệt đối của nó đã áp đảo đến mức không cần thiết phải như vậy.

ミリムが『狂化暴走(スタンピート)』した時とは違って、イヴァラージェの基礎的な力が増えている訳ではない。そんな必要がないくらいに、エネルギーの絶対量が圧倒的なのだ。

Ivalage đã điều chỉnh sức mạnh của mình để phù hợp với Millim.

イヴァラージェは、ミリムに合わせて力を調整していた。

Có vẻ như nó cũng coi đó là một trò chơi.

それすらも遊びなのだと、そう考えているようだ。

Hiểu được điều đó, Millim cũng đã trở nên sốt ruột.

それを理解して、ミリムも焦ってしまったのである。

Kết quả là, thanh kiếm đã bị đánh bật.

その結果、剣が弾かれた。

“...!?”

「──ッ!?」

“Kyaha♪”

「きゃは♪」

Đối với Millim tay không, Ivalage vung “Từ Ái (Kama)”.

素手になったミリムに向けて、イヴァラージェが〝慈愛(カーマ)〟を振り下ろした。

Tình thế tuyệt vọng, nhưng Chloe đã xen vào.

絶体絶命だったが、そこにクロエが割り込む。

“Không cho phép!”

「させない!」

Chloe đã khéo léo đánh bật thanh kiếm của Ivalage.

クロエは巧みに、イヴァラージェの剣を弾いた。

Không có sự kháng cự.

抵抗はなかった。

“...Hả?”

「──えっ?」

Người bị bất ngờ chính là Chloe.

虚を衝(つ)かれたのは、クロエだ。

Ivalage đã tự mình buông kiếm.

イヴァラージェは、自ら剣を手放したのだ。

Chloe đã chặn thanh kiếm và đánh bật nó lên. Ngược lại, Ivalage, nhờ không bị ràng buộc bởi thanh kiếm, đã có hai tay tự do.

クロエは剣を受け止め、跳ね上げた状態である。それに対してイヴァラージェは、剣に拘(こだわ)らなかったお陰で両手が自由になっていた。

Và rồi, một loạt đòn tấn công bắt đầu.

そして始まるのはラッシュだ。

Cả hai nắm đấm của Ivalage đã được tung vào Chloe, người đã để lộ sơ hở.

イヴァラージェの左右の拳が、隙が生じたクロエに叩き込まれていく。

“Kyahahahahahah...!!”

「きゃはははははははっ──ッ!!」

Chịu một tổn thương đến mức mất đi năng lực chiến đấu trong chốc lát, Chloe bị thổi bay đi.

一瞬にして戦闘能力を奪われるほどのダメージを負って、クロエは吹き飛ばされた。

(Chậc, không thể tin được. ‘Mất đi vũ khí trên chiến trường đồng nghĩa với cái chết’ dường như là một quan niệm sai lầm của tôi...)

(クッ、信じられないね。戦場で『武器を失うのは死を意味する』というのは、私の思い込みだったみたい……)

Không, suy nghĩ của Chloe không sai, chỉ là Ivalage không tuân theo lẽ thường.

いや、クロエの考えは間違ってはいないのだが、イヴァラージェに常識が通用しなかっただけだ。

Đối với một Ivalage không bị ràng buộc bởi các quy tắc chiến đấu, cần phải dự đoán tất cả các khả năng.

戦い方の枠に囚われないイヴァラージェが相手では、全ての可能性を想定しなければならないのだった。

Chloe, người đã mất khả năng di chuyển, đã do dự không biết có nên kích hoạt “Bước Nhảy Thời Gian (Time Leap)” hay không.

動けなくなったクロエは、『時間跳躍(タイムリープ)』を発動させるかどうか迷った。

Nhưng vào khoảnh khắc đó, cô đã bắt gặp ánh mắt của Millim.

だがその瞬間、ミリムと目が合ったのだ。

Millim vẫn chưa từ bỏ. Cô đã lao vào Ivalage đang lao đến Chloe, và lại một lần nữa lao vào một trận chiến đấu cận chiến.

ミリムはまだ諦めていない。クロエに迫るイヴァラージェに飛び掛かり、またも格闘戦にもつれ込んだのである。

(Đúng vậy nhỉ. Vẫn chưa bị thương đến mức chết, nên mình sẽ đi cùng đến cuối cùng.)

(そうだね。まだ死ぬような怪我じゃないし、最後まで付き合うよ)

Chloe cũng đã nghĩ lại như vậy, và đã vịn vào thanh kiếm để đứng dậy.

クロエもそう思い直し、剣を支えに身を起こしたのだった。

Nhờ có Millim, không có thêm viện quân của Ảo thú (Cryptid).

ミリムのお陰で、幻獣族(クリプテッド)の増援はない。

Những lực lượng còn lại, các anh hùng đang đối phó.

残存戦力は、英雄達が相手をしている。

Dù là một quân đoàn đáng sợ, với cá thể yếu nhất cũng tương đương với “Hạt giống Ma vương”, nhưng may mắn là chúng gần như không phối hợp với nhau. Nhờ sự suy yếu của “Kết Giới Thánh Tịnh Hóa (Holy Field)”, chiến thuật tiêu diệt từng tên đã giúp ổn định tình hình chiến sự.

最弱個体でも〝魔王種〟に相当するような恐るべき軍団なのだが、ほぼ連携していないのが幸いした。〝聖浄化結界(ホーリーフィールド)〟による恩恵で弱体化もしているので、各個撃破する戦術で戦況は安定している。

Obela, một chuyên gia về Ảo thú (Cryptid), đã hợp tác với Benimaru và cung cấp thông tin, giúp cho chiến thuật trở nên tinh vi hơn.

対幻獣族(クリプテッド)の専門家であるオベーラがベニマルに協力して情報提供をした事で、より戦術が洗練されていた。

Bản thân Obela, phớt lờ sự hao mòn về tinh thần và thể chất, đã đi đầu trong việc chỉ huy.

オベーラ自身、気力・体力の消耗など無視して、率先して指揮を行っている。

Nhờ vậy, đã có một bầu không khí có thể giành chiến thắng.

その甲斐もあって、このまま勝利を掴めそうな雰囲気になっていた。

“Có sự hồi phục của Luminous, liệu có thể thắng được không?”

「ルミナスの回復もあるのだし、このまま勝てそうかしら?」

“Không, vẫn không nên chủ quan. Vì kẻ cầm đầu của địch đã được giao cho Millim-sama. Tùy thuộc vào kết quả của trận chiến đó, có nguy cơ mọi thứ sẽ bị đảo ngược.”

「いや、まだ油断しない方がいい。敵さんの親玉を、ミリム様に任せっきりだからな。その勝敗次第では、全てひっくり返される恐れがある」

Benimaru đã bác bỏ lời nói của Hinata, người đã cảm nhận được sự ưu thế, như một lời răn đe.

優勢になったのを感じ取ったヒナタの発言を、ベニマルが諫めるように否定した。

Chiến tranh, cho đến tận phút cuối cùng mới biết được... Benimaru đã khắc ghi điều đó trong lòng.

戦いとは、最後の最後になるまでわからないものである──と、ベニマルは心に刻んでいるのである。

Dù tình hình chắc chắn sẽ chiến thắng, nhưng sự tự mãn sẽ dẫn đến sự lơ là.

状況的には勝利間違いなしでも、慢心は油断に繋がるものなのだ。

Hinata cũng đồng ý với ý kiến này.

ヒナタも、この意見に納得する。

“Đúng là vậy. Nghe tin Rimuru trở về, tôi cũng đã có chút lơ là.”

「それもそうね。リムルの帰還を聞いて、私も気が緩んでいたみたい」

Cô tự trách mình và lại một lần nữa tập trung.

そう自分を恥じて、もう一度気を引き締めた。

Dù vậy, đã có báo cáo về việc thành công trong việc tiêu diệt những kẻ chỉ huy của Ảo thú (Cryptid). Nếu cứ theo đà này và đánh bại kẻ địch cuối cùng, đó sẽ là chiến thắng của nhân loại.

それでも、幻獣族(クリプテッド)を統べる者共の討伐に成功した、との報告があった。このままの勢いで最後の敵を倒せば、人類の勝利となるのだ。

Hinata thở phào nhẹ nhõm cũng không có gì lạ.

ヒナタがホッと息を抜いたのも、無理のない話であった.

Giống như Hinata, đối với hầu hết mọi người, có rất nhiều tin tức tốt. Họ vui mừng vì điều đó, và đã奮 đấu để kết thúc cuộc chiến...

ヒナタがそうであったように、大半の者達にとって明るいニュースに溢れている。これに沸き立ち、このまま戦を終わらせようと奮起して──

“Thiên Thông Các” đã rung chuyển bởi một chấn động lớn nhất trong ngày hôm nay.

〝天通閣〟が、本日最大規模の衝撃に震えた。

Trong đám bụi cát cuồn cuộn, có một bóng người đang từ từ bước ra.

巻き上がった砂埃の中、ゆっくりと歩み出る人影がある。

Ai cũng cố gắng xác định danh tính của người đó, nhưng bản năng đã mách bảo.

誰もがその正体を見極めようとするが、本能的に悟っていた。

Một cơn ớn lạnh dữ dội và một linh cảm tồi tệ nhất.

猛烈な悪寒と、最悪の予感。

Nó đã đúng.

それは当たっていた。

“Kyaha♪”

「きゃは♪」

Thứ đầu tiên nhìn thấy là mái tóc màu hồng bạch kim, nhưng nó không phải là kiểu tóc hai bên mà là kiểu tóc thẳng xõa tung bay trong gió.

最初に見えたのは桜金色(プラチナピンク)の髪の毛だが、それはツインテールではなく風に吹かれて広がるようなストレートだ。

Dáng vẻ đó, giống như phiên bản trưởng thành của Millim, là hình dạng người hóa mà “Diệt Giới Long” Ivalage đã có được.

ミリムを大人にしたようなその姿は、〝滅(めっ)界(かい)竜(りゅう)〟イヴァラージェが得た人化形態だった。

“...Quả nhiên, không thể kết thúc một cách dễ dàng như vậy được nhỉ.”

「……やはり、すんなりとは終わらなかったわね」

Hinata lẩm bẩm.

と、ヒナタが呟く。

Luminous, người đã đáp xuống bên cạnh cô, chửi thề một cách căm ghét.

その隣に舞い降りたルミナスが、忌々しそうに吐き捨てた。

“Millim vẫn còn sống, nhưng có vẻ đã kiệt sức lắm rồi. Thiệt hại đó... dù có chữa lành vết thương, thì ma pháp của thiếp cũng không thể chữa lành được...”

「ミリムは生きておるが、かなり消耗しておるようじゃ。あのダメージは……怪我はともかく、妾(わらわ)の魔法でも癒せぬぞ……」

Đúng là vậy, không chỉ Hinata mà tất cả những người có thể nắm bắt tình hình đều nghĩ vậy.

そうだろうなと、ヒナタだけではなく状況を把握出来る者達皆が思った。

Millim đang sắp kiệt sức năng lượng và sắp ngất đi, nên nếu không bổ sung cho cô, sẽ không có sự hồi phục nào.

ミリムはエネルギーが枯渇しかけていて気絶寸前になっているので、これを補給してあげない限り、復活はないのだ。

Và vấn đề là, không có một phương pháp bổ sung nào có thể đáp ứng được lượng ma tố (năng lượng) khổng lồ của Millim.

そして問題なのが、ミリムほどの魔素(エネルギー)量を誇る者を満たせるような補給方法など存在しない、という点だった。

Nói cách khác, Millim đã rút khỏi chiến tuyến vào thời điểm hiện tại.

つまり、ミリムは現時点で戦線離脱という事になる。

Hơn nữa, không thấy bóng dáng của Chloe, và sống chết không rõ.

それに、クロエの姿は見当たらず、生死不明であった。

“Vậy thì, đến lượt ta rồi!”

「ならば、我の出番だな!」

Verudora, người đã đánh bại Kakeashi, đã cảm nhận được khí tức và quay trở lại phía đông.

カケアシを倒したヴェルドラが、気配を察知して東方面まで戻って来ていた。

Anh ta rất tự tin khi đối mặt với Ivalage, kẻ đã đánh bại Millim, nhưng Benimaru lại không thể nào cho phép.

ミリムを倒したイヴァラージェ相手に自信満々だが、流石に許可を出せないベニマルである。

“Xin chờ đã, Verudora-sama. Nếu Millim-sama đã thất bại, thì tôi không nghĩ đó là một đối thủ có thể đối đầu một chọi một đâu.”

「お待ちを、ヴェルドラ様。ミリム様が敗北したとなると、一対一で挑む相手ではないと思いますよ」

“Hừm. Vậy không phải là hèn hạ sao?”

「ふむん。それは卑怯ではないか?」

“Không, không phải vậy. Thắng là chính nghĩa.”

「いえ、違いますね。勝てば正義です」

Benimaru khẳng định.

ベニマルは言い切った。

Đã khẳng định.

断言した。

Đúng vậy. Đây không phải là một cuộc cãi vã, mà là một cuộc chiến tranh.

そう。これは喧嘩などではなく、戦争なのだ。

Đó là một cuộc chiến đặt cược vào sự tồn vong của nhân loại.

それも、人類の存亡を賭けた戦なのである。

Nếu thua, tất cả sẽ kết thúc, nên không phải là lúc để lựa chọn phương pháp.

負けたら全て終わりなのだから、手段を選んでいる場合ではない。

Để tận dụng hiệu quả thời gian mà Millim đã câu được, việc sử dụng toàn bộ lực lượng còn lại để tấn công đồng loạt là phương án đúng đắn.

ミリムが稼いでくれた時間を有効活用する為にも、残る戦力で一斉に仕掛けるのが正解なのだ。

“Đúng vậy đó, Verudora-sama. Nếu có người hi sinh, Rimuru-sama sẽ buồn lắm đó.”

「そうですわよ、ヴェルドラ様。犠牲者が出たら、リムル様が悲しまれますもの」

Testarossa cũng đồng ý với ý kiến của Benimaru.

と、テスタロッサもベニマルの意見に同意する。

Việc ưu tiên giải cứu Millim nên được đặt lên hàng đầu, và sau đó kết thúc bằng cách đánh bại Ivalage. Đó là ý kiến của Testarossa.

ミリム救出を優先させるべきであり、その後にイヴァラージェを倒して終了となる。それが、テスタロッサの意見だった。

Hinata cũng gần như đồng ý với điều này. Sau khi vừa mới thề sẽ không chủ quan, cô đã cảnh giác rằng nên cẩn thận để không mắc sai lầm vào phút cuối.

ヒナタも、概ねこれに同意。油断しないと誓ったばかりであり、最後にヘマをしないように注意すべきだと警戒していた。

Verugrynd nói.

ヴェルグリンドが言う。

“Vốn dĩ, ta đã suýt chết vì một đòn của Ivalage rồi đó? Dù ngươi có ngu ngốc xông vào một mình, ta cũng không nghĩ ngươi có thể thắng được đâu.”

「そもそも、イヴァラージェの一撃で私は死にかけたのよ? お馬鹿さんなお前が一人で突っ込んでも、勝てるとは思えないわね」

Dù đã phục hồi khá nhiều sau khi hợp nhất với các “cơ thể khác” của mình, nhưng Verugrynd vẫn chưa ở trong trạng thái tốt nhất. Với tư cách là người đã trải nghiệm sự nguy hiểm của Ivalage, lời khuyên của cô dành cho em trai rất nghiêm khắc.

他の『別(べつ)身(しん)体(たい)』を統合して大分回復したとはいえ、まだ本調子ではないヴェルグリンドである。イヴァラージェのヤバさをその身で体験した者として、弟への忠告は手厳しかった。

Ở đây, Luminous cũng hùa theo.

ここで、ルミナスも乗っかる。

“Đối với thiếp, nếu Verudora gặp chuyện xui xẻo thì cũng tốt thôi. Mà, vì mất đi một lực lượng chiến đấu quý giá là một sách lược ngu ngốc, nên thiếp cũng sẽ đưa ra một lời khuyên là ‘nên dừng lại’.”

「妾(わらわ)としては、ヴェルドラが痛い目にあえばよいと考えておるがの。ま、貴重な戦力を失うのは愚策故、『止めておけ』という忠告の一つくらいはくれてやろうぞ」

Nàng còn cay nghiệt hơn cả Verugrynd.

と、ヴェルグリンド以上に辛辣だった。

Verudora gầm gừ trước điều này, nhưng lại đồng ý.

これに唸るヴェルドラだが、納得はしている。

Bởi vì chính anh ta cũng có chút lo lắng rằng “có lẽ sẽ thua?”.

自分でもちょっぴり、『もしかしたら負けちゃうかも?』などと心配していたからである。

“Nếu đã như vậy, thì việc hợp sức với mọi người cũng không có gì đáng tiếc!”

「そういう事ならば、皆で力を合わせるのもやぶさかではないな!」

Verudora vui vẻ kết luận.

ヴェルドラが明るくそう纏めた。

Mọi người gật đầu đồng ý.

これに頷く一同。

Callion và những người khác đang lắng nghe cũng không phản đối.

話を聞いていたカリオン達も、反対はしない。

“Chậc, với một con quái vật như vậy thì không thể nào nói này nói nọ được.”

「チッ、あんなバケモン相手じゃ、四の五の言ってられねーしな」

“Đúng vậy. Trước tiên phải thắng, nếu không thì không có gì cả.”

「そうね。先ずは勝たなければ、その先はないのだもの」

“Việc giải cứu Millim-sama, cứ để cho ta!”

「ミリム様の救出は、オレに任せな!」

“Tôi cũng sẽ hợp tác!”

「私も協力するわよ!」

Callion và Frey đã nói lên ý kiến của mình như vậy.

という感じにカリオンとフレイが、各々の意見を述べたのだった。

Tiếp nhận điều đó, Benimaru đã lập kế hoạch.

これを受け、ベニマルが作戦を立てる。

Theo đó, cuộc chiến chinh phục “Diệt Giới Long” Ivalage sắp bắt đầu...

それに応じるような形で、〝滅(めっ)界(かい)竜(りゅう)〟イヴァラージェ攻略戦が開始されようとしたのだが……。

Chương giữa: Tái lâm

幕間 再臨

ディーノ達一行は戦場の上空に辿り着き、ミリムの敗北を知った。

Nhóm của Dino đã đến được không phận chiến trường và biết được thất bại của Millim.

ディーノはキレそうになりつつも我慢して、ベニマルの指揮下に入ろうとしたのだが……。

Dù sắp nổi điên, Dino vẫn cố gắng kiềm chế và định nhập vào hàng ngũ dưới sự chỉ huy của Benimaru, nhưng...

そこに、フェルドウェイが追いかけて来た。

Đúng lúc đó, Feldway đã đuổi theo họ.

「待て」

"Đợi đã".

「何だよ、邪魔するつもりか?」

"Gì thế, định cản đường à?"

「アンタさあ、こっちは忙しいんだよ」

"Này ông, bên này đang bận lắm đấy".

「空気読め」

"Biết điều chút đi".

フェルドウェイに対し、ディーノ達の反応は冷たい。

Phản ứng của nhóm Dino đối với Feldway rất lạnh lùng.

うっとうしいという感情を隠しもせず、嫌そうにしていた。

Họ không hề che giấu cảm xúc phiền phức, tỏ vẻ khó chịu ra mặt.

しかし、フェルドウェイは気にしない。

Thế nhưng, Feldway không hề bận tâm.

他人の感情や考えに忖度しないのが、フェルドウェイの欠点であり、美点でもあるのだ。

Việc không đếm xỉa đến cảm xúc hay suy nghĩ của người khác vừa là khuyết điểm, lại vừa là ưu điểm của Feldway.

「質問に答えろ。ヴェルダナーヴァ様は、この状況を望んでいたのだと思うか?」

"Hãy trả lời câu hỏi của ta. Ngươi có nghĩ rằng ngài Verudanava mong muốn tình cảnh này không?"

「はあ?」

"Hả?"

「私は、彼(か)の御方がこの世界を愛しているのだと考えていた。だからこそ、この世界に悪意を向ければ、それを阻止すべく復活して下さるだろうと期待していたのだ」

"Ta đã nghĩ rằng ngài ấy yêu thế giới này. Chính vì thế, ta đã mong đợi rằng nếu có ác ý nhắm vào thế giới này, ngài ấy sẽ hồi sinh để ngăn chặn nó".

唐突に自分語りを始めたフェルドウェイに、ディーノ達は戸惑うばかりだ。

Trước việc Feldway đột ngột bắt đầu kể lể về bản thân, nhóm Dino chỉ biết bối rối.

ミリム救出に動きたいのに、とんでもない邪魔者である。

Họ muốn hành động để giải cứu Millim, ấy thế mà lại gặp phải một kẻ ngáng đường phiền phức.

一応、『思念伝達』によるネットワーク会話に切り替えているので、時間経過はそこまで気にしなくていい。

Vì họ đã chuyển sang nói chuyện qua mạng lưới bằng "Truyền Đạt Tư Niệm" nên không cần phải quá lo lắng về việc thời gian trôi qua.

だがそれでも、気分的には水を差されたようなものであり、その話は今じゃなくてもいいだろ、という気分になるディーノ達であった。

Nhưng dẫu vậy, tâm trạng của họ vẫn như bị dội một gáo nước lạnh, và nhóm Dino cảm thấy rằng câu chuyện đó không nhất thiết phải nói vào lúc này.

そんな不満からか、ピコが思わず言い返してしまった。

Có lẽ vì sự bất mãn đó, Pico đã buột miệng đáp trả.

「もしも復活しなかったら、アンタはどうする気だったのさ?」

"Nếu ngài ấy không hồi sinh thì ông định làm gì?"

この問いに対し、フェルドウェイはやれれという感じに反応した。

Trước câu hỏi này, Feldway phản ứng với vẻ mặt "thật là hết cách".

「まだ肝心な問いを発していないのだが、先に答えてやろう。無論、世界を再構築して、今度は私が完璧に管理する理想社会を築く予定だったさ」

"Ta vẫn chưa hỏi câu chính, nhưng cứ trả lời trước cho ngươi vậy. Dĩ nhiên, ta đã định sẽ tái cấu trúc thế giới và lần này sẽ xây dựng một xã hội lí tưởng do ta quản lí một cách hoàn hảo".

最初から私に世界の運営を任せて下さっていれば、あのような悲劇は起こらなかったのだ──と、フェルドウェイは語る。

Feldway nói rằng, nếu ngay từ đầu ngài ấy giao cho ta việc vận hành thế giới, thì bi kịch như vậy đã không xảy ra.

そして、結論を述べた。

Và rồi, hắn đưa ra kết luận.

「全てを初期化した上で私が理想郷を作り上げて、あの御方を待つつもりなのさ」

"Sau khi khởi tạo lại tất cả, ta sẽ tạo ra một thế giới lí tưởng và chờ đợi ngài ấy".

ある意味、ブレない思想である。

Theo một nghĩa nào đó, đó là một tư tưởng không hề lung lay.

ディーノ達にとっては予想通りだったので、何も言う事はない。

Đối với nhóm Dino, điều này đã nằm trong dự đoán của họ, nên họ chẳng có gì để nói.

嫌味のつもりだったピコも、妄想に近い理想を聞かされて呆れるばかりだ。

Ngay cả Pico, người định nói lời mỉa mai, cũng chỉ biết cạn lời khi nghe những lí tưởng gần như là ảo tưởng.

「ふーん……そうなんだね」

"Hừm... ra là vậy nhỉ".

と、ピコが仕方なく相槌を打つと、これからが本番だとばかりにフェルドウェイの独壇場が再開した。

Khi Pico đành phải gật đầu cho qua chuyện, Feldway lại tiếp tục màn độc diễn của mình như thể bây giờ mới là phần chính.

「質問の本題に入るとしよう」

"Giờ vào câu hỏi chính đây".

「お、おう」

"Ồ, ờm".

「ヴェルダナーヴァ様が復活されていたならば、この状況を止めようとなさるはず。しかし、現状はそうなっていない。その意図するところは、この状況こそが彼の御方の望み通りなのか、それとも何か他に理由があるのか、貴様達はどう思う?」

"Nếu ngài Verudanava đã hồi sinh, ngài ấy chắc chắn sẽ cố gắng ngăn chặn tình hình này. Tuy nhiên, hiện tại lại không phải như vậy. Ý đồ đằng sau việc này là gì, liệu tình hình này có đúng như mong muốn của ngài ấy không, hay còn lí do nào khác, các ngươi nghĩ sao?"

「知らねーよ」

"Ai mà biết được".

「──って言うかさ、『ヴェルダナーヴァ様が復活していたら』という仮定の話を持ち出す意味がわからない。その話は、さっき終わったよね?」

"...Mà này, tôi không hiểu ý nghĩa của việc đưa ra một giả định 'nếu ngài Verudanava đã hồi sinh' là gì. Chẳng phải chuyện đó đã kết thúc rồi sao?"

「ピコの言う通りだね。聖遺骸はイヴァラージェに喰われたって結論が出ただろ? 実際、今のヤツはルシア様の御姿になっているんだし、ヴェルダナーヴァ様の聖遺骸だって、ヤツの腹の中にあるはずさ」

"Pico nói đúng đấy. Chẳng phải đã kết luận rằng Thánh di hài đã bị Ivalage nuốt chửng rồi sao? Thực tế, tên đó bây giờ đang mang hình dạng của ngài Lucia, và Thánh di hài của ngài Verudanava chắc chắn cũng nằm trong bụng hắn ta".

「ま、そういうこった。俺達はミリムを救出して、イヴァラージェを倒さなきゃなんねーんだ。ま、リムルさんが来るまで頑張れば、後は何とかしてくれそうだしな」

"À, thì là vậy đó. Bọn ta phải giải cứu Millim và đánh bại Ivalage. Mà, chỉ cần cố gắng cầm cự cho đến khi anh Rimuru đến, thì sau đó anh ấy sẽ lo liệu được mọi chuyện thôi".

「それまでに頑張ってる姿を見せつけて、好感度をアップさせとくんでしょ?」

"Đến lúc đó, chúng ta sẽ thể hiện sự cố gắng của mình để tăng độ hảo cảm, phải không?"

「抜け目ないよな、ディーノって」

"Đúng là không có kẽ hở nào nhỉ, Dino".

「うるせーっての! お前らだって、この俺の口利きで無職になるか生涯安泰かが決まる瀬戸際なんだぞ! ちゃんと協力しやがれっての!」

"Im hết đi! Tụi bây cũng biết là chỉ cần một lời của ta thôi là có thể quyết định tụi bây thất nghiệp hay an nhàn cả đời rồi đấy! Hợp tác cho đàng hoàng vào!"

「わかってるって」

"Biết rồi mà".

「任せなよ!」

"Cứ để đó cho tôi!"

今度こそ、ディーノ達は会話を打ち切るつもりだった。

Lần này, nhóm của Dino thực sự định chấm dứt cuộc trò chuyện.

ところが、フェルドウェイは尚も食い下がったのだ。

Thế nhưng, Feldway vẫn tiếp tục bám riết.

「ふざけている場合ではない! いいか、これは真面目な質問だ。ヴェルダナーヴァ様がこの状況を望んでいるのだとすれば、貴様達はどうするつもりだ? 彼の御方に創造された〝始原の七天使〟として、我らはどう動くのが正解なのだ──ッ!?」

"Đây không phải lúc để đùa cợt! Nghe đây, đây là một câu hỏi nghiêm túc. Nếu như ngài Verudanava mong muốn tình cảnh này, các ngươi định sẽ làm gì? Với tư cách là "Thất Thiên sứ Nguyên thủy" được chính tay ngài ấy tạo ra, chúng ta phải hành động như thế nào mới là đúng đắn chứ...!?"

その問いは、フェルドウェイの心からの苦悩を露わにしていた。

Câu hỏi đó đã bộc lộ nỗi thống khổ từ tận đáy lòng của Feldway.

本気で聞いているんだなと、ディーノ達も態度を改める。

Nhận ra rằng hắn đang hỏi một cách nghiêm túc, nhóm Dino cũng thay đổi thái độ.

それと同時に、ディーノはやれれと思った。

Cùng lúc đó, Dino nghĩ "thật là hết cách".

「お前も、ヴェルダナーヴァ様が復活しているんじゃないかと疑ったんだな?」

"Ngươi cũng đã nghi ngờ rằng ngài Verudanava có lẽ đã hồi sinh rồi, đúng không?"

「やはり……貴様もまだ疑っているのか、ディーノ?」

"Quả nhiên... ngươi cũng vẫn còn nghi ngờ sao, Dino?"

フェルドウェイが、納得の表情を浮かべた。

Feldway lộ vẻ mặt thấu hiểu.

フェルドウェイが疑念を抱いたのは、ディーノの発言がきっかけだった。その事からも、ディーノもまだ疑っているはずだと想定していたのである。

Feldway nảy sinh nghi ngờ là do lời nói của Dino. Từ đó, hắn đã đoán rằng Dino chắc chắn cũng vẫn còn nghi ngờ.

〝始原の七天使〟内では、一番勘がいいのがディーノだった。

Trong số "Thất Thiên sứ Nguyên thủy", người có trực giác tốt nhất chính là Dino.

そんなディーノの直感は、無視出来るものではなかったのだ。

Trực giác của một người như Dino không thể nào xem nhẹ được.

「まあよ、ヴェルダナーヴァ様が既に復活してるんじゃないか、ってのは疑ってるさ。現に、イヴァラージェの姿はルシア様のものだ。聖遺骸が盗まれたのだとしたら、ヴェルダナーヴァ様の姿になっていても不思議じゃなかったはずさ」

"À thì, ta vẫn nghi ngờ rằng ngài Verudanava có thể đã hồi sinh rồi. Thực tế, Ivalage đang mang hình dạng của ngài Lucia. Nếu Thánh di hài đã bị đánh cắp, thì việc nó mang hình dạng của ngài Verudanava cũng không có gì là lạ cả".

そう説明するディーノに、納得いかないのはピコとガラシャである。

Nghe Dino giải thích như vậy, Pico và Garasha vẫn không thấy thuyết phục.

「でもさ、御二方とも呑み込んでたんだとしたら、確率は二分の一だよね?」

"Nhưng mà, nếu nó đã nuốt chửng cả hai ngài, thì xác suất là một phần hai, đúng không?"

「だな。確定させるには、根拠が弱い」

"Đúng vậy. Để khẳng định thì bằng chứng quá yếu".

そんなふうに、否定的な意見を口にする。

Họ đưa ra những ý kiến phủ định như vậy.

そもそも、生前の姿を真似るかどうかもイヴァラージェ次第だった訳で、ルシアの姿で確定した今も、それで終わりという保証はない。ここからヴェルダナーヴァの姿に変化するという可能性だって、まだ十分に残されているのである。

Vốn dĩ, việc có bắt chước hình dạng lúc còn sống hay không cũng tùy thuộc vào Ivalage, và ngay cả khi hình dạng của Lucia đã được xác định, cũng không có gì đảm bảo rằng mọi chuyện sẽ kết thúc ở đó. Khả năng nó sẽ biến đổi thành hình dạng của Verudanava từ đây vẫn còn rất lớn.

そんな二人の考えは、実に真っ当なものだった。

Suy nghĩ của hai người họ quả thực rất hợp lí.

ディーノとしても、確証がないから黙っていたのだ。

Về phần Dino, anh cũng im lặng vì không có bằng chứng chắc chắn.

「まあな」

"Thì cũng đúng".

そう応じるしかなかった。

Anh chỉ có thể đáp lại như vậy.

外れていて欲しい、というのが本音。だからこそ余計に、その疑念に見て見ぬふりをしていたのだった。

Mong muốn nó không phải là sự thật, đó mới là lòng anh. Chính vì vậy, anh càng cố gắng lờ đi sự nghi ngờ đó.

フェルドウェイとしても、ディーノと似たような心境になっていた。

Về phần Feldway, hắn cũng có tâm trạng tương tự như Dino.

自分が今までしてきた事も、心からの本当の願いも、それが現実ならば無駄になってしまうからだ。

Bởi vì nếu đó là sự thật, thì tất cả những gì hắn đã làm từ trước đến nay, cả những mong ước từ tận đáy lòng, đều sẽ trở nên vô nghĩa.

それはフェルドウェイにとって、認めたくない〝真実〟になってしまうのである。

Đối với Feldway, đó sẽ trở thành một "sự thật" mà hắn không muốn thừa nhận.

それは嫌だ──と、フェルドウェイは思った。

Thật không muốn chút nào... Feldway nghĩ vậy.

(──何故、どうして私は嫌だと感じたのだ? それが神の望みならば、盲目的に従うべきではないのか……?)

(...Tại sao, tại sao ta lại cảm thấy không muốn? Nếu đó là mong muốn của Thần, chẳng phải ta nên mù quáng tuân theo hay sao...?)

それこそが、あるべき臣下としての姿。

Đó mới chính là hình ảnh của một bề tôi đúng nghĩa.

フェルドウェイが考える、理想の主従関係である。

Là mối quan hệ chủ tớ lí tưởng mà Feldway hằng nghĩ tới.

だが、しかし。

Nhưng, tuy nhiên.

そうなると、『フェルドウェイが愛した神は、もうどこにも存在していない』という事になる訳で……。

Nếu vậy, điều đó có nghĩa là 'vị Thần mà Feldway yêu thương đã không còn tồn tại ở bất cứ đâu nữa'...

(ああ……そうか、そうだったのか。私は、私が愛したあの御方が復活するのを望んでいたのだ)

(A... ra vậy, là thế sao. Ta đã luôn mong chờ sự hồi sinh của chính ngài ấy, người mà ta hằng yêu kính).

フェルドウェイはようやく、自分自身の過ちに気付いた。

Cuối cùng, Feldway cũng nhận ra sai lầm của chính mình.

妄執に囚われて、心からの願いを見誤り、暴走を続けてしまっていたのだ、と。

Rằng hắn đã bị ám ảnh giam cầm, nhìn lầm mong ước từ tận đáy lòng, và cứ thế tiếp tục con đường bạo loạn.

自分が生み出した全ての生命体を愛し、尊重し、その自由意思を、多様性を認める存在──それこそが、フェルドウェイが憧れたヴェルダナーヴァだった。

Một tồn tại yêu thương, tôn trọng tất cả các sinh vật mà ngài đã tạo ra, công nhận ý chí tự do và sự đa dạng của chúng... đó mới chính là Verudanava mà Feldway ngưỡng mộ.

世界の破滅を願う者を止めもせず、ただ傍観するような存在とは断じて違う。

Ngài ấy hoàn toàn khác với một tồn tại chỉ đứng nhìn mà không ngăn cản những kẻ mong muốn hủy diệt thế giới.

であるならば、もしも現時点でヴェルダナーヴァが復活しているのだとしても、それは『フェルドウェイが待ち望んでいた創造主とは違うのだ』と断言出来た。

Nếu vậy, cho dù Verudanava có hồi sinh vào thời điểm này, hắn cũng có thể khẳng định rằng 'đó không phải là Đấng Sáng Tạo mà Feldway hằng mong đợi'.

「ディーノよ、お前はヴェルダナーヴァ様が復活なさっていたのだとしても、素直に従うつもりはないのだな?」

"Dino, cho dù ngài Verudanava đã hồi sinh, ngươi cũng không có ý định ngoan ngoãn tuân theo, đúng không?"

「フッ、仮定の話ね。ま、その通りだけど、お前も吹っ切れた様子だな」

"Hừ, chỉ là giả định thôi. Mà, đúng là vậy, nhưng trông ngươi cũng đã thông suốt rồi nhỉ".

「……否定はしない」

"...Ta không phủ nhận".

自分の浅はかさを自覚してしまったフェルドウェイだったが、だからと言って、ここでヴェルダナーヴァに弓を引けるのかと問われれば、即答するのは難しかった。

Dù đã nhận ra sự nông cạn của bản thân, nhưng nếu được hỏi liệu có thể chĩa mũi giáo vào Verudanava ngay tại đây không, Feldway khó có thể trả lời ngay lập tức.

先ずは見極めるのが先決だ。思い込みで行動するのではなく、今度こそは思慮深く、相手の行動理由にまで思いを馳せるべきであった。

Trước hết, việc quan sát và đánh giá là quan trọng nhất. Không nên hành động theo suy nghĩ chủ quan, mà lần này, hắn phải suy nghĩ một cách thấu đáo, cân nhắc cả lí do hành động của đối phương.

自分の考えを押し付けたり、強要したりする事こそ、潤滑なコミュニケーションを阻害する最大の要因となる。これを自覚して初めて、他者を尊重出来るようになるのだ。

Việc áp đặt suy nghĩ của mình hay ép buộc người khác chính là yếu tố lớn nhất cản trở giao tiếp suôn sẻ. Chỉ khi nhận thức được điều này, người ta mới có thể tôn trọng người khác.

フェルドウェイはようやく、その基本的な考え方に思い至ったのだった。

Cuối cùng, Feldway cũng đã hiểu ra được suy nghĩ cơ bản đó.

謝罪こそまだだったが、フェルドウェイはディーノ達と和解しようと考えていた。

Dù vẫn chưa xin lỗi, nhưng Feldway đã nghĩ đến việc hòa giải với nhóm của Dino.

ディーノは、フェルドウェイが先に裏切ったのだと言った。

Dino đã nói rằng Feldway là người phản bội trước.

今ならば、その言葉が正しいと理解出来るフェルドウェイである。

Bây giờ, Feldway có thể hiểu rằng những lời đó là đúng.

少なくとも、ディーノ達の自由意思を奪うような真似をしたのは、どう言い訳しても許されない大罪だった。

Ít nhất, hành động tước đoạt ý chí tự do của nhóm Dino là một tội ác không thể tha thứ, dù có biện minh thế nào đi chăng nữa.

そう理解したからこそ、逆に謝罪しない。

Chính vì đã hiểu điều đó, nên ngược lại hắn không xin lỗi.

簡単な言葉で言い繕ったところで、それは真の謝罪とはならないからだ。

Bởi vì dù có dùng những lời lẽ đơn giản để che đậy, đó cũng không phải là một lời xin lỗi thật sự.

先ずは態度で、今後のフェルドウェイの行動によって、ディーノ達から信用を勝ち得るのが先決だった。

Trước hết, điều quan trọng là phải thể hiện bằng thái độ, bằng những hành động trong tương lai của Feldway để giành lại được sự tin tưởng từ nhóm Dino.

その上で──

Và sau đó...

(また仲間として、私を受け入れてもらいたいものだ)

(Ta mong rằng họ sẽ lại chấp nhận ta như một người đồng đội).

と、願うばかりである。

Hắn chỉ biết ước ao như vậy.

そうと決まったら、悩むより行動だった。

Một khi đã quyết định, thì hành động tốt hơn là do dự.

フェルドウェイには、〝滅(めっ)界(かい)竜(りゅう)〟イヴァラージェを基軸世界に招き入れてしまった責任がある。

Feldway có trách nhiệm trong việc đã đưa "Diệt Giới Long" Ivalage vào thế giới cốt lõi.

ミリムを救出する役目は他者に譲るとして、イヴァラージェを倒すのはフェルドウェイの役目だった。

Nhiệm vụ giải cứu Millim sẽ giao cho người khác, còn việc đánh bại Ivalage là vai trò của Feldway.

「私は今からイヴァラージェを──」

"Ta bây giờ sẽ đến chỗ Ivalage..."

「それは困るな」

"Thế thì phiền đấy".

突如、そこに輝ける存在が出現した。

Đột nhiên, một sự tồn tại rực rỡ xuất hiện ở đó.

フェルドウェイと瓜二つの容貌ながらも、その色合いは異なっている。だがそれよりも、その気配、その存在感に大きな隔たりがあった。

Dù có dung mạo giống hệt Feldway, nhưng màu sắc lại khác biệt. Nhưng quan trọng hơn, khí tức và sự hiện diện của người đó có một khoảng cách rất lớn.

まるで、本物と偽物。

Cứ như thể là hàng thật và hàng giả.

圧倒的な覇気(オーラ)を放って、空間を圧して光すらも歪めていたのだ。

Tỏa ra một luồng bá khí (aura) áp đảo, chèn ép không gian và làm cong cả ánh sáng.

悩むまでもなかった。

Không cần phải suy nghĩ nhiều.

その存在の正体こそ、今まさに話題にしていた、ヴェルダナーヴァそのものだったのだ。

Thân phận của sự tồn tại đó, chính là Verudanava, người mà họ vừa mới nhắc đến.

「ヴェ、ヴェルダナーヴァ様ッ!?」

"Ngài Ve, Verudanava!?"

フェルドウェイは慌てて、空中での最大敬礼を行った。

Feldway vội vàng thực hiện nghi thức chào trang trọng nhất trên không trung.

地上ならば跪(ひざまず)くのだが、空中では直立静止体勢になって背筋を伸ばし、軽く頭(こうべ)を垂れて、右手を心臓、左手を仙骨の辺りに添えるのが正式な礼となる。

Nếu ở trên mặt đất, hắn sẽ quỳ xuống, nhưng ở trên không, tư thế đứng nghiêm, thẳng lưng, khẽ cúi đầu, tay phải đặt lên tim, tay trái đặt gần xương cùng mới là nghi lễ chính thức.

翼の角度まで揃えて並ぶのが、〝始原の七天使〟時代からの慣例だった。

Việc xếp hàng với góc độ đôi cánh cũng phải đồng đều là thông lệ từ thời "Thất Thiên sứ Nguyên thủy".

ディーノや、ピコにガラシャも、当時と同じように即座に反応している。

Dino, Pico và Garasha cũng ngay lập tức phản ứng giống như thời đó.

フェルドウェイに並び、一列となって礼を取っていた。

Họ đứng thành một hàng bên cạnh Feldway và thực hiện nghi lễ.

本物かどうかなど、疑うまでもなかった。

Không cần phải nghi ngờ liệu đó có phải là thật hay không.

その気配──〝魂〟の輝きは、見間違いようもなく〝星王竜〟ヴェルダナーヴァと同一だったからだ。

Bởi vì khí tức đó... sự tỏa sáng của "linh hồn", không thể nhầm lẫn được, hoàn toàn giống với "Tinh Vương Long" Verudanava.

ここに今、創造神が再臨したのだった。

Ngay tại đây, lúc này, Đấng Sáng Tạo đã tái lâm.

フェルドウェイは戸惑った。

Feldway bối rối.

待ち望んでいた主の復活であるはずなのに、心の内から湧き起こる歓喜の念が少ないように思えたのだ。

Đáng lẽ đây là sự hồi sinh của chủ nhân mà hắn hằng mong đợi, nhưng dường như niềm hân hoan trỗi dậy từ trong lòng lại quá ít ỏi.

その理由は、ヴェルダナーヴァの一言にある。

Lí do nằm ở một câu nói của Verudanava.

「このまま、イヴァラージェを自由にさせるんだ。そうすれば、選別する手間が省けるからね」

"Cứ để cho Ivalage tự do hành động đi. Như vậy sẽ đỡ tốn công sàng lọc".

選別、とヴェルダナーヴァは告げた。

Sàng lọc, Verudanava đã nói như vậy.

その意味するところは一つ、ここ、基軸世界の浄化である。

Ý nghĩa của nó chỉ có một, đó là thanh lọc thế giới cốt lõi này.

神の意思にそぐう者のみを厳選して、その他を滅ぼすという意味であった。

Nghĩa là chỉ chọn ra những kẻ phù hợp với ý muốn của Thần, còn lại sẽ bị hủy diệt.

フェルドウェイが行おうとしていた事と同じだ。

Giống hệt với những gì Feldway đã định làm.

それなのに、フェルドウェイの気分は晴れなかった。

Thế nhưng, tâm trạng của Feldway lại không hề vui vẻ.

喜びよりも、むしろ……悲しい気持ちが込み上げてくる。

Thay vì vui mừng, một cảm giác... buồn bã lại dâng trào trong lòng hắn.

(違う……違うのだ。私は、私の愚行を止めて欲しかっただけで……)

(Không... không phải vậy. Ta chỉ muốn ngài ngăn cản hành vi ngu ngốc của ta mà thôi...)

今ならば、わかる。

Bây giờ thì hắn đã hiểu.

自分は駄々をこねる子供だったのだと、フェルドウェイは自身の愚かさを悟っていた。

Feldway đã nhận ra sự ngu ngốc của bản thân, rằng mình chỉ là một đứa trẻ đang ăn vạ.

仲間達の意思など無視して、自分だけが悲しんでいるのだと思い込んでいた。

Hắn đã phớt lờ ý chí của các đồng đội và cứ đinh ninh rằng chỉ có mình mình là đau khổ.

その結果、自分勝手に暴走して……。

Kết quả là, hắn đã ích kỉ bạo loạn...

忠告してくれた友の言葉さえ、フェルドウェイの心には響かなかったのだ。

Ngay cả những lời khuyên của bạn bè cũng không thể chạm đến trái tim Feldway.

冷静になって考えてみると、世界を滅ぼす前に止まれて良かったのだ。

Bình tĩnh suy nghĩ lại, việc có thể dừng lại trước khi hủy diệt thế giới thực sự là một điều may mắn.

暴走状態だったミリムも、致命的な破壊を行う前に正気に戻っている。今ならばまだ、最悪の結果は防げるはずだった。

Millim, người đã ở trong trạng thái bạo loạn, cũng đã tỉnh táo lại trước khi gây ra sự hủy diệt chí mạng. Bây giờ, vẫn còn có thể ngăn chặn được kết quả tồi tệ nhất.

無論、フェルドウェイの罪は許されないだろうが、それは後の話である。

Dĩ nhiên, tội lỗi của Feldway sẽ không được tha thứ, nhưng đó là chuyện của sau này.

世界を正常な状態に戻した上で、ゆっくりと審判を受ければいい。フェルドウェイはそう考えて、身命を賭して自分が犯した過ちを償うつもりだったのだ。

Sau khi đưa thế giới trở lại trạng thái bình thường, hắn sẽ từ từ chấp nhận sự phán xét. Feldway đã nghĩ như vậy, và định sẽ đánh đổi cả tính mạng để chuộc lại lỗi lầm mình đã gây ra.

ところが、ヴェルダナーヴァは世界を滅ぼすつもりだった。だから今まではフェルドウェイに任せて、ヴェルダナーヴァ自身は雲隠れしていたのだ。

Thế nhưng, Verudanava lại có ý định hủy diệt thế giới. Vì vậy, cho đến nay ngài đã giao phó mọi việc cho Feldway, còn bản thân ngài thì ẩn mình.

(それでは、私は……)

(Vậy thì, ta...)

フェルドウェイの胸中に、複雑な想いが交錯する。

Trong lòng Feldway, những suy nghĩ phức tạp đan xen.

ヴェルダナーヴァの望み通りに動けていたのだから、誇ればいい──そう思えばいいはずなのに、それは違う、という考えが頭から離れなかった。

Bởi vì mình đã hành động đúng theo mong muốn của Verudanava, nên đáng lẽ phải tự hào... hắn đáng lẽ nên nghĩ như vậy, nhưng cái suy nghĩ rằng "điều đó không đúng" lại không thể rời khỏi đầu hắn.

何故ならば、それこそがフェルドウェイの本音だったからだ。

Bởi vì, đó mới chính là lòng thật của Feldway.

それに、もっと問題なのが、これからどうするべきかだった。

Hơn nữa, vấn đề lớn hơn là từ bây giờ phải làm gì.

主の為に働くのが〝始原の七天使〟の存在理由なのだから、ヴェルダナーヴァに従うべきだ。それが正解であるはずなのに、感情的に納得いかなかった。

Lí do tồn tại của "Thất Thiên sứ Nguyên thủy" là để phục vụ cho chủ nhân, vì vậy nên tuân theo Verudanava. Đó đáng lẽ phải là câu trả lời đúng, nhưng về mặt cảm xúc hắn lại không thể chấp nhận được.

そんな自分に、フェルドウェイは困惑していたのである。

Feldway bối rối trước chính bản thân mình như vậy.

だから、出遅れた。

Vì thế, hắn đã chậm một bước.

フェルドウェイよりも先に、ディーノが具申したのだ。

Trước cả Feldway, Dino đã lên tiếng tâu trình.

「お言葉ですが、俺は反対です。滅ぼさねばならないほど、今の世界は悪くない。むしろ、長い歴史の中で見ても、より良いレベルで安定していると思いますね。速やかにイヴァラージェを排除して、世界の安寧を取り戻すべきかと!」

"Thần xin mạn phép, nhưng thần phản đối. Thế giới hiện tại không đến mức tồi tệ phải bị hủy diệt. Ngược lại, trong suốt lịch sử lâu dài, thần cho rằng nó đang ở mức độ ổn định tốt hơn. Chúng ta nên nhanh chóng loại bỏ Ivalage và khôi phục lại sự bình yên cho thế giới!"

これを聞いて、ヴェルダナーヴァは不思議そうな顔をした。

Nghe vậy, Verudanava lộ vẻ mặt khó hiểu.

「君は、ボクに逆らうのかい?」

"Ngươi dám chống lại ta sao?"

どうしてディーノがそんな事を言い出したのかわからない──と言った様子で、首を傾げていた。

Với vẻ mặt như không hiểu tại sao Dino lại nói ra những lời như vậy, ngài nghiêng đầu.

ヴェルダナーヴァは、一つ溜息を吐いた。

Verudanava thở dài một tiếng.

「やれれ、君もヴェルザードと一緒なのかな? 彼女もボクに反対したけど、許さなかった。どうしても次の世界に連れて行きたい者がいると願うから、彼女のワガママを聞いてあげる事にしたんだ。彼女が凍らせた者だけは、連れて行ってあげると約束したんだよ」

"Chà, ngươi cũng giống Veruzado nhỉ? Cô ta cũng đã phản đối ta, nhưng ta không cho phép. Vì cô ta mong muốn bằng mọi giá phải mang theo một người nào đó đến thế giới tiếp theo, nên ta đã quyết định lắng nghe sự ích kỉ của cô ta. Ta đã hứa rằng chỉ những kẻ bị cô ta đóng băng, ta mới mang theo".

ヴェルザードの行動理由が解明された瞬間だ。

Đó là khoảnh khắc lí do hành động của Veruzado được làm sáng tỏ.

フェルドウェイは、自分の行動目的も含めて、全てがヴェルダナーヴァの計画通りだったのだと理解した。

Feldway hiểu ra rằng, bao gồm cả mục đích hành động của mình, tất cả đều nằm trong kế hoạch của Verudanava.

その先読みは、どこまでの未来を見通しているものやら……。

Khả năng nhìn xa trông rộng đó, không biết đã nhìn thấu được tương lai đến đâu...

フェルドウェイとしては、戦慄するのみである。

Về phần Feldway, hắn chỉ biết rùng mình kinh hãi.

そしてディーノは、ヴェルダナーヴァから発せられる威圧感をまともに受けて、身じろぎも出来ずにいた。

Và Dino, phải chịu đựng trực diện luồng áp lực phát ra từ Verudanava, đến mức không thể nhúc nhích.

ヴェルダナーヴァは、特に怒っている訳ではない。

Verudanava không hề tỏ ra tức giận.

ただ、自分の意のままに動かぬ手駒に対して、『どこか壊れているのかな?』とでも言うかのような目で見ているだけだ。

Ngài chỉ nhìn quân cờ không tuân theo ý mình với ánh mắt như thể đang tự hỏi 'có phải nó bị hỏng ở đâu đó không?'.

だからこそ余計に、恐ろしく思えるのである。

Chính vì vậy, nó càng trở nên đáng sợ hơn.

「君達は、ボクが最初に創った道具だったね。だから一緒に連れて行ってあげようと思っていたんだけど──」

"Các ngươi là những công cụ đầu tiên ta tạo ra nhỉ. Vì vậy ta đã định sẽ mang các ngươi theo cùng, nhưng..."

「逃げろ!!」

"Chạy đi!!"

ヴェルダナーヴァの言葉が終わるよりも早く、フェルドウェイが動いた。

Trước khi Verudanava dứt lời, Feldway đã hành động.

しかし、一手遅い。

Thế nhưng, đã chậm một bước.

フェルドウェイがディーノを突き飛ばす寸前、ディーノの胸を閃光が貫いたのだ。

Ngay trước khi Feldway đẩy Dino ra, một tia sáng đã xuyên qua ngực anh.

「ディーノ!?」

"Dino!?"

「おい、しっかりしろ──ッ!!」

"Này, tỉnh lại đi...!!"

ピコとガラシャが、ディーノを守るように受け止めた。

Pico và Garasha đỡ lấy Dino như thể để bảo vệ anh.

そんな二人に、フェルドウェイが叫ぶ。

Feldway hét lên với hai người họ.

「ディーノを連れて逃げろ!」

"Mang Dino đi và chạy mau!"

それはかつての、〝始原の七天使〟の長だった頃のようで──

Giọng nói đó giống như khi hắn còn là thủ lĩnh của "Thất Thiên sứ Nguyên thủy"...

「わかったぜ」

"Rõ rồi".

ガラシャが即座に応じた。

Garasha ngay lập tức đáp lại.

「フェルドウェイも無理しないでよ!」

"Feldway cũng đừng cố quá sức nhé!"

ピコもまた、久方ぶりとなる素直な反応を見せる。

Pico cũng thể hiện một phản ứng ngoan ngoãn hiếm thấy sau một thời gian dài.

そして三人は、地上に向けて逃亡した。

Và rồi, cả ba người đã bỏ chạy về phía mặt đất.

ヴェルダナーヴァはそれを見送った後、フェルドウェイに振り向いた。

Verudanava nhìn họ đi rồi quay lại với Feldway.

「君も、ボクに逆らうんだね」

"Ngươi cũng dám chống lại ta à".

「いいえ。私の忠誠は、貴方様に捧げたままです。ただし──」

"Không ạ. Lòng trung thành của thần vẫn luôn dành cho ngài. Tuy nhiên..."

「ただし?」

"Tuy nhiên?"

「貴方様が間違っていると感じたのなら、それを進言するのが配下たる者の務め。その義務を行使し、貴方様を止めて差し上げます」

"Nếu thần cảm thấy ngài đang sai lầm, thì việc tâu trình điều đó chính là bổn phận của một bề tôi. Thần sẽ thực thi nghĩa vụ đó, và xin phép được ngăn cản ngài".

フェルドウェイは、覚悟を決めていた。

Feldway đã quyết tâm.

〝盲目的な臣従が悪である〟と悟った今、オベーラやザラリオがそうしたように、ディーノ達が忠告してくれたように、次は自分の番であると決意したのである。

Bây giờ, khi đã nhận ra rằng "lòng trung thành mù quáng là tội ác", hắn quyết tâm rằng đã đến lượt mình, giống như Obera và Zalario đã làm, giống như nhóm Dino đã cảnh báo.

ディアブロに敗北し、未だ満身創痍だ。

Hắn đã bại dưới tay Diablo và vẫn còn thương tích đầy mình.

勝てるか勝てないかの議論どころか、僅かばかりの時間を稼ぐ事すら困難だろう。

Chứ đừng nói đến việc bàn luận thắng thua, ngay cả việc câu chút thời gian cũng đã là khó khăn.

だが、それでも──

Nhưng, dù vậy...

(やるしかないのだ!)

(Chỉ còn cách phải làm thôi!)

今のヴェルダナーヴァは、明らかに以前とは違った。

Verudanava hiện tại rõ ràng đã khác trước đây.

しかし、その力は本物だ。

Thế nhưng, sức mạnh đó là thật.

その〝魂〟には穢れなどなく、美しく純粋だった。

"Linh hồn" đó không hề có một chút vẩn đục nào, đẹp đẽ và thuần khiết.

それなのに、愛情が感じられなかった。

Vậy mà, lại không thể cảm nhận được tình yêu.

神は、壊れていた。

Vị thần ấy, đã bị hỏng rồi.

愛する者(ルシア)を失った時、その心核(ココロ)に深刻なダメージを負っていたのだ。

Khi mất đi người mình yêu (Lucia), tâm hạch (trái tim) của ngài đã chịu một tổn thương sâu sắc.

その〝魂〟が完全に再現されようとも、愛を忘れてしまっていた。

Dù cho "linh hồn" đó có được tái hiện một cách hoàn hảo, thì ngài cũng đã lãng quên mất tình yêu.

その結果、まるで別人格の如き存在となって、この世に再臨してしまったのだった。

Kết quả là, ngài đã tái lâm trên thế gian này như một tồn tại với một nhân cách hoàn toàn khác.

フェルドウェイの双眸から、涙が零れ落ちる。

Nước mắt tuôn rơi từ đôi mắt của Feldway.

自分と同じ──いや、それ以上に深く深く心の迷路に迷い込んでしまった主を、このままにしてはおけなかった。

Hắn không thể bỏ mặc chủ nhân của mình, người đã lạc lối trong mê cung tâm hồn còn sâu hơn cả chính hắn.

主に後悔して欲しくなかったのだ。

Hắn không muốn chủ nhân của mình phải hối hận.

「私が〝親超え〟を果たして、貴方様を救い出してみせます。必ず──」

"Thần sẽ "vượt qua Đấng Sáng Tạo", và nhất định sẽ cứu được ngài. Chắc chắn..."

ph_slime23_ill004.jpg

フェルドウェイはそう誓う。

Feldway thề như vậy.

そして、敬愛する主へと挑みかかった。

Và rồi, hắn lao vào thách thức vị chủ nhân mà mình hằng kính yêu.

Chương 3: Đại loạn của tà thần

第三章 邪神大乱

戦局は、大詰め。

Tình hình chiến sự đang đi đến hồi kết.

皆がそう感じていた。

Ai cũng cảm nhận được điều đó.

ミリムを救出して──と思ったら、その心配は無駄になる。

Cứ ngỡ phải giải cứu Millim, nhưng nỗi lo đó đã trở nên vô ích.

イヴァラージェは、ミリムをポイッと投げ捨てたのだ。

Ivalage đã vứt Millim đi như một món đồ bỏ.

トドメを刺すという発想はないらしいと、誰もが理解した。

Mọi người đều hiểu rằng hắn dường như không có ý định kết liễu cô.

純粋悪なのは間違いないが、イヴァラージェの力は絶大だ。余りにも強過ぎるが故に、ミリムですらも脅威だとは感じていなかったのである。

Chắc chắn hắn là hiện thân của cái ác thuần túy, nhưng sức mạnh của Ivalage quá khủng khiếp. Vì quá mạnh nên ngay cả Millim cũng không bị hắn coi là mối đe dọa.

「ヤバいな……アレは正直、俺達の手に余る」

“Nguy rồi... Tên đó, thật lòng mà nói, ngoài tầm với của chúng ta”.

というのが、ベニマルの感想だった。

Đó là cảm nhận của Benimaru.

勿論『思念伝達』ではなく、思わず漏れ出た愚痴である。

Tất nhiên, đây không phải là “Truyền Đạt Tư Niệm” mà là một lời than thở buột miệng.

なので、これを聞いたのは周囲に居た者達だけだった。

Vì vậy, chỉ những người xung quanh mới nghe thấy.

戦士達に絶望感を与えないのが鉄則なので、全員に聞かれないように配慮している。それでも本音が零れ出てしまったのだが、これはもう仕方なかった。

Quy tắc sắt là không để các chiến binh cảm thấy tuyệt vọng, nên cậu đã cố gắng không để mọi người nghe thấy. Dù vậy, lời thật lòng vẫn buột ra, nhưng cũng đành chịu thôi.

この場にいる者達全員が、同じ感想を胸に抱いていたからだ。

Bởi vì tất cả những người có mặt ở đây đều có chung một suy nghĩ.

それに、せっかく立てた作戦が台無しになった。

Hơn nữa, kế hoạch đã dày công chuẩn bị cũng đổ bể.

ミリムの救出が無事に成功したのだから喜ぶべきなのだろうが、逆に、まるで相手にされていないという事実が、重くのしかかってくるようである。

Việc giải cứu Millim thành công đáng lẽ phải là một điều đáng mừng, nhưng ngược lại, sự thật rằng họ hoàn toàn không được coi là đối thủ đang đè nặng lên tất cả.

命を賭す覚悟だったカリオン達も、ミリムを助け起こしながら思うところがあった。

Ngay cả Callion và những người khác, những người đã sẵn sàng hi sinh tính mạng, cũng có nhiều suy nghĩ khi đỡ Millim dậy.

自分達の必死の思いなど、イヴァラージェにとっては大した事がないという現実。それを受け止める為には、愚痴の一つくらい許されるというものなのだ。

Hiện thực phũ phàng rằng những nỗ lực tuyệt vọng của họ chẳng là gì trong mắt Ivalage. Để chấp nhận điều đó, một vài lời than thở cũng là điều dễ hiểu.

「まあよ、ミリムは無事だ。その点は喜ぼうぜ」

“Thôi nào, Millim vẫn an toàn. Hãy vui vì điều đó đi”.

カリオンが前向きに発言した。

Callion lạc quan nói.

これに頷くフレイが、気休めそのものの相槌を打った。

Frey gật đầu đồng tình, buông một lời an ủi sáo rỗng.

「そうね。意識もしっかりしているみたいだし、大きな怪我もない。消耗しているだけなら、ゆっくり休めば元通りになるわよ」

“Đúng vậy. Ý thức của con bé có vẻ vẫn ổn, cũng không bị thương nặng. Nếu chỉ là kiệt sức thì chỉ cần nghỉ ngơi một chút là sẽ hồi phục thôi”.

イヴァラージェを倒さぬ限り、ゆっくり休めるはずがない。そうとわかっていても、明るく口にするしかなかったのである。

Chừng nào Ivalage chưa bị đánh bại, họ không thể nào nghỉ ngơi được. Dù biết vậy nhưng họ chỉ có thể nói những lời lạc quan.

深く考えてしまえば、戦う前から心が折れそうだった。

Nếu suy nghĩ quá sâu, tinh thần chiến đấu của họ có thể tan vỡ ngay cả trước khi bắt đầu.

そうならないように、少しでも気分を向上させようとしていたのである。

Để tránh điều đó, họ đang cố gắng vực dậy tinh thần dù chỉ một chút.

ヴェルドラも、一歩踏み出そうとして、その足を止めていた。

Verudora cũng định bước lên nhưng rồi lại dừng lại.

いきなり出鼻を挫(くじ)かれた形だ。

Cảm giác như bị dội một gáo nước lạnh ngay từ đầu.

状況が好転したはずなのに喜べない時点で、皆の感じている絶望感がどれほどのものなのか察せられるというものだった。

Chỉ riêng việc tình hình lẽ ra đã tốt hơn nhưng không ai vui nổi cũng đủ cho thấy sự tuyệt vọng mà mọi người đang cảm nhận lớn đến mức nào.

「それ、返してあげる。だからね、もっと遊ぼう♪」

“Trả lại cho ngươi này. Nào, chơi thêm chút nữa đi♪”.

「む、むう……」

“Ự, ựm...”.

ヴェルドラも及び腰になっていた。

Verudora cũng đang chùn bước.

しかし、前に出るしかなかった。

Nhưng cậu không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tiến lên.

背後から、ヴェルグリンドの圧がヤバいのだ。

Áp lực từ Verugrynd phía sau thật đáng sợ.

もしかしてビビッているのかしら? といった感じで、逃げるという選択肢を封じられていたのである。

Cứ như thể chị ta đang nghĩ “Không lẽ em sợ rồi à?”, khiến cậu không còn đường lui.

お前には勝てないと断言していた癖に──と文句を言いたいヴェルドラだが、当然の如くそれを口にする勇気はない。そんな事をするくらいならば、まだイヴァラージェの相手をする方がマシであった。

Verudora muốn phàn nàn rằng “Chính chị đã khẳng định là tôi không thắng được mà...”, nhưng đương nhiên cậu không đủ can đảm để nói ra. Thà đối mặt với Ivalage còn hơn làm vậy.

(リ、リムルよ、早く来てくれーーーーッ!!)

(Ri-Rimuru, mau đến đây điーーーー!!)

と、ヴェルドラは心の中で祈りながら、イヴァラージェとの戦いに身を投じたのだった。

Verudora vừa thầm cầu nguyện, vừa lao vào cuộc chiến với Ivalage.

そんな中、ルミナスが〈神聖魔法〉でミリムの治癒を終えて、怪我そのものは問題ないと断言した。

Trong lúc đó, Luminous đã dùng “Ma Pháp Thần Thánh” chữa trị xong cho Millim và khẳng định rằng vết thương không còn là vấn đề.

「全ての傷は癒えておるが、これ以上の戦闘は控えよ」

“Tất cả vết thương đã lành, nhưng đừng chiến đấu thêm nữa”.

「問題ないのだ! ワタシはまだまだ戦えるのだぞ!!」

“Không sao đâu! Tớ vẫn còn chiến đấu được mà!!”.

ミリムが戦意満々で答えたが、ルミナスの視線は厳しい。

Millim trả lời với tinh thần chiến đấu hừng hực, nhưng ánh mắt của Luminous rất nghiêm khắc.

「無茶を言うでないわ! お主もずっと暴れ続けていた反動で、その身に疲労が溜まっておるではないか。破壊と再生を繰り返された肉体は、元通りになったように見えても脆くなっておるものじゃ。しっかりと休養を取り、血肉を巡らせねば、完全なる復活とはいかぬであろうよ!」

“Đừng nói bừa! Chẳng phải cơ thể ngươi đã tích tụ mệt mỏi do liên tục nổi điên sao? Cơ thể đã lặp đi lặp lại quá trình phá hủy và tái tạo, trông có vẻ đã hồi phục nhưng thực chất rất mong manh. Nếu không nghỉ ngơi đầy đủ để khí huyết lưu thông thì không thể nào hồi phục hoàn toàn được đâu!”.

鋭い指摘だが、それは正論だった。

Đó là một lời chỉ trích sắc bén nhưng hoàn toàn đúng đắn.

ミリムが究極能力(アルティメットスキル)『憤怒之王(サタナエル)』を発動させて『狂化暴走(スタンピート)』したならば、外部からあらゆる物質を取り込んで無限に肉体を再生させられる。壊れようが関係ないので、無茶な戦い方をしようが問題はない。もっとも、別の意味では大問題なのだが、それはまた違う話であった。

Nếu Millim kích hoạt Kĩ năng Tối thượng “Phẫn Nộ Vương Satanael” và “Cuồng Hóa Bạo Loạn (Stampede)”, cô có thể hấp thụ mọi vật chất từ bên ngoài để tái tạo cơ thể vô hạn. Dù bị phá hủy cũng không sao, nên dù chiến đấu liều lĩnh cũng không thành vấn đề. Dù vậy, theo một nghĩa khác thì đó lại là một vấn đề lớn, nhưng đó là chuyện khác.

今のミリムは、究極能力(アルティメットスキル)『憤怒之王(サタナエル)』に頼っていない。つまりは、エネルギーの回復量は微弱──最大量が大きいだけに、一般的には膨大──なのだ。

Millim hiện tại không dựa vào Kĩ năng Tối thượng “Phẫn Nộ Vương Satanael”. Điều đó có nghĩa là lượng năng lượng hồi phục của cô rất yếu ớt—dù tổng lượng năng lượng tối đa của cô rất lớn nên đối với người thường thì vẫn là một con số khổng lồ.

イヴァラージェ相手に消耗したエネルギーは、そう簡単に回復したりはしないのだった。

Năng lượng đã tiêu hao khi đối đầu với Ivalage không thể dễ dàng hồi phục được.

ミリムだって、それは理解している。

Millim cũng hiểu điều đó.

しかし、ここで立ち止まる訳にはいかないのだ。

Nhưng cô không thể dừng lại ở đây.

この場にいる戦士達の中でも、ミリムは別格の強さを誇っている。

Trong số các chiến binh ở đây, Millim sở hữu sức mạnh vượt trội.

並ぶのは、ヴェルグリンドとヴェルドラだけだ。

Chỉ có Verugrynd và Verudora mới có thể sánh ngang.

そんなヴェルグリンドも、いまだ万全の状態まで回復していない。ルミナスの言うように怪我は癒えても、エネルギー密度が四割ほど消耗したままだった。

Ngay cả Verugrynd cũng chưa hồi phục hoàn toàn. Như lời Luminous nói, dù vết thương đã lành nhưng mật độ năng lượng của chị vẫn bị tiêu hao khoảng bốn mươi phần trăm.

テスタロッサやオベーラと協力して、イヴァラージェが放つ妖気(オーラ)を抑え込むので精一杯なのである。

Chị chỉ có thể cố gắng hết sức cùng Testarossa và Obera để trấn áp yêu khí (aura) do Ivalage tỏa ra.

ちなみに、オベーラは若干回復したものの、七割ほど消耗していて顔色も悪いままだ。

Nhân tiện, Obera dù đã hồi phục một chút nhưng vẫn tiêu hao khoảng bảy mươi phần trăm năng lượng và sắc mặt vẫn còn xanh xao.

テスタロッサは八割以上消耗しているのに、涼し気な表情である。

Testarossa đã tiêu hao hơn tám mươi phần trăm năng lượng nhưng vẫn giữ vẻ mặt điềm tĩnh.

この場合、疲(ひ)労(ろう)困(こん)憊(ぱい)なのにそれを悟らせないテスタロッサこそ、淑女の鑑(かがみ)として賞賛されるべきであった。

Trong trường hợp này, Testarossa, người dù kiệt sức nhưng không để lộ ra, mới thực sự đáng được ca ngợi như một tấm gương của một quý cô.

そんな訳で、ヴェルドラは今、たった一人でイヴァラージェの相手をしている。

Vì vậy, Verudora hiện đang một mình đối phó với Ivalage.

思った以上に善戦しているが、その戦い方は時間稼ぎを目的としたものだ。

Cậu đang chiến đấu tốt hơn mong đợi, nhưng cách chiến đấu đó chỉ nhằm mục đích câu giờ.

それで正解だ、とミリムは思った。

Đó là lựa chọn đúng đắn, Millim nghĩ.

このまま待てば、リムルやギィが合流する。それからが本番だと考えれば、今焦る必要などないのである。

Nếu cứ chờ đợi, Rimuru và Guy sẽ đến. Nếu coi đó mới là trận chiến thực sự thì bây giờ không cần phải vội vàng.

ないのだが──ミリムは嫌な予感がしていた。

Không cần vội vàng, nhưng—Millim có một linh cảm chẳng lành.

イヴァラージェは遊んでいる。

Ivalage đang chơi đùa.

しかし、もしも何かのきっかけで本気になってしまったら……。

Nhưng nếu có chuyện gì đó khiến hắn trở nên nghiêm túc...

そうなる前に倒すべきだと、ミリムは本能的に察していたのである。

Millim cảm nhận theo bản năng rằng phải đánh bại hắn trước khi điều đó xảy ra.

そして、ヴェルドラはというと。

Còn về phần Verudora.

実際にイヴァラージェと戦ってみて理解していた。

Sau khi thực sự chiến đấu với Ivalage, cậu đã hiểu ra.

(コヤツ、我の技を学習しておるぞ!?)

(Tên này đang học các chiêu thức của ta!?)

イヴァラージェは、恐ろしい速度で成長していた。

Ivalage đang trưởng thành với một tốc độ đáng sợ.

人の姿を得て、武技を身につけて、それを活かし、発展させている。

Hắn có được hình dạng con người, học được võ kĩ, và đang vận dụng, phát triển chúng.

ミリムとクロエを相手にした事で、彼女達の戦い方まで学んだようだ。それを応用しつつ、今はヴェルドラと戦っている。

Có vẻ như nhờ việc đối đầu với Millim và Chloe, hắn đã học được cả cách chiến đấu của họ. Hắn đang áp dụng những gì học được để chiến đấu với Verudora.

これ以上成長させてしまっては、リムルと共闘しても厳しくなりかねない。

Nếu để hắn trưởng thành hơn nữa, ngay cả khi hợp sức với Rimuru cũng có thể sẽ gặp khó khăn.

というか、敵を強化させてしまったなどとバレた日には、ヴェルドラが怒られるのは間違いなかった。

Hay nói đúng hơn, nếu chuyện để kẻ thù mạnh lên bị phát hiện, Verudora chắc chắn sẽ bị mắng.

(ダメだ! それだけは避けねばなるまい)

(Không được! Phải tránh điều đó bằng mọi giá).

一度だけ全力でぶつってみようか──という誘惑もあったのだが、ヴェルドラはグッと我慢した。可能な限り刺激しないようにしつつ、現状維持が一番であると判断したのだった。

Cũng có lúc cậu bị cám dỗ muốn thử dốc toàn lực một lần—nhưng Verudora đã cố gắng kìm nén. Cậu quyết định rằng tốt nhất là nên duy trì tình hình hiện tại, cố gắng không kích động hắn nhiều nhất có thể.

ミリムは今直ぐにでも倒すべきだと考え、ヴェルドラは全員揃うまで待つという判断をした。

Millim nghĩ rằng nên đánh bại hắn ngay lập tức, còn Verudora thì quyết định chờ cho đến khi mọi người tập hợp đông đủ.

意見が割れた訳だが、結局のところ、とれる作戦は現状維持となった。

Dù ý kiến có khác nhau, nhưng cuối cùng, kế hoạch họ có thể thực hiện vẫn là duy trì tình hình hiện tại.

ミリムが放つ全力の竜星爆炎覇(ドラゴ・ノヴァ)でも、イヴァラージェを仕留めきれるか不明だったからだ。

Bởi vì ngay cả với “Long Tinh Bộc Viêm Bá (Drago Nova)” toàn lực của Millim, cũng không chắc có thể kết liễu được Ivalage hay không.

「ヴェルドラよ、ヤツを一撃で殺せそうな技はあるのか?」

“Verudora này, ngươi có chiêu nào có thể giết chết hắn trong một đòn không?”.

ルミナスの制止を振りきったミリムが、ヴェルドラに並ぶなりそう聞いた。

Millim gạt đi sự ngăn cản của Luminous, đứng cạnh Verudora và hỏi.

「ないな。我の技も多岐に渡るが、貴様の竜星爆炎覇(ドラゴ・ノヴァ)には及ばぬであろうさ」

“Không. Các chiêu thức của ta cũng rất đa dạng, nhưng có lẽ không sánh được với “Long Tinh Bộc Viêm Bá (Drago Nova)” của ngươi đâu”.

ヴェルドラにも強力無比な技はあるのだが、最大威力という点では竜星爆炎覇(ドラゴ・ノヴァ)に及ばない。ヴェルドラは自信家な面もあるが、自己分析は正確なのだ。

Verudora cũng có những chiêu thức vô cùng mạnh mẽ, nhưng về sức công phá tối đa thì không bằng “Long Tinh Bộc Viêm Bá (Drago Nova)”. Verudora dù có phần tự cao nhưng lại rất giỏi trong việc tự phân tích bản thân.

それを聞いたミリムも、苦渋の決断をするしかなかったのだ。

Nghe vậy, Millim cũng đành phải đưa ra một quyết định khó khăn.

「ならばやはり……、迂闊に手出しせぬ方がよさそうなのだ」

“Vậy thì có lẽ... không nên hành động hấp tấp thì hơn”.

という事で、今度はヴェルドラとミリムが組んで、イヴァラージェの相手をする。

Thế là lần này, Verudora và Millim hợp sức để đối phó với Ivalage.

それなのに、イヴァラージェは楽しそうだ。

Dù vậy, Ivalage trông vẫn rất vui vẻ.

「きゃはははは♪」

“Kyahahahaha♪”.

余裕があるどころの話ではなく、本気で脅威とは感じていない様子であった。

Không chỉ là ung dung, hắn dường như thực sự không cảm thấy họ là một mối đe dọa.

ヴェルドラが踏み込み正拳突きを行い、それを陽動としてミリムが背後に回る。ヴェルドラの拳を受けてイヴァラージェの身体が硬直した瞬間を狙い、ミリムが羽交い締めを行った。

Verudora bước tới tung một cú đấm thẳng, dùng nó làm đòn nhử để Millim vòng ra sau. Nhắm vào khoảnh khắc cơ thể Ivalage cứng lại sau khi nhận đòn của Verudora, Millim đã khóa tay hắn từ phía sau.

このまま拘束に持ち込み、ヴェルドラの〝豊穣なる神秘の波動(ファータイルパラドックス)〟で捕縛しようという作戦だ。

Kế hoạch là cứ thế khống chế hắn, rồi dùng “Sóng Phì Nhiêu Thần Bí (Fertile Paradox)” của Verudora để bắt giữ.

しかし、通じない。

Nhưng không thành công.

ヴェルドラが豊穣なる神秘の波動(ファータイルパラドックス)を発動しようとした瞬間、イヴァラージェが自身の魔力を暴発させた。これによって、ミリムが吹き飛ばされる。

Ngay khoảnh khắc Verudora định kích hoạt “Sóng Phì Nhiêu Thần Bí (Fertile Paradox)”, Ivalage đã cho ma lực của mình bùng nổ. Điều này khiến Millim bị thổi bay đi.

「ぬぬッ!?」

“Grừ!?”.

慌てて回避したヴェルドラだったが、爆風の中から飛び出して来たイヴァラージェによって殴られ、音速を超える速度で硬岩に叩きつけられてしまった。

Verudora vội vàng né tránh, nhưng đã bị Ivalage lao ra từ trong vụ nổ đấm một cú, khiến cậu bị ném vào một tảng đá cứng với tốc độ vượt qua vận tốc âm thanh.

コンクリートの数千倍もの強度がある硬岩が、砂のように粉々になっている。その事からも、その威力の凄まじさが窺えるというものだった。

Tảng đá cứng, có độ bền gấp hàng ngàn lần bê tông, đã vỡ vụn như cát. Điều đó cho thấy sức công phá khủng khiếp đến mức nào.

「ぐぬぬ、ワタシを吹き飛ばすとは、屈辱なのだ!」

“Grừ, dám thổi bay tớ đi, thật là một sự sỉ nhục!”.

「痛ッ、酷い目にあったわ……。コヤツ、どんどん機を読むのに慣れておるな。こうなると、時間稼ぎすら困難になるやも知れぬ」

“Đau quá, thê thảm thật... Tên này ngày càng giỏi đọc tình huống. Cứ thế này, ngay cả việc câu giờ cũng có thể trở nên khó khăn”.

Dù Millim và Verudora hợp sức tấn công, họ vẫn bị đánh bại một cách dễ dàng.

まだ戦えるものの、現状維持どころの話ではなくなっている。

Tuy vẫn có thể tiếp tục chiến đấu, nhưng tình hình đã vượt xa mức “duy trì hiện trạng”.

イヴァラージェが放つ妖気(オーラ)を抑え込んでいたヴェルグリンド、オベーラ、テスタロッサの三名もまた、膨れ上がった気配の圧力に表情を険しくさせていた。

Ba người Verugrynd, Obera và Testarossa, những người đang kìm hãm yêu khí (aura) của Ivalage, cũng trở nên nghiêm nghị trước áp lực ngày càng tăng của luồng khí đó.

しかも、その時。

Hơn nữa, đúng lúc đó.

天空より何かが降って来たのだ。

Có thứ gì đó từ trên trời rơi xuống.

それは、胸に大穴の空いたディーノだった。

Đó là Dino, với một lỗ thủng lớn trên ngực.

真っ先にミリムが気付く。

Millim là người đầu tiên nhận ra.

「む? アレは、ディーノなのだ」

“Hử? Kia là Dino mà”.

「ほう?」

“Hồ?”.

と、ヴェルドラも頷いた。

Verudora cũng gật đầu.

実はヴェルドラ、ディーノとは仲が良かったのだ。迷宮内で自室に招待して、一緒に漫画を読んだ事もあったりする。

Thực ra, Verudora và Dino khá thân thiết. Cậu từng mời Dino đến phòng riêng trong mê cung để cùng nhau đọc manga.

なのでヴェルドラは、ディーノが負傷しているのに気付いて目を鋭くさせた。

Vì vậy, khi thấy Dino bị thương, ánh mắt của Verudora trở nên sắc bén.

そんなディーノを支えている、二人の女性もいる。

Cũng có hai người phụ nữ đang đỡ Dino.

「ピコとガラシャだったか? お仲間も一緒みたいだが、何かあったようだな」

“Là Pico và Garcia phải không? Có vẻ như đồng đội của hắn cũng đi cùng, chắc đã có chuyện gì đó xảy ra”.

戦場全体を監視していたベニマルも、ミリムやヴェルドラとほぼ同時に三名の存在を察知していた。そして、ディーノの状態だけでなく、ピコやガラシャの焦った様子も把握して、何らかの異変が生じた事を察したのである。

Benimaru, người đang giám sát toàn bộ chiến trường, cũng phát hiện ra sự hiện diện của ba người họ gần như cùng lúc với Millim và Verudora. Và không chỉ tình trạng của Dino, cậu còn nhận thấy vẻ hốt hoảng của Pico và Garcia, từ đó đoán ra đã có biến cố gì đó xảy ra.

ディーノは強い。

Dino rất mạnh.

ピコやガラシャだって、そこらの幻獣族(クリプテッド)などに負けるはずがないほどの強者だった。

Ngay cả Pico và Garcia cũng là những cường giả không thể thua kém bất kì Ảo thú (Cryptid) tầm thường nào.

ヴェルザードが相手ならともかく、ディーノ達が旧ユーラザニア方面に向かうとは聞いていなかった。

Nếu đối thủ là Veruzard thì còn có thể hiểu được, nhưng cậu không hề nghe nói Dino và những người khác sẽ đến khu vực Eurazania cũ.

もっとも、ディーノ達はベニマルの指揮下に入ったとは言え、配下ではない。

Dù vậy, Dino và đồng bọn dù đã gia nhập dưới trướng Benimaru nhưng không phải là thuộc hạ.

またサボっていたとしても、それほど期待していなかったので問題ないのだ。

Ngay cả khi họ lại trốn việc, cậu cũng không quá kì vọng nên cũng chẳng sao.

しかし、異変があるなら話は別で──

Nhưng nếu có biến cố thì lại là chuyện khác—

「ヴェルドラ様、こちらは俺達にお任せを!」

“Verudora-sama, cứ để đây cho chúng tôi!”.

そう叫ぶなり、ベニマルは動いた。

Vừa hét lên, Benimaru đã hành động.

ディーノ達を『結界』で守るようにして、速やかに受け入れたのだ。

Cậu nhanh chóng tạo ra “Kết Giới” để bảo vệ Dino và những người khác.

ヴェルドラは、イヴァラージェへと向き直った。

Verudora quay lại đối mặt với Ivalage.

倒すつもりで全力で挑みたいが、もしも勝てなかったら面倒な事になる。対ミリム戦でのストレスはカケアシを倒して発散させたのだが、凄い勢いで忍耐力を試されているようだった。

Cậu muốn dốc toàn lực để đánh bại hắn, nhưng nếu không thắng được thì sẽ rất phiền phức. Căng thẳng từ trận chiến với Millim đã được giải tỏa bằng cách hạ gục Kakeashi, nhưng giờ đây, sự kiên nhẫn của cậu dường như đang bị thử thách một cách dữ dội.

しかし、ここは我慢だ。

Nhưng lúc này phải nhẫn nại.

イヴァラージェの見た目は美しい女性なので、ヴェルドラとしても全力で殴るのは抵抗があった。そういう意味でも、ここは身を挺(てい)してイヴァラージェを抑え込むのが、ヴェルドラに任された役目なのだろう。

Ngoại hình của Ivalage là một người phụ nữ xinh đẹp, nên Verudora cũng cảm thấy khó mà ra tay toàn lực. Theo nghĩa đó, có lẽ nhiệm vụ được giao cho Verudora là hi sinh bản thân để kìm hãm Ivalage.

「やってやるとも! こんな大仕事、プリン三皿では納得せぬからなァ──ッ!!」

“Ta sẽ làm! Một công việc lớn thế này, ba đĩa pudding là không đủ đâu đấyーー!!”.

それは〝魂〟からの叫びだった。

Đó là tiếng gào thét từ tận “linh hồn”.

ヴェルドラは殴られる覚悟で、イヴァラージェを拘束しようと動き出したのである。

Verudora, với quyết tâm sẵn sàng chịu đòn, đã bắt đầu di chuyển để cố gắng khống chế Ivalage.

ピコとガラシャに支えられつつ、ディーノは保護された。

Được Pico và Garcia dìu, Dino đã được bảo vệ.

ルミナスの〈神聖魔法〉が発動し、ディーノを癒す。それは〝神の奇跡〟の名に恥じぬ、素晴らしい速度での治癒だった。

“Ma Pháp Thần Thánh” của Luminous được kích hoạt, chữa lành cho Dino. Đó là một quá trình chữa trị với tốc độ đáng kinh ngạc, xứng đáng với danh xưng “Kì tích của Thần”.

「うーん、もっと寝ていたかった」

“Ừm, tôi muốn ngủ thêm chút nữa”.

「馬鹿! ルミナスがいなかったら、アンタ、目覚めなかったかも知れないんだぞ!!」

“Đồ ngốc! Nếu không có Luminous, có lẽ anh đã không tỉnh lại được đâu!!”.

「ホントだよ! 生きてて良かったよぉ〜〜〜」

“Thật đấy! May mà còn sống sót〜〜〜”.

ガラシャが呆れて怒鳴り、ピコが号泣した。

Garcia bực tức la lên, còn Pico thì khóc nức nở.

場の空気を和ませようとしたディーノは、失策だったなと反省する。

Dino, người đã cố gắng làm dịu bầu không khí, tự nhủ rằng mình đã thất bại.

「それで、何があったんだ?」

“Vậy, đã có chuyện gì?”.

ベニマルが直球で問うた。

Benimaru hỏi thẳng.

「それはだな──」

“Chuyện là—”.

ディーノが答えようとした時、またも天空から何かが落ちてきた。

Khi Dino định trả lời, lại có thứ gì đó từ trên trời rơi xuống.

今度はかなりの速度で、皆の対応が間に合わない。気付いた時は、大地にクレーターが生じていた。

Lần này tốc độ rất nhanh, mọi người không kịp phản ứng. Khi họ nhận ra thì một hố lớn đã hình thành trên mặt đất.

攻撃か!? と身構えたベニマルだったが、どうやら様子が違った。

Là một cuộc tấn công sao!? Benimaru đã cảnh giác, nhưng có vẻ tình hình không phải vậy.

土埃が消えた時、クレーターの中央には何者かが倒れていたからだ。

Khi bụi đất tan đi, ở trung tâm hố sâu có ai đó đang nằm gục.

「何故、お前が……」

“Tại sao, ngươi lại...”.

ベニマルが警戒しつつ、様子を窺う。

Benimaru vừa cảnh giác vừa quan sát.

それは、圧倒的な強者にして、全ての黒幕であるはずのフェルドウェイだった。

Đó là Feldway, kẻ mạnh áp đảo và lẽ ra phải là kẻ chủ mưu của mọi chuyện.

神樹の破壊に失敗し、ディアブロに敗北して姿を消していた。その情報も共有されていたのだが、ここまでボロボロになっているという話ではなかったはずだ。

Hắn đã thất bại trong việc phá hủy Thần thụ, bị Diablo đánh bại và biến mất. Thông tin đó đã được chia sẻ, nhưng không hề có chuyện hắn lại thảm hại đến mức này.

「あら? フェルドウェイが黒幕だと思っていたのだけど……」

“Ara? Tôi cứ nghĩ Feldway là kẻ chủ mưu chứ...”.

「信じられん。何があった?」

“Không thể tin được. Đã có chuyện gì?”.

ヴェルグリンドが困惑し、オベーラは驚愕している。

Verugrynd bối rối, còn Obera thì kinh ngạc.

誰もが、嫌な予感を胸に抱いた。

Mọi người đều có một linh cảm chẳng lành.

フェルドウェイはまだ生きていたが、その肉体は崩壊し始めている。

Feldway vẫn còn sống, nhưng cơ thể hắn đang bắt đầu tan rã.

このままでは残り時間僅かで、完全に消滅してしまうだろう。

Cứ thế này, chỉ trong một thời gian ngắn nữa, hắn sẽ hoàn toàn biến mất.

「まさか、リムルがやったの?」

“Không lẽ, Rimuru đã làm sao?”.

と、ヒナタが呟いた。

Hinata lẩm bẩm.

自分で口にしているが、ヒナタ自身、まったくそう思っていない。リムルの場合、ここまで敵を圧倒出来る実力差があるのなら、生きて捕らえて責任の追及を行うだろうと思えたからだ。

Dù chính miệng nói ra, nhưng bản thân Hinata hoàn toàn không nghĩ vậy. Bởi vì nếu là Rimuru, với sự chênh lệch thực lực đủ để áp đảo đối thủ đến mức này, cậu ấy sẽ bắt sống và truy cứu trách nhiệm.

たとえ、その結末が死罪になるのだとしても、自分の罪を認めさせるところから始めるだろう、と。

Dù kết cục có là tử hình đi chăng nữa, cậu ấy cũng sẽ bắt đầu bằng việc khiến kẻ đó thừa nhận tội lỗi của mình.

今のフェルドウェイは、どう見ても致命傷だった。

Feldway hiện tại rõ ràng đang bị thương chí mạng.

身体の末端から崩壊が始まっており、粒子となって飛散し始めている。精神生命体なのだから『転生』──あるいは、別の肉体に『憑依』して延命出来る可能性はあるのだが、どうやらフェルドウェイは、心核(ココロ)にまで深刻なダメージを負っている様子だった。

Cơ thể hắn đang tan rã từ các chi, biến thành các hạt và phân tán đi. Vì là một thể sống tinh thần, hắn có khả năng kéo dài sự sống bằng cách “Chuyển sinh”—hoặc “Chiếm hữu” một cơ thể khác, nhưng dường như Feldway đã bị tổn thương nghiêm trọng đến tận Tâm hạch (Kokoro).

「おいおい、まさかお前まで逆らったのかよ?」

“Này này, không lẽ ngay cả ngươi cũng chống lại ngài ấy sao?”.

と、ディーノがフェルドウェイを抱え起こしながら問いかけた。

Dino vừa đỡ Feldway dậy vừa hỏi.

これに対し、自嘲するようにフェルドウェイが答えた。

Đáp lại, Feldway trả lời một cách tự giễu.

「フッ、あれだけあの御方の復活を願っていたというのに、締まらない話さ……」

“Hừ, vậy mà mình đã mong mỏi sự hồi sinh của ngài ấy đến thế, đúng là một câu chuyện tồi tệ...”.

それは、肯定する発言だ。

Đó là một lời khẳng định.

ディーノは驚き、フェルドウェイを凝視した。

Dino kinh ngạc, nhìn chằm chằm vào Feldway.

ピコとガラシャも、複雑そうな表情でフェルドウェイを見ている。

Pico và Garcia cũng nhìn Feldway với vẻ mặt phức tạp.

しかし、そんな悠長な事をしている場合ではないと思い出し、ディーノは焦ったように空を見上げた。

Nhưng nhớ ra đây không phải lúc để thong thả, Dino lo lắng nhìn lên bầu trời.

時刻は昼過ぎ。

Thời gian đã quá trưa.

地上での激しい戦闘の余波で、雲一つない晴天となっている。

Do dư chấn của trận chiến dữ dội trên mặt đất, bầu trời trở nên quang đãng không một gợn mây.

ポツリと小さな点が見えた。

Một chấm nhỏ lờ mờ hiện ra.

「見逃してくれるわけねーよな……」

“Không đời nào ngài ấy tha cho chúng ta đâu...”.

「どうする? 取り敢えず、勝てる気しないよ?」

“Làm sao đây? Tạm thời thì tớ không nghĩ chúng ta có cửa thắng đâu?”.

「まあ、無理だね。やるだけやってみるって気にならないほど、アタイらは無力だ」

“Chà, không thể nào đâu. Bọn tui bất lực đến mức còn chẳng buồn thử sức nữa”.

そんな会話を行うディーノ達を見て、オベーラも何かあると悟った。

Nhìn Dino và những người khác nói chuyện, Obera cũng nhận ra có điều gì đó không ổn.

というより、ディーノ達が敵対しても無駄だと考えていて、フェルドウェイを倒せる者となると……。

Hay nói đúng hơn, ngay cả Dino và đồng bọn cũng nghĩ rằng chống lại là vô ích, và kẻ có thể đánh bại Feldway thì...

イヴァラージェならば条件に合致するかも知れないが、ここにいるので違う。となると、考えられる可能性は限られていた。

Nếu là Ivalage thì có thể phù hợp với điều kiện, nhưng hắn đang ở đây nên không phải. Vậy thì, khả năng có thể xảy ra đã bị giới hạn.

「まさかとは思うけど、ヴェルダナーヴァ様なの……?」

“Không lẽ nào, là Verudanava-sama sao...?”

発言したオベーラに視線が集中した。

Mọi ánh mắt đổ dồn về phía Obera, người vừa lên tiếng.

ディーノ達は、気まずそうに目を逸らす。

Dino và những người khác lúng túng nhìn đi chỗ khác.

それが答えだった。

Đó chính là câu trả lời.

「……悪かったね、オベーラ。私は……リーダーとして失格だった」

“...Xin lỗi, Obera. Tôi... đã là một người lãnh đạo thất bại”.

と、フェルドウェイが謝罪する。

Feldway nói lời xin lỗi.

これに驚くオベーラは、最悪な事態が起きたのだと察した。

Obera kinh ngạc, nhận ra rằng một tình huống tồi tệ nhất đã xảy ra.

頑固なフェルドウェイが自身の非を認めるなど、相当な大事件であった。

Việc Feldway cứng đầu lại thừa nhận lỗi lầm của mình chứng tỏ đây là một sự kiện vô cùng trọng đại.

ヴェルダナーヴァが復活したのは間違いないだろう。そしてその結果が、コレなのだ。

Verudanava chắc chắn đã hồi sinh. Và kết quả chính là đây.

ディーノが大怪我を負ったのも、フェルドウェイが死にかけているのも、全てはヴェルダナーヴァの仕業だったのである。

Việc Dino bị thương nặng và Feldway đang hấp hối, tất cả đều do Verudanava gây ra.

そう理解するなり、オベーラも沈黙する。

Ngay khi hiểu ra điều đó, Obera cũng im lặng.

重々しい空気が漂い始めた。

Một bầu không khí nặng nề bắt đầu bao trùm.

神の復活に驚くよりも先に、とんでもない状況になったのだと誰もが悟った。これをどう受け止めるべきなのか、各々が動揺してしまうのも当然であった。

Thay vì ngạc nhiên trước sự hồi sinh của Thần, mọi người đều nhận ra rằng họ đang ở trong một tình huống cực kì tồi tệ. Việc mỗi người đều bối rối không biết nên đối mặt với điều này như thế nào là điều hiển nhiên.

「一つ聞きたいのだけれど、お兄様の目的が何なのか、知っているかしら?」

“Tôi muốn hỏi một điều, chị có biết mục đích của anh trai tôi là gì không?”.

ヴェルグリンドが、そう切り出した。

Verugrynd bắt đầu câu chuyện.

「世界の再生だってさ」

“Tái tạo thế giới”.

「失敗作を破棄して、新たに創造なさるのだそうだ」

“Nghe nói ngài ấy sẽ phá hủy tác phẩm thất bại này và tạo ra một thế giới mới”.

ディーノとフェルドウェイが、同時に答えた。

Dino và Feldway đồng thanh trả lời.

やはりそうなのね──と、ヴェルグリンドは頷く。

Quả nhiên là vậy sao—Verugrynd gật đầu.

「大問題じゃな」

“Đúng là một vấn đề lớn”.

ルミナスが、吐き捨てるようにそう言った。

Luminous buông lời như thể đang nhổ ra.

その一言で終わらせていい話ではないが、そう言うしかないような状況だった。

Đây không phải là chuyện có thể kết thúc bằng một câu nói, nhưng tình hình lúc này chỉ có thể nói như vậy.

「で、皆はどうするつもりなのじゃ?」

“Vậy, mọi người định làm gì?”.

その問いが意味するところは、創造神に従うのか、それとも抗うのか、皆の意思を確認しておきたいというものだった。

Câu hỏi đó có nghĩa là, họ muốn xác nhận ý chí của mọi người, liệu họ sẽ tuân theo Thần Sáng Tạo, hay là sẽ chống lại.

これはもう、強制出来ない領分である。

Đây là một lĩnh vực không thể ép buộc.

神の意に従うというのなら、それを止める事は出来ない。

Nếu họ chọn tuân theo ý muốn của Thần, không ai có thể ngăn cản.

ベニマルやヒナタのように、直接的な関わりがない者にとっては、神だろうが何だろうが知った事ではない、という話だろう。

Đối với những người không có mối liên hệ trực tiếp như Benimaru hay Hinata, dù là Thần hay bất cứ thứ gì cũng chẳng quan trọng.

しかし、ヴェルグリンドやヴェルドラにとっては兄だし、オベーラにとっては生みの親になる。簡単に切り捨てられる関係性ではなく、思い悩むのも無理はない。

Tuy nhiên, đối với Verugrynd và Verudora thì đó là anh trai, còn đối với Obera thì là đấng sinh thành. Đó không phải là mối quan hệ có thể dễ dàng cắt đứt, nên việc họ băn khoăn cũng là điều dễ hiểu.

とは言え、時間は有限だ。

Dù vậy, thời gian là có hạn.

ヴェルダナーヴァに動く様子は見られないものの、決断の時は迫っているのである。

Dù Verudanava chưa có động tĩnh gì, nhưng thời khắc quyết định đang đến gần.

ルミナスなどは、迷いなく敵対するつもりだった。

Luminous thì đã quyết định sẽ chống lại không chút do dự.

自分が慈しみ守り抜いてきた世界を、そう簡単に壊させるつもりなどない。たとえ相手が創造神であろうが、自己主張をしっかり行うべきだと決意していた。

Thiếp sẽ không để thế giới mà mình đã yêu thương và bảo vệ bị phá hủy một cách dễ dàng. Dù đối phương là Thần Sáng Tạo, thiếp vẫn quyết tâm phải khẳng định quan điểm của mình.

「俺としては、リムル様に従うだけだな。どうせ聞かなくても、『俺達の世界を壊そうとするなんて、マジでふざけるなよ!!』とか、言いそうだがな」

“Về phần tôi, tôi sẽ chỉ tuân theo Rimuru-sama. Dù sao thì không cần hỏi cũng biết, ngài ấy chắc sẽ nói cái gì đó như ‘Dám phá hủy thế giới của chúng ta, đừng có đùa!!’ thôi”.

ベニマルが苦笑しながら発言した。

Benimaru vừa cười khổ vừa nói.

これに、ヒナタも頷く。

Hinata cũng gật đầu đồng tình.

「確かに、言いそうだわ。それに、私としても唯々諾々と従う気はないもの。神様だからって、何でも好き勝手していいという理屈はおかしいと思うのよね」

“Đúng là cậu ấy sẽ nói vậy. Hơn nữa, tôi cũng không có ý định ngoan ngoãn tuân theo đâu. Tôi nghĩ lí lẽ rằng vì là Thần nên có thể làm bất cứ điều gì mình muốn là sai lầm”.

家庭環境もあるが、ヒナタは〝神〟というものに対する思いが複雑なのだ。ルミナスは救い主であり友人でもあるので、例外であった。

Do hoàn cảnh gia đình, suy nghĩ của Hinata về “Thần” rất phức tạp. Luminous là một ngoại lệ vì vừa là ân nhân vừa là bạn của cô.

ベニマル、ヒナタに続き、テスタロッサが嗤(わら)った。

Tiếp sau Benimaru và Hinata, Testarossa cười khẩy.

「悩むまでもありませんわね。我らはただ、リムル様に従うだけですもの」

“Không cần phải băn khoăn đâu ạ. Chúng tôi chỉ đơn giản là tuân theo Rimuru-sama thôi”.

テスタロッサはブレない。

Testarossa không hề dao động.

そもそも悪魔族(デーモン)は自然発生した種族であり、創造神に対する忠誠心などとは無縁なのだ。好き嫌いはあるし、ギィなどは個人的に友誼を結んでいるが、そこに義務は存在していなかった。

Vốn dĩ tộc Ác ma (Daemon) là một chủng tộc tự nhiên hình thành, không có bất kì lòng trung thành nào với Thần Sáng Tạo. Có yêu có ghét, và như Guy thì có mối quan hệ bạn bè cá nhân, nhưng không hề tồn tại nghĩa vụ nào ở đó.

飽く迄も自由意思で、その在り様を選択出来るのだ。

Họ hoàn toàn có thể lựa chọn cách sống của mình theo ý chí tự do.

そんな訳で、テスタロッサの意思は決まっていた。恐らくは、カレラやウルティマも同様だった。

Vì vậy, ý chí của Testarossa đã được định đoạt. Có lẽ Carrera và Ultima cũng vậy.

「私は、マサユキ次第ね」

“Tôi thì tùy thuộc vào Masayuki”.

ヴェルグリンドも自己中な性格なので、その判断基準はいつも同じだ。

Verugrynd cũng là người có tính cách ích kỉ, nên tiêu chuẩn phán đoán của chị luôn giống nhau.

愛する者の決定に従うのみである。

Chỉ tuân theo quyết định của người mình yêu.

いきなり重要な判断を投げかけられたマサユキだが、その心は凪いでいた。

Masayuki đột nhiên bị đặt trước một quyết định quan trọng, nhưng lòng cậu lại tĩnh lặng.

もう既にキャパオーバーしているだけ、とも言う。

Cũng có thể nói rằng cậu đã quá tải rồi.

菩薩のような微笑みを浮かべて、心を無にしている。戦場の恐ろしさから目を逸らす術(すべ)として、マサユキが獲得した技術だった。

Cậu nở một nụ cười như Bồ tát, để tâm trí trống rỗng. Đó là kĩ thuật mà Masayuki đã học được để né tránh sự khủng khiếp của chiến trường.

「ふふふ、僕はまだ、死にたくないかな」

“Fufufu, tôi vẫn chưa muốn chết đâu”.

悟りを開いたような目で、マサユキが答えた。

Với ánh mắt như đã giác ngộ, Masayuki trả lời.

マサユキの要望としては、その一点に尽きるのだ。

Yêu cầu của Masayuki chỉ có một điều đó thôi.

ここまできて神に世界を滅ぼされるとか、今までの頑張りが全て無駄だった事になる。それは流石にないなと、マサユキも思うのだった。

Đã đến nước này mà còn bị Thần hủy diệt thế giới thì mọi nỗ lực từ trước đến nay đều trở thành vô ích. Masayuki cũng nghĩ rằng điều đó thật không thể chấp nhận được.

それに、心の奥底で〝声〟が聞こえた気がした。

Hơn nữa, cậu cảm thấy như có một “tiếng nói” vang lên từ sâu thẳm trong tim mình.

──あの野郎、トチ狂いやがったのか? ぶん殴って、目を覚まさせてやらねーとダメだな──

—Tên khốn đó, mất trí rồi sao? Phải đấm cho hắn một trận để hắn tỉnh ra mới được—

という、過去の自分──ルドラと思しき者の意思が、マサユキに訴えかけていたのである。

Ý chí của bản thân trong quá khứ—có vẻ là Rudra, đang thôi thúc Masayuki.

その意見に反対する理由もないので、マサユキは素直に応じる事にしたのだった。

Không có lí do gì để phản đối ý kiến đó, nên Masayuki quyết định thuận theo.

これによって、ヴェルグリンドの方針も定まった。

Nhờ vậy, phương hướng của Verugrynd cũng được xác định.

本当に兄が復活して、世界を滅ぼそうと決めたのなら、全ての命運は尽きたも同然だ。しかしそれでも、最後の瞬間までは愛する者の為に生きられる。

Nếu anh trai chị thật sự đã hồi sinh và quyết định hủy diệt thế giới, thì vận mệnh của tất cả coi như đã kết thúc. Nhưng dù vậy, cho đến giây phút cuối cùng, chị vẫn có thể sống vì người mình yêu.

ヴェルグリンドは、ただそれだけで良かった。

Đối với Verugrynd, chỉ cần như vậy là đủ.

「最後まで付き合うわよ、マサユキ」

“Em sẽ ở bên anh đến cùng, Masayuki”.

「うん、そうだね。もうひと頑張りしてみようかな」

“Ừm, đúng vậy nhỉ. Hay là mình cố gắng thêm chút nữa xem sao”.

マサユキは、意外に怖くないものだな、と思った。

Masayuki nghĩ, hóa ra cũng không đáng sợ như mình tưởng.

神の復活とか、話が壮大過ぎるというのも理由だろう。

Lí do có lẽ là vì chuyện Thần hồi sinh quá vĩ mô.

しかしそれ以上に、ヴェルグリンドが一緒というのが大きい。

Nhưng hơn thế nữa, việc có Verugrynd ở bên cạnh là một yếu tố lớn.

自分の幸運力も全力で発揮しているし、これでダメなら何をしても無理、という満足感もあった。

Cậu cũng đang phát huy tối đa sức mạnh may mắn của mình, và có một cảm giác thỏa mãn rằng nếu thế này mà còn không được thì làm gì cũng vô ích.

諦念にも似た感想なのだが、マサユキは何となく『何とかなりそう』という気がしていたのだ。

Đó là một cảm giác gần giống với sự buông xuôi, nhưng Masayuki lại có cảm giác rằng “Mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi”.

それは、多分──

Đó có lẽ là vì—

「どもども! 皆さん、お疲れ様です!」

“Chào mọi người! Mọi người đã vất vả rồi!”.

という能天気な声が聞こえたからかも知れなかった。

có lẽ là vì cậu đã nghe thấy giọng nói vô tư lự ấy.

楽をしようとスライム姿に戻った俺は、ディアブロに抱きかかえられたままギィとヴェルザードを伴って、戦場に向けて『瞬間移動(テレポート)』した。

Để cho khỏe, tôi đã trở lại hình dạng slime, được Diablo bế và cùng với Guy và Veruzard “Dịch Chuyển Tức Thời (Teleport)” đến chiến trường.

シオンよりも硬くて若干居心地が悪いが、安定性は抜群だ。

Cứng hơn Shion một chút nên hơi không thoải mái, nhưng độ ổn định thì tuyệt vời.

というか、慣れ始めている自分が怖い。

Hay đúng hơn, tôi thấy sợ chính bản thân mình vì đã bắt đầu quen với việc này.

到着するなり、ピョンとディアブロから抜け降りた。と同時に、人の姿になって「どもども! 皆さん、お疲れ様です!」と挨拶する。

Vừa đến nơi, tôi nhảy tót ra khỏi tay Diablo. Cùng lúc đó, tôi biến thành hình người và chào hỏi: “Chào mọi người! Mọi người đã vất vả rồi!”.

ph_slime23_ill005.jpg

挨拶は物事の基本だからね。

Chào hỏi là điều cơ bản mà.

別に遅刻した訳でもないので、言い訳する必要はない。しかしながら、みんなが頑張っているところに遅れて参戦したみたいで、何となく居心地が悪かった。

Tôi cũng không đến muộn nên không cần phải viện cớ. Tuy nhiên, cảm giác như mình đến tham chiến muộn trong khi mọi người đang cố gắng hết sức khiến tôi có chút không thoải mái.

それを誤魔すという意味でも、挨拶は有用だったのである。

Theo nghĩa đó, việc chào hỏi cũng rất hữu ích để che giấu cảm giác đó.

というか、そんな事を考える余裕など、現地の惨状を目撃した瞬間に消し飛んだ。

Hay đúng hơn, ngay khoảnh khắc chứng kiến thảm cảnh tại hiện trường, tôi đã không còn tâm trí để nghĩ về những chuyện như vậy nữa.

どえらい状況になっていたのだ。

Tình hình đã trở nên vô cùng tồi tệ.

「ベニマル、状況報告を頼む!」

“Benimaru, báo cáo tình hình!”.

「リムル様、御無事で何よりです!!」

“Rimuru-sama, ngài bình an là tốt rồi!!”.

俺を見るなり歓喜の表情を浮かべたベニマルから、ざっとした報告を受けた。

Tôi nhận được một báo cáo sơ bộ từ Benimaru, người đã tỏ vẻ vui mừng khôn xiết ngay khi nhìn thấy tôi.

この辺、『思念伝達』は超便利である。

Về điểm này, “Truyền Đạt Tư Niệm” thật sự rất tiện lợi.

「えっと、ヴェルドラが負けたと?」

“Ừm, Verudora thua rồi sao?”.

「負けておらぬが?」

“Ta chưa thua đâu?”.

「ミリムもやられたのね」

“Millim cũng bị đánh bại rồi à”.

「やられてないのだ!」

“Tớ chưa bị đánh bại!”.

ヴェルドラがイヴァラージェを相手にしながら、声だけ反応した。

Verudora vừa đối phó với Ivalage vừa lên tiếng đáp lại.

ミリムも起き上がるなり、負けず嫌いを発揮している。

Millim cũng vừa đứng dậy đã thể hiện tính hiếu thắng của mình.

元気そうで何よりだが、イヴァラージェが厄介なのは本当だろう。

Họ có vẻ vẫn ổn, đó là điều tốt, nhưng chắc chắn Ivalage là một đối thủ phiền phức.

残るは敵ボスだけ──と思ったら、それがとんでもなく強かったと。

Cứ ngỡ chỉ còn lại trùm cuối—ai dè hắn lại mạnh đến không tưởng.

漫画とかだと、よくある話だね。

Trong manga các kiểu thì đây là chuyện thường thấy.

それに加えて、ヴェルダナーヴァの復活である。

Thêm vào đó là sự hồi sinh của Verudanava.

俺が説明しなくても、ディーノ達によってヴェルダナーヴァの存在が伝えられていたようだ。それについては手間が省けたと、前向きに考える。

Không cần tôi giải thích, có vẻ như sự tồn tại của Verudanava đã được Dino và những người khác truyền đạt. Về điểm này, tôi nghĩ một cách tích cực rằng mình đã đỡ tốn công.

悩ましいのは、フェルドウェイをどうするか、だ。

Điều đáng lo ngại là phải làm gì với Feldway.

俺は、倒れているフェルドウェイを見た。

Tôi nhìn Feldway đang nằm gục.

どう見ても死にかけている。

Trông rõ ràng là đang hấp hối.

精神生命体にとっての〝死〟とは何か、そんな命題は置いておくとして。エネルギーの流出が止まらない様子からも、枯渇するまでもって数時間というところだ。

Tạm gác lại câu hỏi “cái chết” đối với một thể sống tinh thần là gì. Nhìn cách năng lượng của hắn không ngừng tuôn ra, có lẽ hắn chỉ còn cầm cự được vài giờ nữa trước khi cạn kiệt.

「クフフフフ、いい様ですね、フェルドウェイ」

“Kufufufu, thảm hại thật đấy, Feldway”.

ディアブロが、そう煽った。

Diablo khiêu khích.

煽り名人の名に恥じず、何時でも何処でもどんな場面でも、ディアブロは敵対者に容赦ないのだ。

Xứng danh bậc thầy khiêu khích, dù ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, trong bất kì hoàn cảnh nào, Diablo cũng không hề nương tay với kẻ thù.

「フッ、私は愚かだった」

“Hừ, ta đã quá ngu ngốc”.

そうだね、としか言いようがない。

Ừm, tôi chỉ có thể nói vậy thôi.

本当に反省している様子だが、やらかし度合が酷過ぎて、慰める気も起きなかった。

Hắn có vẻ thực sự hối hận, nhưng những gì hắn gây ra quá tồi tệ, tôi chẳng có tâm trạng nào để an ủi cả.

「今更自覚したのですか? やれやれ、これだから貴方は愚鈍なのですよ」

“Đến bây giờ ngài mới nhận ra sao? Haiz, chính vì thế nên ngài mới ngu dốt như vậy đấy”.

ディアブロは辛辣だ。

Diablo thật cay độc.

というか、『愚鈍』とか人に向かって言う言葉じゃないよね。

Hay đúng hơn, “ngu dốt” không phải là từ để nói thẳng vào mặt người khác nhỉ.

なかなかに重めの悪口だ。陰でコソコソ言う事はあるかも知れないが、面と向かって言うヤツは滅多にいないと思う。

Đó là một lời lăng mạ khá nặng nề. Có thể người ta sẽ nói lén sau lưng, nhưng tôi nghĩ hiếm có ai lại nói thẳng vào mặt như vậy.

でも、相手はフェルドウェイなので、同情する必要はないのだ。

Nhưng đối phương là Feldway nên không cần phải thương hại.

「おいおい、ディアブロ! 事実だとしても、そう言ってやるなよ!」

“Này này, Diablo! Dù đó là sự thật thì cũng đừng nói như vậy chứ!”.

と、ディーノが窘(たしな)めようとしているが、その発言にも毒があるな。

Dino đang cố gắng can ngăn, nhưng lời nói của anh ta cũng chẳng tốt đẹp gì.

そう思ったのは、俺だけではなかったようだ。

Có vẻ không chỉ mình tôi nghĩ vậy.

「ディーノもフォローになってないよね」

“Dino cũng chẳng bênh vực được gì cả”.

「いいんじゃないか? コイツは反省すべきだし、アタイだって腐るほど文句を言ってやりたいくらいだからね」

“Thế chẳng tốt sao? Tên này đáng bị như vậy, ngay cả tui cũng muốn chửi cho hắn một trận ra trò đây này”.

「そうだけどさ、死にかけてるヤツに言ってもね……」

“Đúng là vậy, nhưng nói với một kẻ đang hấp hối thì...”.

「まあね。少なくとも、フェルドウェイがヴェルダナーヴァ様の足止めをしてくれなければ、アタイ達もとっくに御陀仏だっただろうしね」

“Cũng đúng. Ít nhất thì, nếu Feldway không cầm chân Verudanava-sama, có lẽ bọn tui cũng đã đi đời từ lâu rồi”.

そんな具合に、ピコとガラシャも複雑な感情を吐露し合っていた。

Cứ như thế, Pico và Garcia cũng đang thổ lộ những cảm xúc phức tạp của mình.

ディーノと気持ちは同じだったようで、イマイチ煮え切らない態度である。

Có vẻ họ cũng có cùng suy nghĩ với Dino, thái độ không dứt khoát.

オベーラも思うところはあるようだが、会話に加わらずに一線を引いていた。

Obera dường như cũng có suy nghĩ riêng, nhưng cô không tham gia vào cuộc trò chuyện mà giữ một khoảng cách nhất định.

口を挟んだのは、駆け付けてきたザラリオだった。

Người xen vào là Zalario, người vừa chạy đến.

「気になって来てみたら、フェルドウェイなのか? 貴様、どうして死にかけている?」

“Ta lo lắng nên đến xem, là Feldway sao? Ngươi, tại sao lại sắp chết thế này?”.

そう言い放って、フェルドウェイを睨んでいる。

Hắn nói vậy rồi lườm Feldway.

そんなザラリオに、フェルドウェイは微笑みかけた。

Feldway mỉm cười với Zalario.

「君にも……謝罪しておきたかった。悪かったな……ザラリオ……」

“Ta cũng... muốn xin lỗi ngươi. Ta xin lỗi... Zalario...”.

「は? 今更か?」

“Hả? Bây giờ sao?”.

「フッ、私はもう、長くないからな……」

“Hừ, ta không còn sống được bao lâu nữa...”.

フェルドウェイが自嘲する。

Feldway tự giễu.

そして、これまでの自分の行いを思い返しつつ、懺(ざん)悔(げ)するように語り始めた。

Rồi, hắn vừa hồi tưởng lại những việc mình đã làm, vừa bắt đầu kể lể như đang sám hối.

「私はね、盲目だった……。それがヴェルダナーヴァ様の願いだと信じて、自分の行動に何の疑問も抱かずに……愚かな行為を積み重ねてしまった。その罪を償う術もないが……最後に一つ、心残りがある……」

“Ta đã mù quáng... Tin rằng đó là mong muốn của Verudanava-sama, ta đã không hề nghi ngờ hành động của mình... và cứ thế chồng chất những hành vi ngu ngốc. Không có cách nào để chuộc lại tội lỗi đó... nhưng cuối cùng, ta vẫn còn một điều hối tiếc...”.

ディーノ、ピコ、ガラシャが。

Dino, Pico và Garcia.

オベーラが。

Obera.

そして、ザラリオが。

Và cả Zalario.

静かに耳を傾けていた。

Đang lặng lẽ lắng nghe.

かつて友だった者の、最期の言葉に。

Lời trăn trối của người từng là bạn.

「私はね……今も迷走を続けているあの御方を、救い出して差し上げたいのだ……」

“Ta... muốn cứu giúp ngài ấy, người vẫn đang lạc lối...”.

しんみりと告げられたのは、まだ色褪せていない主への忠誠の言葉だった。

Lời trăn trối buồn bã ấy là lời thề trung thành với chủ nhân vẫn chưa phai mờ.

その心意気だけは、見上げたものだと感心させられた。

Chí ít thì tinh thần đó cũng đáng để khâm phục.

とは言え、その望みを叶えるのは難しいだろうな。

Dù vậy, thực hiện mong muốn đó có lẽ sẽ rất khó khăn.

ヴェルダナーヴァが忠告を聞く耳を持っていたなら、こんな状況になっていないだろうし。ヴェルザードの話を聞く限り、危険思想を原動力にして動いていそうだった。

Nếu Verudanava chịu lắng nghe lời khuyên, tình hình đã không đến mức này. Nghe Veruzard kể, có vẻ như hắn đang hành động dựa trên những tư tưởng nguy hiểm.

今も天空にて俺達を見下ろしているが、動かない理由はただ一つ。

Bây giờ hắn vẫn đang nhìn xuống chúng ta từ trên trời, nhưng lí do hắn không hành động chỉ có một.

イヴァラージェが健在だからだ。

Đó là vì Ivalage vẫn còn đó.

俺達の力を試しているというより、自分の手を汚さずにイヴァラージェ達だけで事を終わらせようとしているのだろうと思われた。

Thay vì nói là đang thử sức mạnh của chúng ta, có lẽ hắn định để Ivalage tự giải quyết mọi chuyện mà không cần nhúng tay vào.

《そうでしょうか?》

<<Có thật vậy không ạ?>>

違うかな?

Không phải sao?

俺達を警戒している様子はない。

Hắn không có vẻ gì là đang cảnh giác với chúng ta.

俺達が足掻いているのを見て楽しんでいる──という感じではないし、何かを待っている、とか?

Cũng không có cảm giác như hắn đang thích thú nhìn chúng ta vùng vẫy—hay là đang chờ đợi điều gì đó?

《……不明ですが、何が狙いであろうと対処可能です。ただし──》

<<...Không rõ ạ, nhưng dù mục đích là gì thì chúng ta vẫn có thể đối phó. Tuy nhiên—>>

油断はするな、って事ね。

Ý là đừng lơ là cảnh giác, phải không.

了解ですとも!

Rõ rồi!

俺はヴェルダナーヴァへの警戒を密にしつつ、フェルドウェイの前に立った。

Tôi vừa tăng cường cảnh giác với Verudanava, vừa đứng trước mặt Feldway.

「お前では無理だったんだろ? それでもまだ、ヴェルダナーヴァに挑むつもりなのか?」

“Ngươi đã không làm được, đúng không? Dù vậy mà vẫn định thách thức Verudanava sao?”.

「フッ、それが私の役目なのだ。愚かなこの身を、せめて役立てて──」

“Hừ, đó là vai trò của ta. Ít nhất cũng phải để cơ thể ngu ngốc này có ích—”.

そう言いながら、フェルドウェイは立ち上がろうとする。

Vừa nói, Feldway vừa cố gắng đứng dậy.

が、しかし。

Nhưng mà.

それだけで腕が崩れて、フェルドウェイはまたも無様に転がってしまった。

Chỉ vậy thôi mà cánh tay hắn đã tan rã, và Feldway lại một lần nữa ngã lăn ra một cách thảm hại.

あれだけ唯我独尊で、用心深かったのに。

Vậy mà hắn đã từng kiêu ngạo và cẩn trọng đến thế.

今は見る影もなく、無残だ。

Bây giờ thì thảm hại không còn gì để nói.

同情するつもりはないが、少しだけ憐れに思えた。

Tôi không có ý định đồng cảm, nhưng cũng thấy có chút thương hại.

このまま放置すれば死にそうだけど、そもそもの話、俺は助けられるのだろうか?

Nếu cứ để mặc thì hắn có vẻ sẽ chết, nhưng mà nói đi cũng phải nói lại, liệu tôi có thể cứu hắn được không?

《可能です》

<<Có thể ạ.>>

あ、出来るのね。

À, được sao.

それなら、悩むのは後回しかな?

Vậy thì, chuyện lo lắng để sau đi?

敵の敵は味方、という。

Người ta nói, kẻ thù của kẻ thù là bạn.

フェルドウェイはヴェルダナーヴァを止めようとしているのだから、今は味方だと割り切ろう。

Feldway đang cố gắng ngăn chặn Verudanava, nên bây giờ cứ coi hắn là đồng minh đi.

俺は利用できるものなら何でも利用する主義なので、迷うのは一瞬だった。

Tôi là người theo chủ nghĩa tận dụng mọi thứ có thể, nên chỉ do dự trong một thoáng.

「よしよし、それなら協力を要請するぞ。今から君を助けるから、ヴェルダナーヴァを何とかし終わるまでは、我々の指揮下に入るように!」

“Được rồi, vậy thì ta yêu cầu sự hợp tác của ngươi. Bây giờ ta sẽ cứu ngươi, cho đến khi giải quyết xong Verudanava, ngươi phải hoạt động dưới sự chỉ huy của chúng ta!”.

俺はフェルドウェイの言葉を遮り、一方的にそう告げた。

Tôi ngắt lời Feldway và đơn phương tuyên bố.

取り敢えず、治療からだね。

Trước mắt, cứ chữa trị đã nhỉ.

《お任せを》

<<Cứ để đó cho em.>>

俺の決定に従い、シエルさんが作業を開始する。

Theo quyết định của tôi, Ciel-san bắt đầu công việc.

腕を変化させてスライム状態にして、そのままフェルドウェイを呑み込んだ。

Tôi biến cánh tay thành dạng slime và nuốt chửng Feldway.

「リ、リムル様!? まさか、こんな愚か者にまで、高貴なる御身の一部(スライムさいぼう)を──!?」

“Ri-Rimuru-sama!? Không lẽ, ngay cả với một kẻ ngu dốt thế này, ngài cũng ban cho một phần cơ thể cao quý của mình—!?”.

などと言ってディアブロが嘆いているが、コイツは何がしたいのやら……。

Diablo than thở như vậy, nhưng tên này rốt cuộc muốn gì đây...

別に高貴じゃないし、それ以前に、何をどうやっているのか、俺にもサッパリなのだ。

Tôi cũng chẳng cao quý gì, và trước đó, tôi cũng chẳng hiểu mình đang làm cái quái gì nữa.

嘆かれても、知った事じゃない、というのが本音だった。

Thật lòng mà nói, dù cậu ta có than thở thì cũng mặc kệ.

そんなこんなで、あっと言う間に治療は完了。

Cứ như vậy, việc chữa trị đã hoàn tất trong chớp mắt.

俺はポイッと、完治したフェルドウェイを放り投げたのだった。

Tôi ném Feldway đã hoàn toàn bình phục ra.

フェルドウェイが回復した。

Feldway đã hồi phục.

茫然としているが、放置する。

Hắn đang ngơ ngác, nhưng tôi mặc kệ.

大事なのは、今後の方針なのだ。

Điều quan trọng là phương hướng sắp tới.

「えっと、意思統一的には、ヴェルダナーヴァも倒す方向でいいんだよね?」

“Ừm, vậy là chúng ta thống nhất sẽ đánh bại cả Verudanava, đúng không?”.

コンセンサスを得るのは、社会人として当然である。

Việc đạt được sự đồng thuận là điều hiển nhiên đối với một người đi làm.

ここで方針が定まっていないと、途中で空中分解しかねないしね。

Nếu không xác định rõ phương hướng ở đây, mọi thứ có thể đổ bể giữa chừng.

そう思っての問いだったのだが……。

Tôi hỏi với suy nghĩ đó, nhưng...

「簡単に言うでないわ!」

“Đừng có nói dễ dàng như vậy!”.

ルミナスからは、怒られた。

Tôi đã bị Luminous mắng.

妾(わらわ)でも蘇生不可能なのに、どういう事じゃ? 的な事をブツブツ呟いているが、八つ当たりは止めて欲しい。

Thiếp còn không thể hồi sinh được hắn, sao lại thế được? Thiếp lẩm bẩm những lời như vậy, nhưng tôi mong thiếp đừng trút giận lên tôi.

俺にも理解出来ないので、そういう苦情はシエルさんにお願いしたいものだ。

Tôi cũng không hiểu được, nên nếu có khiếu nại gì thì làm ơn hãy nói với Ciel-san.

「お馬鹿さんだとは思っていたけど、本気でお兄様に勝てるつもりなのかしら?」

“Tôi đã nghĩ cậu là một kẻ ngốc rồi, nhưng không ngờ cậu lại thực sự nghĩ mình có thể thắng được anh trai tôi sao?”.

ヴェルグリンドには、呆れられた。

Verugrynd thì tỏ ra chán nản.

フェルドウェイを横目で見て、「勝てるつもりなのでしょうね……」と勝手に納得しているが、俺にそんなつもりはない。

Chị ta liếc nhìn Feldway rồi tự mình kết luận “Chắc là cậu ta nghĩ mình thắng được...”, nhưng tôi không hề có ý đó.

みんなで頑張ろう! という気持ちで一杯だった。

Tôi chỉ tràn đầy tinh thần “Mọi người cùng cố gắng nào!”.

「リムルさん。全部終わったら雇ってくれるよね?」

“Rimuru-san. Sau khi mọi chuyện kết thúc, anh sẽ thuê tôi chứ?”.

それ、今言う必要あった?

Cái đó, có cần phải nói bây giờ không?

というか、お前を雇っているのはラミリスだし……。

Hay đúng hơn, người thuê ngươi là Lamrys mà...

ディーノのマイペースっぷりには、俺だけじゃなくピコやガラシャまで呆れてるぞ!

Sự vô tư của Dino không chỉ khiến tôi mà cả Pico và Garcia cũng phải bó tay!

「我は負けてないからな! 本気を出せば勝てるとも!」

“Ta chưa thua đâu! Nếu nghiêm túc thì ta thắng chắc!”.

まだ言ってたの、それ?

Vẫn còn nói câu đó à?

ヴェルドラは今も、イヴァラージェを相手に格闘戦の真っ最中だ。かなり凹(ボコ)られているのに声だけ投げかけてくるとか、器用な真似をするものだ。

Verudora hiện vẫn đang cận chiến với Ivalage. Dù đang bị đánh cho tơi tả mà vẫn còn nói vọng lại được, đúng là khéo thật.

ヴェルドラが美女に弱いのは、もうバレバレなんだよね。

Việc Verudora yếu lòng trước phụ nữ đẹp đã bị lộ tẩy hết rồi.

全力を出せないのに『全力なら』とか、意味のない仮定であった。

Không thể dốc toàn lực mà lại nói “nếu dốc toàn lực”, đúng là một giả định vô nghĩa.

「ワタシだって、万全の状態なら余裕なのだ!!」

“Tớ cũng vậy, nếu ở trạng thái hoàn hảo thìสบาย như chơi!!”.

ミリムの場合は、暴れ過ぎ。

Trường hợp của Millim thì là do quậy phá quá nhiều.

こちらもヴェルドラを盾にして、必死に応戦中。そして、押されている。

Cô bé cũng đang lấy Verudora làm lá chắn, liều mạng chống trả. Và đang bị áp đảo.

負けず嫌いなのはいいとして、少しは現実を見るべきだと思う。

Tính hiếu thắng thì cũng tốt thôi, nhưng tôi nghĩ nên nhìn vào thực tế một chút.

他にもヒナタとか、物言いたげな面々もいたが、コンセンサスどころの話ではないのは理解した。

Ngoài ra còn có Hinata và những người khác có vẻ muốn nói gì đó, nhưng tôi hiểu rằng đây không phải là lúc để bàn về sự đồng thuận.

イヴァラージェ相手でも四苦八苦していたのなら、ヴェルダナーヴァまで参戦したらお手上げだね。

Nếu ngay cả đối đầu với Ivalage đã vất vả thế này, thì nếu Verudanava cũng tham chiến thì đúng là bó tay.

「どうするのかしら、リムル?」

“Cậu định làm gì đây, Rimuru?”.

ヴェルザードがニッコリとした笑顔を向けて、俺に聞く。

Veruzard mỉm cười và hỏi tôi.

「どうして俺に聞くんですかね? ギィもいるんだから、そちらにも意見を聞いてだね……」

“Tại sao lại hỏi tôi chứ? Có cả Guy ở đây mà, sao không hỏi ý kiến của anh ta...”.

なんだか、非常にマズイ流れだ。

Sao mà, tình hình có vẻ rất tệ.

全部の責任を俺に押し付けようとする、邪悪な気配が感じ取れた気がする。

Tôi có cảm giác như mình đang cảm nhận được một luồng khí xấu xa đang cố gắng đổ hết trách nhiệm lên đầu tôi.

《気のせいでは?》

<<Chỉ là ảo giác thôi ạ?>>

違う。断じて!

Không. Chắc chắn không phải!

そりゃまあ、倒すしかないというのが結論なのだから、悩んでいても仕方ないんだけどさ。

Ừ thì, kết luận là chỉ có thể đánh bại hắn, nên dù có lo lắng cũng chẳng ích gì.

「お姉様もコチラ側なのかしら?」

“Chị cũng theo phe này sao?”.

「そうよ。私はギィがいれば、それでいいもの」

“Đúng vậy. Tôi chỉ cần có Guy là đủ rồi”.

「奇遇ね。私もマサユキがいれば、それだけでいいわ」

“Trùng hợp thật. Tôi cũng chỉ cần có Masayuki là đủ rồi”.

自己中な会話を繰り広げる〝竜種〟姉妹。勝とうが負けようが、生き方がブレなければそれでいい、というスタンスみたいだ。

Hai chị em “Long chủng” đang có một cuộc trò chuyện ích kỉ. Dường như quan điểm của họ là, dù thắng hay thua, miễn là cách sống không thay đổi thì thế nào cũng được.

見習いたいものだが、俺としてはそれだけでは不十分。

Tôi cũng muốn học hỏi điều đó, nhưng đối với tôi, chỉ vậy thôi là chưa đủ.

戦いというのは、勝ってこそ意味があるものなのだ。

Chiến đấu, chỉ có chiến thắng mới có ý nghĩa.

という訳で、前向きに作戦を検討したいのだが……。

Vì vậy, tôi muốn xem xét kế hoạch một cách tích cực, nhưng...

「リムルく〜ん」

“Rimuru-kun〜”.

「いやいや、その案は却下で」

“Không không, đề xuất đó bị bác bỏ”.

「まだ何も言ってねーだろうが!」

“Ta đã nói gì đâu!”.

「言われてからじゃ遅いというか、そもそも、お前が俺を〝君〟付けで呼んだ時は、ろくな思い出がないんだよ!!」

“Đợi ngươi nói ra thì muộn rồi, hơn nữa, những lúc ngươi gọi ta là “kun” thì ta chẳng có kí ức tốt đẹp nào cả!!”.

ギィの猫撫で声を聞くなり、俺は即座に却下した。

Nghe thấy giọng nói ngọt ngào của Guy, tôi đã ngay lập tức từ chối.

ギィが苦情を述べてくるが、知った事ではない。

Guy phàn nàn, nhưng tôi mặc kệ.

前向きな打ち合わせは歓迎だが、どう考えても、俺に厄介ごとを押し付けようとしていただけだろうしな。

Một cuộc họp tích cực thì tôi hoan nghênh, nhưng rõ ràng là hắn chỉ đang cố đổ việc phiền phức lên đầu tôi mà thôi.

「まあいいさ。オレがイヴァラージェの相手をするからよ、お前はヴェルダナーヴァを抑えておいてくれや」

“Thôi được rồi. Ta sẽ đối phó với Ivalage, ngươi hãy kìm chân Verudanava đi”.

「は?」

“Hả?”.

ギィがヴェルダナーヴァの相手をしてくれる約束だったのに、いつの間にか話が変わっていた。

Rõ ràng đã hứa là Guy sẽ đối phó với Verudanava, vậy mà không biết từ lúc nào câu chuyện đã thay đổi.

了承した覚えはないので反論を試みたいが、そんな事をやっている場合ではなさそうだね……。

Tôi không nhớ là mình đã đồng ý nên muốn phản bác, nhưng có vẻ đây không phải là lúc để làm vậy...

「時間稼ぎしろ、って言ってんだよ。得意だろ?」

“Ý ta là câu giờ đi. Ngươi giỏi việc đó mà, phải không?”.

いやまあ、得意ですけど?

Ừ thì, tôi giỏi thật?

だけどさ、どうして俺が一番の大役なんですかね?

Nhưng mà, tại sao tôi lại phải đảm nhận vai trò quan trọng nhất chứ?

「あのね? 僕はさ、暴走したミリムの相手をして疲れて──」

“Này nhé? Tớ đã mệt mỏi vì phải đối phó với Millim nổi điên rồi—”.

「その話は、もう忘れるのだ!」

“Chuyện đó, quên đi!”.

「そうだぞ。昔の話を持ち出すんじゃねーよ!」

“Đúng đấy. Đừng có lôi chuyện cũ ra nữa!”.

いやいやいや、昔どころか、まさに今日の出来事ですけど!?

Không không không, đâu phải chuyện cũ, mà là chuyện mới xảy ra hôm nay mà!?

ふう、気にしたら負けだ。

Haiz, bận tâm là thua.

このまま無視して、こちらの意見を押し付けるべきであろう。

Cứ phớt lờ và áp đặt ý kiến của mình thôi.

「自分勝手に暴れていたヴェルザードさんを相手にしてだね──」

“Tôi đã phải đối phó với Veruzard-san, người đã tự ý nổi điên—”.

「それはオレが解決しただろ」

“Chuyện đó ta đã giải quyết rồi mà”.

「そうよ。リムルは協力しただけ。私はギィに説得(こくはく)されたから、正気に戻れたのよ」

“Đúng vậy. Rimuru chỉ hợp tác thôi. Tôi tỉnh lại là nhờ được Guy thuyết phục (tỏ tình) đó”.

ぐぬぬ……。

Grừ...

コイツら、バカップルなのかな?

Mấy người này, là một cặp đôi ngốc nghếch sao?

これだから、〝竜種〟という奴等は困る。

Đúng là, đám “Long chủng” này thật phiền phức.

自分が贔(ひい)屓(き)しているという自覚もなく、全力でたった一人に尽くすんだもんな……。

Chẳng hề ý thức được mình đang thiên vị, lại còn hết lòng vì một người duy nhất...

ギィ以上に、ヴェルザードの説得は無理筋だ。

Thuyết phục Veruzard còn khó hơn cả Guy.

俺はそう悟って、方針を変える事にした。

Tôi nhận ra điều đó và quyết định thay đổi phương châm.

「──ふう。俺ってさ、ちょっと働き過ぎだと思うんだよね」

“—Haiz. Tôi nghĩ mình làm việc hơi quá sức rồi đấy”.

情に訴える作戦である。

Đây là kế sách đánh vào tình cảm.

というか、流石に創造神を相手にしろと言われても困るのだ。

Hay đúng hơn, bảo tôi đối phó với Thần Sáng Tạo thì tôi cũng khó xử lắm.

俺は、元は単なるサラリーマンだった訳だし、それなりに修羅場を潜ったものの、しがない一般人──は無理があるが、単なる一魔王に過ぎない訳でしてね。

Tôi vốn chỉ là một nhân viên văn phòng bình thường, dù đã trải qua không ít sóng gió, nhưng vẫn chỉ là một người dân tầm thường—nói vậy thì hơi quá, nhưng cũng chỉ là một Ma vương mà thôi.

「ここにはさ、ディーノさんやルミナス様もいるじゃないですか。僕一人に重大任務を押し付けるのは──」

“Ở đây còn có Dino-san và Luminous-sama mà. Giao một nhiệm vụ trọng đại cho một mình tôi thì—”.

「いいから、お前がやれ」

“Thôi đi, ngươi làm đi”.

「うぐっ……」

“Ực...”.

「リムルさん、俺に〝さん〟付けとか不要だぜ。その分、給料を弾んでくれよ!」

“Rimuru-san, không cần phải thêm “-san” vào tên tôi đâu. Thay vào đó, trả lương hậu hĩnh cho tôi là được!”.

笑顔で言うな。

Đừng có nói với nụ cười đó.

ついでに、働く前から給料交渉とかナンセンスだぞ!

Nhân tiện, chưa làm đã đòi thương lượng lương lậu là vô lí đấy!

「アタイも雇ってくれ!」

“Thuê cả tui nữa!”.

「私もお願いね! ディーノよりは働くからさ」

“Tôi cũng xin một chân nhé! Tôi sẽ làm việc chăm chỉ hơn Dino cho mà xem”.

そりゃあね、ディーノに比べれば、誰だって働き者になるでしょうよ。

Chà, so với Dino thì ai cũng trở thành người chăm chỉ thôi.

「妾(わらわ)への〝様〟付けも不要じゃ。気持ち悪いわ!」

“Không cần phải gọi thiếp là “-sama” đâu. Nghe ghê quá!”.

酷い言われようですこと。

Bị nói thậm tệ quá đi mất.

確かにさ、下心は満載だったけど……。

Đúng là, tôi cũng có ý đồ không trong sáng thật...

どうにか逃げられないかと試行錯誤してみたが、どうやら無理そうだ。

Tôi đã thử đủ mọi cách để trốn thoát, nhưng có vẻ là không được.

ギィが真面目な表情になって、こう言ったのだ。

Guy trở nên nghiêm túc và nói.

「マジな話、オレは一度、ヴェルダナーヴァに負けている。ヤツがどの程度全盛期の力を取り戻しているのかは不明だがよ、全員で挑む方が勝率も高いと思うぜ」

“Nói thật, ta đã từng thua Verudanava một lần. Không rõ hắn đã hồi phục được bao nhiêu sức mạnh thời kì đỉnh cao, nhưng ta nghĩ nếu tất cả cùng xông lên thì tỉ lệ thắng sẽ cao hơn đấy”.

ギィが本音を漏らすなんて珍しいので、俺も頷くしかなかったのだった。

Hiếm khi Guy lại nói thật lòng như vậy, nên tôi cũng đành phải gật đầu.

俺がヴェルダナーヴァを相手に時間稼ぎしている間に、ギィがイヴァラージェを倒す。

Trong lúc tôi câu giờ với Verudanava, Guy sẽ đánh bại Ivalage.

その後、全員でヴェルダナーヴァをフルボッコする──というのが、大まかな作戦である。

Sau đó, tất cả sẽ cùng nhau hội đồng Verudanava—đó là kế hoạch chung.

穴だらけ、とか言ってはいけない。

Không được nói là kế hoạch đầy lỗ hổng.

決定的に情報不足なので、効果的な作戦など立てようがないのだ。

Vì thiếu thông tin trầm trọng nên không thể nào lập ra một kế hoạch hiệu quả được.

ちなみに、ここに集っている各国の皆さんには、ヴェルダナーヴァの復活を伝えない事になった。

Nhân tiện, chúng tôi đã quyết định không thông báo về sự hồi sinh của Verudanava cho đại diện các quốc gia đang tập trung ở đây.

言っても意味がないどころか、パニックになるだけだ、という判断である。

Chúng tôi nhận định rằng nói ra không những vô ích mà còn gây ra hoảng loạn.

方針が決まったので、ギィがイヴァラージェに向かって行った。

Phương châm đã được quyết định, Guy tiến về phía Ivalage.

俺はというと、ヴェルダナーヴァが降りて来るまで放置予定。

Còn tôi thì định sẽ để yên cho đến khi Verudanava xuống đây.

サボろうとしている訳ではない。

Tôi không có ý định trốn việc đâu.

どうせ時間稼ぎするなら、戦闘開始時間を少しでも遅らせるべきなのだ。

Nếu đằng nào cũng phải câu giờ, thì nên trì hoãn thời gian bắt đầu trận chiến càng lâu càng tốt.

実に良い考え──と自画自賛しようと思ったら、目の前にフェルドウェイそっくりの男が立っていた。

Đúng là một ý tưởng hay—tôi vừa định tự khen mình thì một người đàn ông giống hệt Feldway đã đứng trước mặt.

うわ、『瞬間移動』ですか!?

Uwa, là “Dịch Chuyển Tức Thời” sao!?

俺は慌てて回避した。

Tôi vội vàng né tránh.

ヴェルダナーヴァは『瞬間移動』するなり、俺の頭部目掛けて腕を振ったのだ。少しでも遅れていたら、俺の首が斬り飛ばされていただろう。

Verudanava vừa “Dịch Chuyển Tức Thời” đã vung tay nhắm vào đầu tôi. Nếu chậm một chút thôi, có lẽ đầu tôi đã bay đi rồi.

油断していたら終わっていた。

Nếu lơ là một chút là xong đời rồi.

シエルさんの忠告に感謝である。

Cảm ơn lời cảnh báo của Ciel-san.

《首が離れたくらい、平気です》

<<Dù đầu có lìa khỏi cổ cũng không sao đâu ạ.>>

……。

...

平気な訳ないだろ。

Sao mà không sao được chứ.

それって、人間止めてるよね?

Làm vậy là không còn là người nữa rồi, đúng không?

スライムだけど──って、そういう問題じゃなくて、だ。

Tôi là slime nhưng—vấn đề không phải ở đó.

俺の不死身っぷりも大したものだよ、本当。

Sự bất tử của tôi cũng ghê gớm thật đấy.

それにしても、遂に動いたか。

Dù sao thì, cuối cùng hắn cũng hành động rồi.

「……?」

“...?”

ヴェルダナーヴァは不思議そうに、自分の手を見ている。

Verudanava nhìn tay mình một cách khó hiểu.

その見た目は、色違いだがフェルドウェイそっくり。

Ngoại hình của hắn giống hệt Feldway, chỉ khác màu sắc.

瞳の色は、金。

Màu mắt là màu vàng kim.

漆黒の長髪は、星の如く輝いていた。

Mái tóc dài đen tuyền lấp lánh như những vì sao.

容貌は同じなのだろうと思えるが、不思議とヴェルダナーヴァの方が色気があった。

Dung mạo có lẽ là giống nhau, nhưng kì lạ là Verudanava lại có vẻ quyến rũ hơn.

「避けたのか?」

“Ngươi đã né được sao?”.

「そりゃあ、避けるでしょ」

“Đương nhiên là phải né rồi”.

痛覚はないけど、痛いのは嫌だし。

Dù không có cảm giác đau, nhưng tôi vẫn ghét bị đau.

というか、幻肢痛という言葉があるように、気分的に痛そうに感じるだけでも大変なのだ。俺って想像力豊かだから、首を斬られた日にはショックを受けちゃいそうなんだよ。

Hay đúng hơn, giống như có thuật ngữ “đau chi ma”, chỉ cần cảm thấy đau trong tưởng tượng thôi cũng đã khổ sở rồi. Tôi có trí tưởng tượng phong phú, nên nếu bị chặt đầu chắc tôi sẽ sốc lắm.

そうじゃなくても、絶対にお断りだけどね。

Dù không phải vậy, tôi vẫn tuyệt đối từ chối.

「やはり、君は極大特異点(シンギュラリティ)だね」

“Quả nhiên, ngươi chính là điểm kì dị cực đại (Singularity) nhỉ”.

は?

Hả?

意味不明な事を言い出したけど、俺には心当たりなどない。

Hắn bắt đầu nói những điều khó hiểu, nhưng tôi chẳng biết gì cả.

なので当然、「知らん」と答えた。

Nên đương nhiên, tôi trả lời “Không biết”.

「あのさ、本当に〝星王竜〟ヴェルダナーヴァさんなんですかね?」

“Này, ngài có thật sự là “Tinh Vương Long” Verudanava-san không vậy?”.

「そうだ」

“Đúng vậy”.

直球で聞いてみたら、あっさりと答えられた。

Tôi hỏi thẳng và nhận được câu trả lời một cách dễ dàng.

ならばと思い、畳み掛けるように質問を続ける。

Nghĩ vậy, tôi tiếp tục dồn dập hỏi.

「どうして世界を滅ぼそうとするんですか?」

“Tại sao ngài lại muốn hủy diệt thế giới?”.

煽っている感じになった気もするが、多分大丈夫。喧嘩もそうだが、舐められたら負けだからね。

Tôi có cảm giác như mình đang khiêu khích, nhưng chắc là không sao. Cãi nhau cũng vậy, bị coi thường là thua.

ここは一つ、冷静な対応を心掛けねばなるまいよ。

Lúc này, tôi phải cố gắng giữ bình tĩnh.

「君達が失敗作だと判断したからだ」

“Vì ta đã phán đoán rằng các ngươi là những sản phẩm thất bại”.

「は?」

“Hả?”.

かっちーん、となってしまったが、我慢だ。

Tôi đã nổi điên, nhưng phải kiềm chế.

「言葉通りの意味だ。ボクが愛する妻を奪った者達を、決して赦(ゆる)す気になれなかっただけさ」

“Nghĩa đen như lời ta nói. Ta chỉ là không thể tha thứ cho những kẻ đã cướp đi người vợ mà ta yêu thương”.

ヴェルダナーヴァはそう言って、今度は闘気(オーラ)を剣の形に固定させて構えた。

Verudanava nói vậy, rồi lần này hắn ngưng tụ đấu khí (aura) thành hình một thanh kiếm và thủ thế.

俺如きを相手にわざわざ武器まで用意してくれたようで、嬉しい限りである。

Hắn đã phải chuẩn bị cả vũ khí để đối phó với một kẻ như tôi, tôi thực sự rất vui.

その時、頼もしき味方が参戦してくれた。

Đúng lúc đó, một đồng minh đáng tin cậy đã tham chiến.

俺に並び立つようにして、フェルドウェイが剣を構えて立ったのだ。

Feldway đứng cạnh tôi, cũng thủ thế với thanh kiếm của mình.

頑張れ、フェルドウェイ!

Cố lên, Feldway!

君を助けた恩を、今直ぐ返してくれたら嬉しいな。

Nếu ngươi có thể trả ơn cứu mạng ngay bây giờ thì ta sẽ rất vui.

「貴方様は間違っている! 臣下として、私は貴方様を止める!!」

“Ngài đã sai rồi! Với tư cách là một bề tôi, tôi sẽ ngăn cản ngài!!”.

よし、いいぞ!

Tốt, được lắm!

フェルドウェイよ、その意気だ! と、俺は全面的にバックアップする所存である。

Feldway, cứ giữ tinh thần đó! Tôi hoàn toàn ủng hộ ngươi.

ギィはイヴァラージェの相手をしているし、ミリムやヴェルドラはそのサポートを行っている。

Guy đang đối phó với Ivalage, còn Millim và Verudora đang hỗ trợ.

ヴェルザードとヴェルグリンドの姉妹は、戦闘の余波を抑え込む役割を担っていた。

Hai chị em Veruzard và Verugrynd đang đảm nhận vai trò kiềm chế dư chấn của trận chiến.

つまり、ここで俺達まで大暴れしてしまうと、それはそれで大惨事になりかねないのだ。

Nói cách khác, nếu cả chúng tôi cũng nổi điên ở đây, thì đó có thể sẽ là một thảm họa lớn.

フェルドウェイが相手をして、俺がサポートする。

Feldway sẽ đối đầu, và tôi sẽ hỗ trợ.

地表を氷化させて、大地への影響を極力抑え込む寸法だ。

Tôi sẽ đóng băng mặt đất để giảm thiểu tối đa ảnh hưởng đến mặt đất.

「それ、私の権能よね……?」

“Đó, là quyền năng của tôi mà nhỉ...?”.

と、ヴェルザードが物言いたげだったが、無視である。

Veruzard có vẻ muốn nói gì đó, nhưng tôi lờ đi.

解析した時点で、当然のように扱えるようになっていた。それを説明すると長くなるので、気付かなかったフリをしてやり過ごしたのだ。

Ngay từ lúc phân tích, tôi đã có thể sử dụng nó một cách tự nhiên. Giải thích chuyện đó sẽ rất dài dòng, nên tôi giả vờ không nhận ra và cho qua.

イヴァラージェの方は、ヴェルザード達が。

Phía Ivalage thì do Veruzard và những người khác lo.

ヴェルダナーヴァの方は、俺が責任を持って抑える。

Phía Verudanava thì tôi sẽ chịu trách nhiệm kiềm chế.

これが最も自然で、被害が少なくなる組み合わせなのだった。

Đây là sự kết hợp tự nhiên nhất và sẽ giảm thiểu thiệt hại nhất.

ついでに、ここにはベニマルもいるし、テスタロッサも控えている。

Nhân tiện, ở đây cũng có Benimaru, và Testarossa cũng đang chờ lệnh.

ディアブロもいる。

Diablo cũng ở đây.

面倒臭いヤツだが、こういう時は頼もしい。

Dù là một kẻ phiền phức, nhưng trong những lúc thế này lại rất đáng tin cậy.

ウルティマもこちらに駆け付けてくれたようで、協力態勢はバッチリだった。

Ultima cũng đã chạy đến đây, nên hệ thống hợp tác đã hoàn hảo.

ただ、ヴェルダナーヴァの力加減を把握してからじゃないと、何かあってはと不安だった。エネルギー量だけで勝敗が決する訳ではないのだが、桁違いのパワー相手には技だけでは対処不可能なのである。

Chỉ là, nếu không nắm được sức mạnh của Verudanava, tôi lo rằng sẽ có chuyện không hay xảy ra. Dù lượng năng lượng không quyết định hoàn toàn thắng bại, nhưng đối mặt với sức mạnh vượt trội, chỉ dùng kĩ thuật thôi là không thể đối phó được.

イヴァラージェがヤバいのは、ヴェルドラからも愚痴られたので理解した。

Tôi đã hiểu Ivalage nguy hiểm thế nào qua lời than thở của Verudora.

けれどヴェルダナーヴァは、まだ情報が少な過ぎるのだ。

Nhưng về Verudanava, thông tin vẫn còn quá ít.

フェルドウェイの頑張りに期待しつつ、俺は様子を見守る事にしたのだった。

Tôi quyết định sẽ trông chờ vào nỗ lực của Feldway và quan sát tình hình.

さて、戦いが始まった訳だが……。

Vậy là trận chiến đã bắt đầu, nhưng...

果たしてそれは、戦いと言ってもいいのだろうか?

Liệu có thể gọi đó là một trận chiến được không?

ヴェルダナーヴァは強かった。

Verudanava rất mạnh.

というか、弱くはないだろうと予想していたけど、素直に想像以上だった。

Hay đúng hơn, tôi đã đoán là hắn không yếu, nhưng thành thật mà nói, hắn mạnh hơn tôi tưởng tượng rất nhiều.

最初に思ったのは、フェルドウェイが子供扱いされているな、だ。

Điều đầu tiên tôi nghĩ là, Feldway đang bị đối xử như một đứa trẻ.

フェルドウェイの剣は、パッと見ただけでも凄まじい力を秘めていた。

Thanh kiếm của Feldway, chỉ cần nhìn thoáng qua cũng có thể thấy nó ẩn chứa một sức mạnh khủng khiếp.

その力は存在値に換算して、数千万だと推定されるのだが──まあ、正確な数字など意味がないので、そこは置いておくとして。

Sức mạnh đó được ước tính tương đương với vài chục triệu điểm giá trị tồn tại—mà thôi, những con số chính xác cũng chẳng có ý nghĩa gì, nên tạm gác chuyện đó sang một bên.

その、超絶凄い剣を振り回しているのに、ヴェルダナーヴァは剣化させた自身の闘気(オーラ)だけで対処余裕なのだ。

Dù hắn đang vung vẩy thanh kiếm siêu phàm đó, Verudanava vẫn có thể dễ dàng đối phó chỉ bằng đấu khí (aura) của mình đã được hóa thành kiếm.

それも、ずっと受け身になっている。

Hơn nữa, hắn luôn ở thế bị động.

自分から攻撃を仕掛けていないが、その様子はフェルドウェイに付き合ってあげている指導者のような姿だ。

Hắn không chủ động tấn công, mà trông giống như một người thầy đang chỉ dạy cho Feldway.

ここまで差があると、フェルドウェイが勝てる可能性はゼロだった。

Với sự chênh lệch lớn đến vậy, khả năng Feldway chiến thắng là con số không.

「私は、私はどうすべきか……」

“Ta, ta nên làm gì đây...”.

「そうね、貴方が悩むのは理解出来るわ。私だって、ミリム様に忠誠を誓っていなければ、盲目的に主君に従っていたでしょうから……」

“Đúng vậy, tôi hiểu tại sao ngài lại băn khoăn. Nếu không thề trung thành với Millim-sama, có lẽ tôi cũng đã mù quáng tuân theo chủ nhân của mình rồi...”.

そんな声が後方から聞こえた。

Một giọng nói như vậy vang lên từ phía sau.

この一戦を見守っていた、ザラリオとオベーラのものだ。

Đó là giọng của Zalario và Obera, những người đang theo dõi trận chiến này.

オベーラはともかく、ザラリオはヴェルダナーヴァに忠誠を誓っている。複雑な心境になるのも、理解出来るというものだった。

Bỏ qua Obera, Zalario đã thề trung thành với Verudanava. Việc hắn có tâm trạng phức tạp cũng là điều dễ hiểu.

だから俺は、言ってやるのだ。

Vì vậy, tôi nói.

「ヴェルダナーヴァに従うつもりなら、止めないぞ」

“Nếu ngươi định tuân theo Verudanava, ta sẽ không ngăn cản đâu”.

「……いいのか?」

“...Được sao?”.

「良くはないが、仕方ないだろ? イヴァラージェの破壊行為には理由がないけど、ヴェルダナーヴァが世界を滅ぼしたくなった気持ちは、理解出来なくもないからね」

“Không tốt, nhưng cũng đành chịu thôi? Hành vi phá hoại của Ivalage không có lí do, nhưng cảm giác muốn hủy diệt thế giới của Verudanava thì ta cũng không phải là không hiểu được”.

俺がそう言うと、ザラリオは沈黙して考え込んだ。

Khi tôi nói vậy, Zalario im lặng và chìm vào suy tư.

今言ったように、気持ちはわかる。

Như tôi vừa nói, tôi hiểu cảm giác đó.

イヴァラージェは、純粋な悪意だ。子供が無邪気に物を壊すようなもので、そこに意味はない。叱ってやるのが、大人の責任というものだ。

Ivalage là hiện thân của ác ý thuần túy. Giống như một đứa trẻ ngây thơ phá hoại đồ vật, không có ý nghĩa gì trong đó. Trách nhiệm của người lớn là phải la mắng nó.

それに対して、ヴェルダナーヴァは違う。

Ngược lại, Verudanava thì khác.

しっかりと目的を持ち、確固たる理由によって動いていた。

Hắn có một mục đích rõ ràng và hành động dựa trên những lí do vững chắc.

俺だって、愛する者達を奪われそうになった時はブチ切れたのだ。

Ngay cả tôi, khi những người mình yêu thương suýt bị cướp đi, tôi cũng đã nổi điên.

あの時は、幸運にも悲劇を免れたけどさ。

Lần đó, may mắn là tôi đã tránh được bi kịch.

もしもあれ以上の被害が出て、もう取り戻せなかったならば……。

Nếu thiệt hại còn lớn hơn và tôi không thể lấy lại được...

その場合、俺も狂ってしまっていた可能性を否定出来なかった。

Trong trường hợp đó, tôi không thể phủ nhận khả năng mình cũng sẽ phát điên.

流石に世界を滅ぼそうとはしなかった──と思いたいけど、自信はないもんな。

Tôi muốn tin rằng mình sẽ không đến mức hủy diệt thế giới—nhưng tôi không tự tin.

ヴェルダナーヴァは、自分や妻を人間に殺されている。

Verudanava đã bị con người giết chết cả bản thân và vợ mình.

愛娘のミリムも、人間のせいで不幸になりかけた。

Con gái yêu quý của hắn, Millim, cũng suýt nữa đã gặp bất hạnh vì con người.

そうした事情を鑑みれば、全てを初期化してやり直す、という選択をするのも無理はない気がするのだ。

Xét đến những tình huống đó, việc lựa chọn khởi động lại mọi thứ từ đầu cũng không phải là không thể hiểu được.

神だからこそ出来る荒業だが、行動理由としては納得だった。

Đó là một hành động táo bạo chỉ có Thần mới làm được, nhưng lí do hành động thì có thể chấp nhận.

まあ、理解出来はしても、賛成はしないけどね。

Chà, dù có thể hiểu nhưng tôi không đồng ý.

創造主からすれば、被創造物の主権とか気にするべき点ではないだろうさ。

Đối với đấng sáng tạo, có lẽ chủ quyền của vật được tạo ra không phải là điều đáng bận tâm.

召使いとして作られたロボットが人間様に逆らったりしたら、舐めるな、と腹も立つだろう。

Nếu một con robot được tạo ra để làm người hầu mà lại chống lại con người, chắc hẳn sẽ tức giận và nghĩ rằng “Đừng có coi thường”.

人間によって組み立てられた人工知能が反乱する──という設定は、古今東西の映画や漫画などで、面白おかしく描かれてきた。

Cốt truyện về trí tuệ nhân tạo do con người tạo ra nổi loạn—đã được miêu tả một cách thú vị trong các bộ phim và manga từ xưa đến nay.

人工知能に人類と対等の権利を認めるべきなのかどうか、それもまた議論が必要になる案件だと思う。

Liệu có nên công nhận quyền bình đẳng cho trí tuệ nhân tạo như con người hay không, tôi nghĩ đó cũng là một vấn đề cần được thảo luận.

シエルさんなんて、俺にとって最強最高の相棒だしな。

Ciel-san quả là người cộng sự mạnh nhất và tuyệt vời nhất của tôi mà.

《────ッ!!!!!!!!!!!!!!!!》

<<────ッ!!!!!!!!!!!!!!!!>>

俺が生み出した能力(スキル)だったハズだけど、今では自我を得て自由に生きているみたいだし。

Lẽ ra chỉ là một kĩ năng do tôi tạo ra, nhưng giờ đây cô ấy đã có được bản ngã và dường như đang sống một cách tự do.

《私にとっては、主様(マスター)が全てです♪》

<<Đối với tôi, Chủ nhân (Master) là tất cả ạ♪>>

ありがとさん。

Cảm ơn nhé.

俺達みたいに最高の関係性を構築するのが理想だが、そうでない場合もあるだろう。そうなった時、被創造物の権利をどこまで認めるべきなのか?

Xây dựng một mối quan hệ tuyệt vời như chúng tôi là lí tưởng, nhưng cũng có những trường hợp không được như vậy. Khi đó, nên công nhận quyền lợi của vật được tạo ra đến mức nào?

今回の場合、その被創造物が俺達だ。

Trong trường hợp này, vật được tạo ra chính là chúng ta.

お前達は失敗作だから消すと言われても、そうですか、とは頷けないのである。

Dù có bị nói là “Các ngươi là sản phẩm thất bại nên ta sẽ xóa sổ”, chúng ta cũng không thể gật đầu nói “vậy sao” được.

俺達は、この世界で生きている。

Chúng ta đang sống trong thế giới này.

生存している以上、あらゆる不条理に全力で抗う所存であった。

Chừng nào còn tồn tại, chúng ta sẽ quyết tâm chống lại mọi sự phi lí bằng tất cả sức lực.

そんな訳で、俺が戦う理由は『生きるため』となる。

Vì vậy, lí do tôi chiến đấu là “để tồn tại”.

そんな俺の考えを見抜いたように、ヴェルダナーヴァが甘く誘ってきた。

Như thể đã nhìn thấu suy nghĩ của tôi, Verudanava cất lời mời gọi ngọt ngào.

「ボクに逆らうとは、解せないな。フェルドウェイ、君は新世界にも連れて行くつもりだったんだよ? ザラリオやオベーラ、ディーノ達もだ。ギィはボクの友達だし、他にも有用な者達は生かすつもりだ。無能で低俗な者達の為に、ボクと敵対する必要なんてないだろう?」

“Chống lại ta, thật không thể hiểu nổi. Feldway, ta đã định đưa cả ngươi đến thế giới mới đấy? Cả Zalario, Obera và Dino nữa. Guy là bạn của ta, và những kẻ hữu dụng khác ta cũng định sẽ cho sống. Không cần phải đối đầu với ta vì những kẻ vô năng và thấp hèn đó, đúng không?”.

ああ、その言葉は魅惑的だよね。

À, những lời đó thật quyến rũ.

ヴェルダナーヴァは、イヴァラージェに世界を滅ぼさせた後、全てをやり直すつもりなのだ。この世界で認めた者達は、次の世界に連れて行くと言っているのである。

Verudanava định để Ivalage hủy diệt thế giới, sau đó sẽ làm lại tất cả. Hắn nói rằng những kẻ hắn công nhận ở thế giới này sẽ được đưa đến thế giới tiếp theo.

俺は誘われていないけど、正直、勧誘されたら悩んじゃいそうだ。

Tôi không được mời, nhưng thành thật mà nói, nếu được mời chắc tôi cũng sẽ phân vân lắm.

《──無理かと》

<<—Tôi e là không thể ạ.>>

だよね。

Đúng vậy nhỉ.

俺が関係する人達を全員となると、それはもう初期化とかいう話ではなくなってくる。直接関係する者だけに絞るとか、そんな条件は却下なのだ。

Nếu là tất cả những người có liên quan đến tôi, thì đó không còn là chuyện khởi động lại nữa. Giới hạn chỉ những người có liên quan trực tiếp, điều kiện đó tôi không chấp nhận.

今の関係性をそのまま持ち込むとなると、この世界の住人ほぼ全てに波及するはずだ。何しろ、俺の関係者にも知り合いがいる訳で、そうした人々にも愛すべき者達がいる。一部だけ移住するとか、どうやっても遺恨が残ってしまうだろう。

Nếu giữ nguyên mối quan hệ hiện tại, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến gần như toàn bộ cư dân của thế giới này. Dù sao thì, những người có quan hệ với tôi cũng có người quen, và những người đó cũng có những người thân yêu của riêng họ. Nếu chỉ di cư một phần, dù thế nào cũng sẽ để lại hận thù.

それでも他に方法がなければ、取捨選択するしかないのだろうが……。

Dù vậy, nếu không còn cách nào khác, có lẽ chỉ còn cách lựa chọn và loại bỏ...

今回は違う。

Lần này thì khác.

全か無か──神に逆らうのに反対な者もいるだろうが、そうした人達は大人しく祈っていて欲しい。

Tất cả hoặc không gì cả—chắc hẳn cũng có những người phản đối việc chống lại Thần, nhưng tôi mong những người đó hãy cứ yên lặng cầu nguyện.

俺は最後まで抗って、この先の未来を手にするつもりであった。

Tôi đã định sẽ chống cự đến cùng để giành lấy tương lai phía trước.

《Em sẽ đồng hành cùng ngài đến cuối cùng. Phương pháp sáng tạo thế giới đã được phân tích xong, nên dù có chuyện gì xảy ra cũng có thể đối phó được ạ.》

<<Em sẽ đồng hành cùng ngài đến cuối cùng. Phương pháp sáng tạo thế giới đã được phân tích xong, nên dù có chuyện gì xảy ra cũng có thể đối phó được ạ.>>

おお、相変わらず頼もしいね!

Ồ, vẫn đáng tin cậy như mọi khi nhỉ!

俺にはサッパリ理解不能だが、シエルさんがいるなら何とでもなりそうだった。

Tôi thì hoàn toàn không hiểu gì, nhưng nếu có Ciel-san thì có vẻ mọi chuyện đều có thể giải quyết được.

俺はそう再認識しつつ、様子を見守る。

Tôi vừa tái khẳng định điều đó, vừa quan sát tình hình.

フェルドウェイが思い悩みながら、ゆっくりと口を開いた。

Feldway vừa băn khoăn, vừa chậm rãi mở miệng.

「確かに、私にとって有象無象な人間共など、そこまで大きな価値はありません。ですが、貴方様にとっては違ったではありませんか! 私にとっては貴方様だけが大事でしたが、貴方様にとっては、細君であらせられたルシア様や、御息女であるミリム様がおられる──」

“Đúng là, đối với tôi, đám người tầm thường đó không có giá trị gì lớn lao. Nhưng đối với ngài thì khác mà! Đối với tôi, chỉ có ngài là quan trọng, nhưng đối với ngài, còn có phu nhân Lucia-sama và lệnh ái Millim-sama—”.

「……」

“...”.

「妹弟の御三方も大切でしょうし、ギィやルドラとも友人だったではありませんか! その者達はこの世界を愛し、大切にしているのです。それを奪ってしまえば、貴方様は必ず後悔するはずです!!」

“Ba người em của ngài cũng rất quan trọng, và ngài cũng là bạn của Guy và Rudra mà! Những người đó yêu thương và trân trọng thế giới này. Nếu ngài cướp đi điều đó, ngài chắc chắn sẽ hối hận!!”.

フェルドウェイはそう熱弁した。

Feldway hùng hồn nói.

それだけ理解しているのなら、どうしてあんな真似をしてしまったのか……。

Nếu đã hiểu đến mức đó, tại sao lại làm những chuyện như vậy...

いや、ディアブロにぶん殴られて正気にでも戻った、とか?

Không, hay là bị Diablo đấm cho một trận nên tỉnh ra rồi?

「俺の説得が効(こう)果(か)覿(てき)面(めん)だったようだな!」

“Có vẻ lời thuyết phục của ta đã có hiệu quả tức thì!”.

ディーノがドヤ顔でそう言った。

Dino vênh váo nói.

思わぬところで役に立っていたようで、少しばかり驚きである。

Có vẻ như anh ta đã hữu dụng một cách bất ngờ, tôi hơi ngạc nhiên một chút.

取り敢えず「良い仕事したね」と褒めておいた。

Tạm thời tôi đã khen “Làm tốt lắm”.

ディーノの想いはフェルドウェイに届いたようだが、世の中、全てが上手くいく訳ではない。

Tình cảm của Dino dường như đã đến được với Feldway, nhưng không phải mọi chuyện trên đời đều suôn sẻ.

フェルドウェイの訴えは、ヴェルダナーヴァへの思いやりに満ちていた。これが心に響けば、もしかしたら思い直してくれるのでは、と思えるほどに。

Lời kêu gọi của Feldway tràn đầy sự quan tâm dành cho Verudanava. Đến mức người ta có thể nghĩ rằng, nếu nó chạm đến trái tim, có lẽ hắn sẽ suy nghĩ lại.

しかし残念ながら、ヴェルダナーヴァの返答は冷たいものだった。

Nhưng đáng tiếc, câu trả lời của Verudanava lại rất lạnh lùng.

「後悔なら、もうしたさ。ルシアを失った時に、な」

“Nếu là hối hận, ta đã hối hận rồi. Vào lúc mất đi Lucia”.

ゾッとするような、感情のない声だった。

Đó là một giọng nói vô cảm đến rợn người.

そこにあるのは、底なしの虚無だ。

Ở đó chỉ có một sự trống rỗng vô tận.

「生命に自由意思を与えたばかりに、神に弓引く愚か者まで生まれてしまった。いや、違うな。ボクに逆らうだけなら赦したけど、ボクの大切なものを奪ったんだ。赦せるものか」

“Chỉ vì đã ban cho sinh mệnh ý chí tự do, mà ngay cả những kẻ ngu ngốc dám chống lại Thần cũng đã được sinh ra. Không, không phải. Nếu chỉ chống lại ta thì ta đã tha thứ, nhưng chúng đã cướp đi thứ quý giá của ta. Sao ta có thể tha thứ được”.

ヴェルダナーヴァの決意は、不動だった。

Quyết tâm của Verudanava là không thể lay chuyển.

フェルドウェイの声など、その鉄壁の意思の前に虚しく散って届かない。

Tiếng nói của Feldway, trước ý chí sắt đá đó, đã tan biến một cách vô ích và không thể chạm tới.

やはり、雌雄を決するしか解決策はなさそうだ。

Quả nhiên, có vẻ như không còn giải pháp nào khác ngoài việc phân định thắng thua.

俺はそう確信してしまい、憂鬱な溜息を洩らしたのだった。

Tôi đã tin chắc như vậy, và thở dài một tiếng chán nản.

ヴェルダナーヴァの威圧を受けて、フェルドウェイが吹き飛んだ。

Bị uy áp của Verudanava tác động, Feldway đã bị thổi bay.

邪魔するな、という意思表示だったようだが、フェルドウェイは再び立ち上がる。

Có vẻ như đó là một lời cảnh báo đừng cản đường, nhưng Feldway lại đứng dậy.

そして、勝てないのを理解しているだろうに、挫けずに挑みかかっていった。

Và, dù biết rằng không thể thắng, hắn vẫn không nản lòng mà tiếp tục lao lên.

「ガッツあるな」

“Can đảm thật”.

「頑固なだけですよ」

“Chỉ là cứng đầu thôi”.

「もっと早く諦めると思っていたよ?」

“Tôi đã nghĩ hắn sẽ bỏ cuộc sớm hơn chứ?”.

意外にも、かなり粘ってくれている。

Thật bất ngờ, hắn đang cầm cự khá tốt.

身体の再生も間に合っているようで、多少の怪我など一瞬で回復しているようだ。

Cơ thể hắn dường như cũng kịp tái tạo, những vết thương nhỏ đều hồi phục trong chớp mắt.

「リムル様の高貴なる血肉を授かったのですから、あの程度は当然でしょう」

“Được ban cho huyết nhục cao quý của Rimuru-sama, mức độ đó là điều đương nhiên”.

と、ディアブロが悔しそうにしている。

Diablo nói với vẻ tiếc nuối.

その一言を聞きとがめた者がいた。

Có người đã nghe thấy lời đó.

テスタロッサだ。

Đó là Testarossa.

「そう言えば、あの愚物もリムル様から授かって──」

“Nhân tiện, tên ngu ngốc đó cũng được Rimuru-sama ban cho—”.

「ええ、その通りです。忌々しい限りですよ」

“Vâng, đúng vậy. Thật đáng ghét”.

「それならば……」

“Vậy thì...”.

ディアブロとの会話で、何かを閃いた様子。

Trong cuộc trò chuyện với Diablo, cô ấy dường như đã nảy ra ý tưởng gì đó.

と思ったら、急にフラッと倒れそうになった。

Vừa nghĩ vậy, cô ấy đột nhiên lảo đảo như sắp ngã.

俺は慌てて支えてあげる。

Tôi vội vàng đỡ lấy.

「おっと、大丈夫か?」

“Ồ, cô không sao chứ?”.

「先程までの影響で、わたくしにもダメージが──」

“Do ảnh hưởng từ lúc nãy, tôi cũng bị tổn thương—”.

テスタロッサはそう言って、儚げな微笑を浮かべた。

Testarossa nói vậy, nở một nụ cười mong manh.

本性を知らなければ、か弱い美女にしか見えない。

Nếu không biết bản chất thật của cô ấy, người ta sẽ chỉ thấy một mỹ nhân yếu đuối.

知っていても騙されるのだから、俺も相当バカだと思う。

Dù biết mà vẫn bị lừa, tôi nghĩ mình cũng khá ngốc.

ディアブロが何故か舌打ちして何か言いかけたが、それより先に、俺にもたれかかったテスタロッサが口を開いた。

Diablo không hiểu sao lại tặc lưỡi và định nói gì đó, nhưng trước đó, Testarossa đã dựa vào tôi và mở miệng.

「リムル様、お願いが御座います──」

“Rimuru-sama, tôi có một thỉnh cầu—”.

テスタロッサが上目遣いで俺を見る。

Testarossa nhìn tôi với ánh mắt ngước lên.

「えっと、何かな?」

“Ừm, chuyện gì vậy?”.

俺は美女に弱いんだよね。

Tôi yếu lòng trước phụ nữ đẹp.

ヒナタが呆れたように俺を見ているが、こういう仕草にイチコロなのだ。

Hinata nhìn tôi với vẻ chán nản, nhưng tôi lại dễ dàng bị đổ gục trước những cử chỉ như thế này.

「今直ぐ体調を整える為にも、リムル様の血肉をわたくしにも授けてくださいませ」

“Để có thể hồi phục ngay lập tức, xin ngài hãy ban cho tôi huyết nhục của ngài”.

えっと、俺のスライム細胞が欲しい、と。

Ừm, cô ấy muốn tế bào slime của tôi.

まあ、そのくらい別にいいんだけど、そんなに凄い効果はないと思う。

Chà, chừng đó thì cũng được thôi, nhưng tôi không nghĩ nó có hiệu quả ghê gớm đến vậy.

《……ふう。それでは、特製回復薬を用意します》

<<...Haiz. Vậy thì, em sẽ chuẩn bị thuốc hồi phục đặc chế.>>

うん、お願いする。

Ừ, nhờ cô nhé.

という感じで、テスタロッサの要望を聞き入れて、ディアブロを癒したのと同じ回復薬・偽こと特製回復薬を用意してもらった。

Cứ như vậy, tôi đã chấp nhận yêu cầu của Testarossa và nhờ chuẩn bị loại thuốc hồi phục đặc chế giống như loại đã chữa lành cho Diablo.

──のだが、話はそれで終わらなかった。

—Nhưng, câu chuyện không dừng lại ở đó.

「ズルい! リムル様、ボクも欲しいです!!」

“Ăn gian! Rimuru-sama, tôi cũng muốn nữa!!”.

ウルティマが、可愛くおねだりしてきたのだ。

Ultima đã nũng nịu một cách đáng yêu.

ウルティマは可愛くて良い子なので、ついついお願いを聞いちゃうんだよね。

Ultima vừa đáng yêu vừa ngoan ngoãn, nên tôi cứ thế mà đồng ý yêu cầu của con bé.

残酷で残忍な面もあるのだが、自分の目で見ても同一人物だとは信じられないくらいだ。

Con bé cũng có mặt tàn khốc và độc ác, nhưng đến mức mà dù chính mắt nhìn thấy tôi cũng không thể tin đó là cùng một người.

そんなウルティマから頼まれちゃったら、俺としては「いいよ」と答えるのみであった。

Bị Ultima nhờ vả như vậy, tôi chỉ còn biết đáp “Được thôi”.

俺のスライム細胞を回復薬に混ぜた特製回復薬を、もう一つ用意してもらった。

Tôi đã nhờ chuẩn bị thêm một lọ thuốc hồi phục đặc chế có trộn tế bào slime của mình.

これを二人に渡して──と思ったら、そこに登場したのがカレラだった。

Tôi định đưa cho hai người họ—thì Carrera xuất hiện.

精根尽き果て眠ってしまったらしいカレラが、エスプリとアゲーラに運ばれて来ていたのだが、急に目覚めて飛び起きたのだ。

Carrera, người dường như đã kiệt sức và ngủ thiếp đi, đang được Esprit và Agera khiêng đến, nhưng cô ấy đột nhiên tỉnh giấc và bật dậy.

「我が君、私だけ仲間外れは止めて欲しいな!」

“Chúa tể của tôi, tôi không muốn bị cho ra rìa đâu!”.

カレラも褒美として、俺の特製回復薬が欲しいそうだ。

Carrera cũng muốn thuốc hồi phục đặc chế của tôi làm phần thưởng.

聞けば、頑張ってヤバいヤツを倒してくれたみたいだし、このくらいなら安いものである。

Nghe nói cô ấy đã cố gắng hết sức để đánh bại một kẻ nguy hiểm, nên chừng này cũng chẳng đáng là bao.

わかったわかったと頷きつつ、俺は三つ目も用意してもらった。

Tôi vừa gật đầu lia lịa, vừa nhờ chuẩn bị thêm lọ thứ ba.

そうして、期待している三人娘に手渡したのだ。

Rồi, tôi đưa cho ba cô gái đang mong chờ.

三人娘は、大喜びしてそれを飲み干した。

Ba cô gái vui mừng khôn xiết và uống cạn.

「これで貴方も、もう自慢出来ないわね」

“Thế này thì ngươi cũng không thể khoe khoang được nữa rồi nhỉ”.

と、テスタロッサがディアブロに笑いかける。

Testarossa mỉm cười nói với Diablo.

「ざ〜んね〜んでした!」

“Tiếc quá nhỉ!”.

と、ウルティマもディアブロを煽る。

Ultima cũng khiêu khích Diablo.

「これは凄いな、もう疲れが取れた気がするよ!」

“Cái này ghê thật, cảm giác như mệt mỏi đã tan biến hết rồi!”.

と、カレラはマイペースに喜んでいた。

Carrera thì vẫn vô tư vui mừng.

フェルドウェイが必死に戦っている横で、この娘達は何をしているのやら。そう思いはしたものの、アッサリと流された俺も同罪なのだった。

Bên cạnh Feldway đang chiến đấu hết mình, mấy cô gái này đang làm cái quái gì vậy. Dù nghĩ vậy, nhưng tôi, người đã dễ dàng bị cuốn theo, cũng có tội như nhau.

フェルドウェイの頑張りも、そろそろ限界が見えてきた。

Nỗ lực của Feldway cũng sắp đến giới hạn rồi.

そろそろ俺の出番かなと思っていると、ザラリオが口を開いた。

Khi tôi đang nghĩ có lẽ đã đến lúc mình ra tay, Zalario đã lên tiếng.

「私は、私はやはり……ヴェルダナーヴァ様を裏切れない」

“Tôi, tôi quả nhiên... không thể phản bội Verudanava-sama”.

ディアブロが目を細めているので、落ち着きなさいと宥めておく。裏切られるより、敵対を宣言される方がマシなのだ。

Diablo đang nheo mắt lại, nên tôi đã trấn an cậu ta. Bị tuyên bố là kẻ thù còn tốt hơn là bị phản bội.

まあ、それにだね。

Mà, với lại.

そもそも、ザラリオと俺達には、深い付き合いとかないからね。レオンとは意気投合していたようだが、俺達とは敵対状態にあったくらいだ。

Vốn dĩ, Zalario và chúng tôi không có mối quan hệ sâu sắc gì. Có vẻ như hắn hợp ý với Leon, nhưng với chúng tôi thì gần như là kẻ thù.

今は停戦して、これから良い関係性を築けたらいいね、という段階。それなのに仲間になってくれると思う方が、甘い考えというものだった。

Hiện tại đang ở giai đoạn đình chiến, và nếu có thể xây dựng mối quan hệ tốt đẹp trong tương lai thì tốt. Vậy mà lại nghĩ hắn sẽ trở thành đồng đội, đúng là một suy nghĩ ngây thơ.

「お前は相変わらず真面目ね。そういうふうに頑固だから、フェルドウェイに利用されてしまうのよ」

“Ngươi vẫn nghiêm túc như mọi khi nhỉ. Chính vì cứng đầu như vậy nên mới bị Feldway lợi dụng đấy”.

と、オベーラが突っ込みを入れている。

Obera chen vào.

実際、少し判断が遅れたばかりに、支配されるという憂き目に遭ってしまったそうだ。

Thực tế, chỉ vì phán đoán chậm một chút mà hắn đã phải chịu cảnh bị chi phối.

慎重な性格とも言えるので、良い悪いの話ではない。

Cũng có thể nói là tính cách cẩn trọng, nên không phải là chuyện tốt hay xấu.

運が悪いだけ、とも言えるだろう。

Cũng có thể nói là chỉ do không may.

なので、ザラリオの判断を尊重する。

Vì vậy, tôi tôn trọng quyết định của Zalario.

「せめてさ、邪魔しないでくれると嬉しいんだけど?」

“Ít nhất thì, nếu ngươi không cản đường thì ta sẽ rất vui?”.

俺はそうお願いしてみた。

Tôi đã thử nhờ vả như vậy.

フェルドウェイはヴェルダナーヴァに翻弄されている。

Feldway đang bị Verudanava đùa giỡn.

多分、ヴェルダナーヴァは身体の調子を確かめているのだ。終わらせようと思えば、さっきフェルドウェイをボロボロにした攻撃をするだけで一瞬で片が付くはずだ。

Có lẽ, Verudanava đang kiểm tra lại cơ thể của mình. Nếu muốn kết thúc, chỉ cần tung ra đòn tấn công đã hạ gục Feldway lúc nãy là có thể giải quyết trong chớp mắt.

その余裕が命取り──と、普段なら思うんだけど、今回ばかりは違う。

Sự ung dung đó sẽ gây chết người—bình thường tôi sẽ nghĩ vậy, nhưng lần này thì khác.

どんどん洗練されているのが、見ていてハッキリわかるのだ。

Nhìn vào có thể thấy rõ ràng hắn đang ngày càng trở nên tinh luyện hơn.

つまり、フェルドウェイに勝ち目ゼロ──なのは最初からだが、慣らし運転の相手役としての価値さえも、もう終わろうとしていた。

Nói cách khác, Feldway không có cửa thắng—đó là điều rõ ràng ngay từ đầu, nhưng ngay cả giá trị của việc làm đối thủ khởi động cũng sắp kết thúc.

ここでザラリオまで参戦されたら、時間稼ぎどころの話ではなくなってしまうのである。

Nếu bây giờ cả Zalario cũng tham chiến, thì không còn là chuyện câu giờ nữa rồi.

「リムル様、私がザラリオを始末しましょうか?」

“Rimuru-sama, để tôi xử lí Zalario nhé?”.

「止めなさい」

“Dừng lại”.

ディアブロが殺(や)る気満々の発言をするが、却下した。

Diablo nói với vẻ hừng hực sát khí, nhưng tôi đã từ chối.

ベニマルは肩を竦めて呆れているが、ザラリオが邪魔するようなら黙っていない、という気迫で様子を窺っている。

Benimaru nhún vai chán nản, nhưng vẫn đang quan sát với khí thế rằng nếu Zalario cản đường thì sẽ không ngồi yên.

ザラリオが言う。

Zalario nói.

「正直、私にはどちらが正解なのかわからん。主君の意に沿うのが臣下たる者の務めだと、私は思っている。しかし、フェルドウェイの言い分も間違っていない気がするのだ。そんな私に今出来るのは、何もしない、という選択だけだろうさ」

“Thật lòng, tôi không biết bên nào là đúng. Tôi nghĩ rằng phận làm bề tôi là phải tuân theo ý muốn của chủ quân. Tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy lí lẽ của Feldway không sai. Điều duy nhất tôi có thể làm bây giờ, có lẽ chỉ là lựa chọn không làm gì cả”.

実に消極的ながらも、それは一つの正解だと思われた。

Dù rất tiêu cực, nhưng đó có vẻ là một câu trả lời đúng.

ぶっちゃけ、邪魔されないならそれでいいのだ。

Nói thẳng ra, miễn là không bị cản đường là được.

ヴェルダナーヴァと関係が深かった者達ほど、身の処し方に悩むだろう。ザラリオのように見守ってくれるのが、俺達としては一番助かるというものだった。

Những người có mối quan hệ sâu sắc với Verudanava càng băn khoăn về cách hành xử của mình. Việc được theo dõi như Zalario là điều hữu ích nhất đối với chúng tôi.

そうこうしている内に、フェルドウェイが倒れた。

Trong lúc đó, Feldway đã ngã gục.

俺の細胞のお陰で『無限再生』が発動していたようだが、その思わぬ副効果があったにしても、よく粘ったものである。

Nhờ tế bào của tôi, có vẻ như “Tái Sinh Vô Hạn” đã được kích hoạt, nhưng dù có tác dụng phụ bất ngờ đó, hắn cũng đã cầm cự rất tốt.

何しろヴェルダナーヴァは、剣の腕前だけでも最高だったのだ。多分、ハクロウどころかアゲーラよりも上で、並ぶ者なき達人なのは間違いなかった。

Dù sao thì Verudanava, chỉ riêng kiếm thuật thôi cũng đã ở đẳng cấp cao nhất rồi. Có lẽ còn giỏi hơn cả Hakurou và Agera, chắc chắn là một bậc thầy không ai sánh kịp.

それだけではなく、『瞬間移動』を組み込んだ体術を披露していた。

Không chỉ vậy, hắn còn trình diễn thể thuật kết hợp với “Dịch Chuyển Tức Thời”.

剣の挙動と思わせて、すり足からの『瞬間移動』とか、初見で対応するのは不可能だっただろう。

Giả vờ như đang di chuyển kiếm, rồi “Dịch Chuyển Tức Thời” từ một bước lướt, có lẽ là không thể đối phó được nếu là lần đầu.

フェルドウェイも斬られていた。

Feldway cũng đã bị chém.

ヴェルダナーヴァに殺す気はなかったようだが、普通の者なら即死攻撃になる一撃だった。

Dù Verudanava có vẻ không có ý định giết, nhưng đó là một đòn tấn công có thể giết chết một người bình thường ngay lập tức.

「お前なら反応出来た?」

“Ngươi có thể phản ứng được không?”.

「クフフフフ……初見では、厳しかったかと」

“Kufufufu... Lần đầu thì có lẽ sẽ rất khó khăn”.

ディアブロの正直な答えを聞いて、だよね、と言うしかない俺である。

Nghe câu trả lời thật thà của Diablo, tôi chỉ còn biết nói “Đúng vậy nhỉ”.

剣だけでも、ここまで強いのだ。

Chỉ riêng kiếm thuật thôi đã mạnh đến mức này.

ヴェルダナーヴァを止めるなど、本当に可能なのか自信がなくなってくる。

Liệu có thực sự có thể ngăn chặn được Verudanava hay không, tôi bắt đầu mất tự tin.

《大丈夫です!》

<<Không sao đâu ạ!>>

その根拠のない慰めが、余計に俺を不安にさせていた。

Lời an ủi vô căn cứ đó càng khiến tôi thêm lo lắng.

しかも、本当の恐怖はここから始まったのだ。

Hơn nữa, nỗi kinh hoàng thực sự bắt đầu từ đây.

ヴェルダナーヴァが言う。

Verudanava nói.

「勘を取り戻すのに、もう少し時間がかかりそうだ。見ているだけでは退屈だろう? 君達にも、遊び相手を用意してあげるよ」

“Có vẻ cần thêm chút thời gian để lấy lại cảm giác. Chỉ nhìn thôi chắc cũng chán nhỉ? Ta sẽ chuẩn bị đối thủ cho các ngươi chơi”.

勘を取り戻すも何も、今でも十分に凄い。

Lấy lại cảm giác gì chứ, bây giờ hắn đã đủ đáng gờm rồi.

これ以上何をどうしたいのかと思っていたら、直ぐに意味がわかった。

Tôi đang tự hỏi hắn còn muốn làm gì nữa, thì ngay lập tức đã hiểu ra.

ここ、東方面を除いた三方面から、巨大な気配が復活するのを感じたのだ。

Ở đây, ngoại trừ phía đông, tôi cảm nhận được những luồng khí khổng lồ đang hồi sinh từ ba phía còn lại.

「カケアシ、ハバタキ、スイームだったかな? イヴァラージェが子供達を失って悲しんでいるようだ。ボクが何とかしてあげたよ」

“Là Kakeashi, Habataki và Swim nhỉ? Có vẻ Ivalage đang đau buồn vì mất đi những đứa con của mình. Ta đã giúp hắn một tay”.

ヴェルダナーヴァがそう告げた。

Verudanava thông báo.

「嘘でしょ? せっかくボクが倒したのに……」

“Không thể nào? Tôi đã vất vả lắm mới đánh bại được chúng mà...”.

「ふむ、失敗だったかな。次は復活出来ないように、塵になるほど斬り刻まないとだね」

“Hừm, có lẽ là thất bại rồi. Lần tới phải chém cho thành tro bụi để không thể hồi sinh được nữa”.

ウルティマとカレラの呟きが、俺に確信を与えてくれた。

Lời lẩm bẩm của Ultima và Carrera đã cho tôi sự chắc chắn.

世界を破滅へと導く悪意との戦いは、これからが本当の始まりだったのだ。

Cuộc chiến chống lại ác ý muốn đẩy thế giới đến sự diệt vong, bây giờ mới thực sự bắt đầu.

ギィはイヴァラージェを圧倒していた。

Guy đang áp đảo Ivalage.

イヴァラージェとの戦闘を軽々と支配して、再び〝天通閣〟へと押し戻している。

Anh dễ dàng kiểm soát trận chiến với Ivalage và đẩy lùi hắn trở lại “Thiên Thông Các”.

これによって、見守っていた者達の負担が軽減された。

Nhờ đó, gánh nặng của những người đang quan sát đã được giảm bớt.

「流石はギィね」

“Quả nhiên là Guy”.

と、ヴェルザードが誇らしそうだ。

Veruzard nói với vẻ tự hào.

〝世界(ワルド)〟を抜いたギィは無敵だ。イヴァラージェが放った破壊光線すらも、苦もなく両断して消滅させていた。

Guy khi rút “Thế Giới (World)” ra là bất khả chiến bại. Ngay cả tia sáng hủy diệt do Ivalage phóng ra, anh cũng dễ dàng chém đôi và làm nó biến mất.

嬉しそうなヴェルザードとは対照的に、ヴェルグリンドが唖然とする。

Trái ngược với vẻ vui mừng của Veruzard, Verugrynd lại sững sờ.

「嘘でしょ……? 私、アレを喰らって大量にエネルギーを喪失したんだけど……」

“Không thể nào...? Tôi đã bị trúng đòn đó và mất rất nhiều năng lượng...”.

如何に弱い者達を守る為だったとは言え、正面から浴びて打ち破れなかったのは事実だ。

Dù là để bảo vệ những kẻ yếu hơn, nhưng sự thật là chị đã hứng trọn đòn đó và không thể phá vỡ nó.

ギィはそれを、難なく行っているのである。

Guy lại làm điều đó một cách dễ dàng.

自分が想定していた以上の実力者だったのだと、ヴェルグリンドは改めて、ギィの凄まじさに驚愕していた。

Verugrynd một lần nữa kinh ngạc trước sức mạnh khủng khiếp của Guy, nhận ra rằng anh còn mạnh hơn chị tưởng tượng rất nhiều.

そんなヴェルグリンドに向けて、ヴェルザードが微笑みながら解説する。

Hướng về Verugrynd, Veruzard mỉm cười và giải thích.

「当然よ! 私の最強奥義である〝冷極消失凝収覇(ホワイトアウトアブソーブ)〟でさえ、ギィは一刀両断しちゃったんだもの。それに劣る攻撃なんて、通用しなくて当たり前ね」

“Đương nhiên rồi! Ngay cả奥義 mạnh nhất của tôi, “Cực Hàn Tiêu Biến Ngưng Tụ (Whiteout Absorb)”, Guy cũng đã chém đứt chỉ bằng một nhát. Một đòn tấn công yếu hơn thế, không có tác dụng là điều hiển nhiên”.

ギィの強さを誰よりも知るのが、ヴェルザードだった。

Veruzard là người hiểu rõ sức mạnh của Guy hơn bất cứ ai.

だからこそ拗(こじ)らせていた面もあるのだが、愛するギィを賞賛されて喜んでいる。

Cũng chính vì thế mà có những lúc chị trở nên phức tạp, nhưng chị vẫn vui mừng khi người mình yêu được ca ngợi.

面倒なお姉様だこと──と思いつつも、ヴェルグリンドも納得するしかなかった。

Đúng là một người chị phiền phức—dù nghĩ vậy, Verugrynd cũng đành phải chấp nhận.

実際、ギィは強い。

Thực tế, Guy rất mạnh.

ギィが無造作に放ったように見える〝世界(ワルド)〟を、イヴァラージェが〝慈愛(カーマ)〟で受け止める。しかし、押し負けて吹き飛ばされていた。

Ivalage dùng “Từ Ái (Karma)” để đỡ lấy “Thế Giới (World)” mà Guy dường như đã phóng ra một cách tùy tiện. Tuy nhiên, hắn đã bị áp đảo và thổi bay đi.

剣の〝格〟は互角でも、両者の技量(レベル)には雲泥の差があったのだ。

Dù “đẳng cấp” của hai thanh kiếm là ngang nhau, nhưng kĩ năng (level) của cả hai lại có sự chênh lệch một trời một vực.

「きゃは!?」

“Kyah!?”.

「ハッ、テメーも大した事ねーなァ!」

“Hừ, ngươi cũng chẳng ra gì cả!”.

圧倒的な剣速と、無駄のない剣筋、それらが合わさって、イヴァラージェのにわか剣術では対応出来ない。そして、イヴァラージェの成長を許すほど、ギィは甘くなかった。

Tốc độ kiếm áp đảo và đường kiếm không một chút thừa thãi, sự kết hợp đó khiến cho kiếm thuật non nớt của Ivalage không thể nào đối phó được. Và Guy không hề nhân nhượng đến mức cho phép Ivalage trưởng thành.

「……むむむ、おかしいのだ。ワタシが苦戦したのに、ギィは押しているように見えるのだ。これではギィの方が、ワタシより強そうに見えてしまうのだぞ!」

“...Grừ, lạ thật. Tớ đã vất vả thế mà Guy lại có vẻ đang áp đảo. Cứ thế này thì trông Guy mạnh hơn tớ mất!”.

ミリムが悔しそうに、そう嘆いている。

Millim than thở với vẻ tiếc nuối.

事実、誰が見てもギィの実力の方が上だった。

Sự thật là, ai cũng có thể thấy thực lực của Guy vượt trội hơn.

「我は足止めに徹しておった故、本気など出しておらぬからな。本気なら、負けはせぬな!」

“Ta chỉ tập trung vào việc cầm chân hắn, nên chưa hề nghiêm túc đâu. Nếu nghiêm túc, ta sẽ không thua đâu!”.

本気ならば我が上──だとでも言いたげな、ヴェルドラの強がりだ。

Nếu nghiêm túc thì ta mạnh hơn—Verudora đang cố tỏ ra mạnh mẽ như vậy.

二度も〝本気〟という言葉を使う辺り、かなり負け惜しみ感が漂っていた。

Việc sử dụng từ “nghiêm túc” đến hai lần cho thấy rõ sự cay cú.

「そう、そうだった! ワタシも疲れていただけなのだ!」

“Đúng, đúng vậy! Tớ cũng chỉ mệt thôi mà!”.

などと、ミリムも言い訳を追加している。

Millim cũng thêm vào một lời bào chữa.

「そうよな。我ならば、苦戦などせぬよ! クアハハハハ!!」

“Đúng vậy. Nếu là ta thì chẳng vất vả gì đâu! Kuahahahaha!!”.

それを聞きとがめたのが、ヴェルザードだ。

Người nghe thấy điều đó là Veruzard.

「あらあら? ヴェルドラちゃんは、ギィよりも上だと言いたいのかしら?」

“Ara ara? Verudora-chan, em muốn nói rằng em giỏi hơn Guy sao?”.

「えっ!?」

“Ế!?”.

一瞬、時が止まったように、ヴェルドラが硬直する。

Trong một khoảnh khắc, Verudora cứng đờ như thể thời gian đã ngưng lại.

余計な事を言わなければ良かったと、その表情には焦りの色があった。

Vẻ mặt cậu lộ rõ sự hốt hoảng, như thể đang hối hận vì đã nói những lời không cần thiết.

「えっと、それは、アレであるからして……あっ!! ギィが恰好良い技を繰り出しておるようだぞ!!」

“Ừm, chuyện đó, là vì... A!! Có vẻ Guy đang tung ra một chiêu thức rất ngầu kìa!!”.

「え!」

“Ế!”.

ヴェルドラは機転を利かせて、ヴェルザードの注意と関心を逸らす事に成功した。そして、もう二度と地雷を踏まないようにしようと、強く心に誓ったのだった。

Verudora đã nhanh trí và thành công trong việc đánh lạc hướng sự chú ý và quan tâm của Veruzard. Và cậu đã thề với lòng mình rằng sẽ không bao giờ dẫm phải mìn lần nữa.

そんな外野達の反応など気にもせず、ギィは淡々とイヴァラージェを追い詰めていく。

Không hề để tâm đến phản ứng của những người ngoài cuộc, Guy bình thản dồn ép Ivalage.

リムルにヴェルダナーヴァの相手を任せていたが、流石に無茶ぶりなのは理解しているのだ。

Anh đã giao việc đối phó với Verudanava cho Rimuru, nhưng anh cũng hiểu rằng đó là một yêu cầu quá sức.

(まあよ、あの野郎なら何とかしちまうかもだが、ヴェルダナーヴァはオレよりも強(つ)ええからな。さっさとコイツを片付けて、援護に回ってやらねーとな)

(Chà, tên đó có lẽ sẽ xoay sở được thôi, nhưng Verudanava mạnh hơn ta. Phải nhanh chóng xử lí tên này rồi đi hỗ trợ mới được).

ギィは意外にも、義理堅いのである。

Guy, thật bất ngờ, lại là một người rất trọng tình nghĩa.

リムルがフェルドウェイに任せて高みの見物をしていると知れば、間違いなく腹を立てるだろう。

Nếu biết Rimuru đã giao phó cho Feldway và đang đứng xem từ trên cao, chắc chắn anh sẽ nổi giận.

そうとは知らぬギィは、イヴァラージェを観察していた。

Không biết điều đó, Guy đang quan sát Ivalage.

ギィの強さは、基本的に相手を観察するところから始まる。

Sức mạnh của Guy về cơ bản bắt đầu từ việc quan sát đối thủ.

強者故の驕(おご)りなどなく、どんな相手だろうが弱点を見抜いてそこを突くのだ。

Không hề có sự kiêu ngạo của kẻ mạnh, dù đối thủ là ai, anh cũng sẽ tìm ra điểm yếu và tấn công vào đó.

もっとも、本当に弱い者をギィが相手にする事がないので、観察には隠された重要な意図があった。その者が持つ権能や特殊能力などを把握し、自分のモノにするという意味合いもあったのだ。

Dù vậy, vì Guy không bao giờ đối đầu với những kẻ thực sự yếu, nên việc quan sát còn có một ý đồ quan trọng khác. Đó là nắm bắt quyền năng và kĩ năng đặc biệt của đối phương, rồi biến chúng thành của mình.

そうして積み重なった数多(あまた)の経験が、ギィを絶対強者として支えていた。

Vô số kinh nghiệm tích lũy được đó đã củng cố vị thế của Guy như một cường giả tuyệt đối.

イヴァラージェが相手でも同様だ。

Ngay cả khi đối thủ là Ivalage cũng không ngoại lệ.

イヴァラージェは特殊な能力を有しているが、究極能力(アルティメットスキル)のような権能は有していない。

Ivalage có những kĩ năng đặc biệt, nhưng không sở hữu quyền năng như Kĩ năng Tối thượng (Ultimate skill).

そんなものがなくても、破壊神として最高峰にあった。

Dù không có thứ đó, hắn vẫn ở đỉnh cao với tư cách là một vị thần hủy diệt.

だがしかし、ギィが相手では勝手が違う。

Nhưng mà, đối thủ là Guy thì lại khác.

「きゃは!」

“Kyah!”.

「無駄だぜ」

“Vô ích thôi”.

力任せの剣撃も、ギィがアッサリと受け流して終わりだ。

Ngay cả những đòn kiếm dùng sức mạnh, Guy cũng dễ dàng gạt đi là xong.

存在値の比較ではイヴァラージェの方が圧倒的なのだが、瞬間最大出力ではギィが上回っていた。

So về giá trị tồn tại, Ivalage vượt trội hơn hẳn, nhưng về công suất tối đa tức thời, Guy lại hơn.

ギィもディアブロ同様、大気中から魔力をかき集める事で、自身の最大エネルギー量をそのまま出力の最大値として扱えるのだ。

Guy, cũng giống như Diablo, có thể thu thập ma lực từ không khí, từ đó sử dụng lượng năng lượng tối đa của mình làm công suất tối đa.

この場合の魔力とは、魔素(エネルギー)量を意味する。自身は消耗せずに継続戦闘が可能という意味であり、ヴェルザードとの長期戦を経たばかりだというのに、ギィはほとんど消耗していない状態だった。

Ma lực trong trường hợp này có nghĩa là lượng ma tố (năng lượng). Điều đó có nghĩa là anh có thể tiếp tục chiến đấu mà không bị tiêu hao, và dù vừa trải qua một trận chiến dài hơi với Veruzard, Guy gần như không bị suy yếu.

疲労はあるが、それは無視出来るレベルだ。

Có mệt mỏi, nhưng đó là mức độ có thể bỏ qua.

この戦闘センスこそ、ギィ最大の強みなのである。

Cảm giác chiến đấu này chính là điểm mạnh lớn nhất của Guy.

イヴァラージェも数分間の戦闘を通して、ギィの危険性を理解していた。圧倒的な力で倒せない敵の出現は、イヴァラージェにとって驚きだったのだ。

Ivalage cũng đã hiểu được sự nguy hiểm của Guy sau vài phút chiến đấu. Sự xuất hiện của một kẻ thù không thể đánh bại bằng sức mạnh áp đảo là một điều ngạc nhiên đối với Ivalage.

けれど、イヴァラージェが感じた感情は──歓喜だ。

Nhưng, cảm xúc mà Ivalage cảm nhận được là—sự vui mừng.

「きゃは♪」

“Kyah♪”.

イヴァラージェの気配が変わった。

Khí chất của Ivalage đã thay đổi.

玩具(オモチャ)で遊ぶだけだった子供から、相手から学ぼうとする好奇心の塊へと。

Từ một đứa trẻ chỉ chơi đùa với đồ chơi, thành một khối tò mò muốn học hỏi từ đối phương.

ルシアという絶世の美女を模した姿で、子供の残虐性を表情に浮かべて、曇りなき眼でギィを見つめるイヴァラージェは、かつてないほど恐ろしい。

Ivalage, trong hình dạng mô phỏng mỹ nhân tuyệt thế Lucia, với vẻ mặt tàn nhẫn của một đứa trẻ, nhìn chằm chằm vào Guy bằng đôi mắt trong veo, đáng sợ hơn bao giờ hết.

イヴァラージェは思い出していた。

Ivalage đang nhớ lại.

「オマエ、知ってる。覚えてる」

“Ngươi, ta biết. Ta nhớ”.

イヴァラージェは遥か昔、ギィを相手に手痛い目に遭った事がある。

Từ rất lâu về trước, Ivalage đã từng bị Guy cho một trận đau đớn.

地上から異界へと逃亡する事になったのだ。

Hắn đã phải trốn chạy từ mặt đất đến một thế giới khác.

自我も芽生えておらず、当時は「痛いな」と感じた程度ではあるが、その時の苛立ちを思い出していた。

Lúc đó, bản ngã của hắn còn chưa hình thành, và hắn chỉ cảm thấy “đau” thôi, nhưng giờ đây, hắn đang nhớ lại sự bực bội lúc đó.

「オマエ、嫌い」

“Ngươi, ta ghét”.

「奇遇だな。オレもよ、テメーは嫌いだぜ」

“Trùng hợp nhỉ. Ta cũng ghét ngươi lắm đấy”.

ギィはそう応じて、イヴァラージェへの攻撃を再開した。

Guy đáp lại như vậy và tiếp tục tấn công Ivalage.

ところが、ここからイヴァラージェが本領発揮する。

Tuy nhiên, từ đây Ivalage mới thực sự thể hiện bản lĩnh của mình.

ルシアの姿になってはいるが、その身はイヴァラージェだ。斬られても『神速再生』によって再現されるので、斬撃ではほとんどダメージが通らない。

Dù có hình dạng của Lucia, nhưng bản chất vẫn là Ivalage. Dù bị chém, cơ thể hắn sẽ được tái tạo nhờ “Tái Sinh Thần Tốc”, nên những nhát chém gần như không gây sát thương.

ギィは衝撃も加えるようにして、イヴァラージェの全身にダメージを蓄積させているのだが、それでも再生速度の速さがネックとなる。イヴァラージェが疲労するまでは、それなりの時間が必要だった。

Guy đang cố gắng gây thêm cả sát thương xung kích để tích lũy tổn thương trên khắp cơ thể Ivalage, nhưng tốc độ tái tạo nhanh vẫn là một trở ngại. Cần một khoảng thời gian đáng kể để Ivalage kiệt sức.

当然、ギィもそれを理解している。

Đương nhiên, Guy cũng hiểu điều đó.

まだ様子見段階で、決め手を見つけてから仕掛けるつもりなのだ。

Anh vẫn đang trong giai đoạn thăm dò, định sẽ ra tay sau khi tìm ra đòn quyết định.

そう悠長な事を言っていられないのが現実なのだが、ギィは焦ったりしない。着実に追い込み、確実に仕留めるつもりであった。

Thực tế là không thể thong thả như vậy, nhưng Guy không hề vội vàng. Anh định sẽ dồn ép một cách chắc chắn và kết liễu hắn một cách triệt để.

だが、しかし。

Nhưng mà.

ここでイヴァラージェに変化が起きる。

Ở đây, Ivalage đã có một sự thay đổi.

「きゃは♪」

“Kyah♪”.

イヴァラージェが喰ったルシアの聖遺骸には、ルシアに宿っていた権能の情報も残されていた。断片化して原形すらとどめていなかったが、イヴァラージェには関係ない。

Trong thánh tích của Lucia mà Ivalage đã ăn, vẫn còn sót lại thông tin về quyền năng mà Lucia sở hữu. Dù đã bị phân mảnh và không còn nguyên vẹn, nhưng đối với Ivalage thì không thành vấn đề.

《個体名:イヴァラージェが、究極能力(アルティメットスキル)『知識之王(ラファエル)』を獲得しました》

<<Cá thể: Ivalage đã nhận được Kĩ năng Tối thượng (Ultimate skill) “Tri Thức Vương (Raphael)”.>>

イヴァラージェの脳内に〝世界の言葉〟が鳴り響いた。

“Giọng nói Thế giới” vang lên trong não Ivalage.

イヴァラージェはルシアの聖遺骸に残されていた残滓から、権能の復元を果たしたのである。

Ivalage đã phục hồi được quyền năng từ những tàn tích còn sót lại trong thánh tích của Lucia.

ここからイヴァラージェは、驚くべき速度で技量(レベル)を高めていく。

Từ đây, Ivalage bắt đầu nâng cao kĩ năng (level) của mình với một tốc độ đáng kinh ngạc.

「チッ、面倒なヤツだ──」

“Chậc, phiền phức thật đấy—”.

ギィは、忌々しそうに舌打ちした。

Guy tặc lưỡi với vẻ bực bội.

最初から油断などしていなかったギィだが、ここに来てイヴァラージェが変化した事で、早期決着という希望を捨てるしかないと悟ったのだ。

Guy vốn đã không hề lơ là cảnh giác ngay từ đầu, nhưng sự thay đổi của Ivalage lúc này khiến anh nhận ra rằng mình phải từ bỏ hi vọng về một kết cục sớm.

「悪ィな、リムル。こいつは長引きそうだ」

“Xin lỗi nhé, Rimuru. Tên này có vẻ sẽ kéo dài đấy”.

ギィは呟くようにして、リムルに謝罪する。

Guy lẩm bẩm xin lỗi Rimuru.

そしてイヴァラージェ攻略計画を見直しながら、もっと深く観察を続けるのだった。

Và trong khi xem xét lại kế hoạch chinh phục Ivalage, anh tiếp tục quan sát sâu hơn.

ギィとイヴァラージェの剣(けん)戟(げき)は、どんどん激しさを増していた。

Cuộc đấu kiếm giữa Guy và Ivalage ngày càng trở nên dữ dội.

常人なら視認不可能。

Người thường không thể nào nhìn thấy được.

この場合の常人とは、超級覚醒者(ミリオンクラス)未満の者を意味する。

Người thường trong trường hợp này có nghĩa là những người dưới cấp Siêu Thức Tỉnh (Million Class).

つまり、世の大半の者達では、この戦いを認識するのも不可能という意味となる。

Nói cách khác, đại đa số người trên thế giới này thậm chí không thể nhận thức được trận chiến này.

というか、この場にいると剣圧を浴びて、一瞬にして塵と化してしまうだろう。

Hay đúng hơn, nếu ở đây, họ sẽ bị kiếm áp tác động và tan thành tro bụi trong chớp mắt.

それほど凄まじい攻防が繰り広げられているのだが、本番はまだ始まってもいなかった。

Một cuộc công phòng khủng khiếp như vậy đang diễn ra, nhưng trận chiến thực sự vẫn chưa bắt đầu.

現在進行形で、イヴァラージェは学習している。

Hiện tại, Ivalage vẫn đang học hỏi.

それはギィの技だけではなく、自分の体内にある記憶からもだ。

Không chỉ từ các kĩ thuật của Guy, mà còn từ những kí ức bên trong cơ thể mình.

主となるのは、今の姿の元となったルシアの記憶だ。

Chủ yếu là kí ức của Lucia, người là nguyên bản cho hình dạng hiện tại của hắn.

断片化された不完全なものではあるが、肉体が覚えている技術などは再現しやすかった。

Dù đã bị phân mảnh và không hoàn chỉnh, nhưng những kĩ thuật mà cơ thể ghi nhớ lại rất dễ tái hiện.

ルドラの妹にして、ヴェルダナーヴァの妻だった女性だ。生前の存在値は百万を超えており、超級覚醒者(ミリオンクラス)という寿命を超越した存在となっていた。

Cô là em gái của Rudra và là vợ của Verudanava. Giá trị tồn tại khi còn sống của cô đã vượt qua một triệu, trở thành một存在 vượt qua cả tuổi thọ, một Siêu Thức Tỉnh (Million Class).

そんなルシアが弱いはずもなく、兄のルドラほどではないものの、剣技もそれなりに習得していたのである。

Lucia như vậy không thể nào yếu, dù không bằng anh trai Rudra, nhưng cô cũng đã lĩnh hội được kiếm kĩ ở một mức độ nhất định.

イヴァラージェはそれを、あっという間に体得していく。

Ivalage đã lĩnh hội được điều đó trong chớp mắt.

しかもそれだけではなく、喰らった者共の〝情報子〟を全て精査して、役立ちそうな技術を全て再現させていったのだ。

Không chỉ vậy, hắn còn xem xét kĩ lưỡng tất cả “hạt thông tin” của những kẻ đã bị ăn thịt, và tái tạo lại tất cả những kĩ thuật có vẻ hữu dụng.

これにより、ギィに伍するほどの腕前になっていく……。

Nhờ đó, kĩ năng của hắn đã đạt đến mức có thể sánh ngang với Guy...

「チッ、この成長速度は異常過ぎんだろうが!」

“Chậc, tốc độ trưởng thành này quá bất thường rồi!”.

ギィは舌打ちして、そう愚痴った。

Guy tặc lưỡi và than thở.

決して手加減などせず、早期決着を目指していたのだ。それなのに、計画は大きく狂ってしまっていた。

Anh không hề nương tay, mà nhắm đến một kết cục sớm. Dù vậy, kế hoạch đã bị lệch hướng nghiêm trọng.

「きゃは♪」

“Kyah♪”.

イヴァラージェが、剣を持たない左手を前に突き出した。

Ivalage đưa tay trái không cầm kiếm ra phía trước.

手の平を向けられる寸前、ギィは危険を察知してその場から飛び退いている。

Ngay trước khi lòng bàn tay hướng về phía mình, Guy đã cảm nhận được nguy hiểm và nhảy lùi lại.

その直後、手の平から亜光速の破壊光線が放たれて、ギィが元いた場所を貫いていた。一歩遅ければ、その身は貫かれていただろう。

Ngay sau đó, một tia sáng hủy diệt với tốc độ gần bằng ánh sáng được bắn ra từ lòng bàn tay, xuyên qua vị trí mà Guy vừa đứng. Nếu chậm một bước, cơ thể anh đã bị xuyên thủng.

破壊光線は、〝天通閣〟の壁に衝突し、激しく建物を揺らしている。

Tia sáng hủy diệt va vào bức tường của “Thiên Thông Các”, làm rung chuyển tòa nhà một cách dữ dội.

恐るべき衝撃だが、その威力は収束させずに放った場合の比ではなかった。

Đó là một cú sốc đáng sợ, nhưng uy lực của nó không thể so sánh với khi bắn ra mà không hội tụ.

面で当てられるのと、針先で刺されるのとでは、同じエネルギー量でも痛みが違う。それと同じ理屈で、収束された破壊光線は、同じエネルギーでありながらも威力が桁違いに跳ね上がっていたのだった。

Bị đánh trúng trên diện rộng và bị đâm bằng đầu kim, dù cùng một lượng năng lượng nhưng cảm giác đau lại khác nhau. Theo cùng một nguyên lí, tia sáng hủy diệt được hội tụ, dù có cùng năng lượng nhưng uy lực đã tăng lên một cách đáng kể.

これを見てもギィは涼しい顔だが、他の者達は絶句していた。

Dù chứng kiến điều đó, Guy vẫn giữ vẻ mặt điềm tĩnh, nhưng những người khác thì chết lặng.

「ぐぬぬ、アレはワタシの〝竜星爆炎覇(ドラゴ・ノヴァ)〟に匹敵しそうな威力なのだ……」

“Grừ, uy lực của đòn đó có vẻ ngang ngửa với “Long Tinh Bộc Viêm Bá (Drago Nova)” của tớ...”.

「わ、我なら耐えられるがな!」

“T-ta thì chịu được đấy!”.

「お馬鹿さんね。耐えられるかどうか、そんな議論をしても意味がないわよ」

“Đúng là đồ ngốc. Thảo luận xem có chịu được hay không cũng chẳng có ý nghĩa gì đâu”.

「そうねえ。どちらにせよ、面で浴びる方がエネルギーの損耗率は大きいのだし。収束させちゃって対象を貫いても、ダメージ量としては少なくなりそうだものね」

“Đúng vậy. Dù sao thì, bị trúng trên diện rộng sẽ hao tổn năng lượng nhiều hơn. Dù có hội tụ lại và xuyên qua mục tiêu, lượng sát thương có lẽ cũng sẽ ít hơn”.

ミリムとヴェルドラは強がるだけだが、ヴェルグリンドとヴェルザードは冷静に分析していた。

Millim và Verudora chỉ cố tỏ ra mạnh mẽ, trong khi Verugrynd và Veruzard lại bình tĩnh phân tích.

ヴェルザードの指摘が正しいと、ヴェルグリンドも頷く。

Verugrynd cũng gật đầu đồng tình với nhận định của Veruzard.

実際、ヴェルグリンドは自分の場合に置き換えて、どちらがダメージが大きかったのか予測検討している。面で浴びた方が防御面積が増える上に、ごっそりとエネルギーを消耗するだろうというのが、その答えだったのだ。

Thực tế, Verugrynd đã thử đặt mình vào tình huống đó và dự đoán xem bên nào sẽ gây ra nhiều sát thương hơn. Câu trả lời là, bị tấn công trên diện rộng sẽ tăng diện tích phòng thủ và tiêu hao một lượng lớn năng lượng.

精神生命体にとっては、肉体の欠損は、再生可能なダメージでしかない。人間のように重要な臓器がある訳でもないので、身体に穴が空こうが致命傷にはならない為だ。

Đối với một thể sống tinh thần, tổn thương cơ thể chỉ là sát thương có thể tái tạo. Không giống như con người có những cơ quan quan trọng, nên dù cơ thể có bị thủng một lỗ cũng không phải là vết thương chí mạng.

もっとも、当たり所が悪ければ下半身を失ったりするので、そうなると継戦するのが困難となってしまう。それを補うべく大量にエネルギーを消耗する羽目になると、見過ごせるダメージ量を超過してしまうのだ。

Dù vậy, nếu bị trúng vào điểm yếu, có thể mất đi nửa thân dưới, khi đó sẽ rất khó để tiếp tục chiến đấu. Để bù đắp lại, sẽ phải tiêu hao một lượng lớn năng lượng, vượt qua mức sát thương có thể bỏ qua.

そういう意味でも、無視してそのまま受けるか、避けるか、防御するか、その時々の判断が重要となってくるのだった。

Theo nghĩa đó, việc phán đoán vào từng thời điểm, liệu nên phớt lờ và hứng chịu, né tránh, hay phòng thủ, đều trở nên vô cùng quan trọng.

ギィは今回、回避を選択した。

Lần này, Guy đã chọn né tránh.

なので、エネルギー損耗はゼロだ。

Vì vậy, không có sự tiêu hao năng lượng nào.

それだけではなく、これは重要な布石となっている。

Không chỉ vậy, đây còn là một bước đệm quan trọng.

それは何かと言えば──

Đó là gì ư—

「きゃは♪」

“Kyah♪”.

イヴァラージェは自身の優位性を確信していた。

Ivalage đã tin chắc vào ưu thế của mình.

軽々と破壊光線を斬り裂いて見せたギィが、収束させたビームを避けたからだ。

Bởi vì Guy, người đã dễ dàng chém đứt tia sáng hủy diệt, lại né tránh chùm tia hội tụ.

全面を埋め尽くすように放つ破壊光線は、狙いを定めずに速射が可能という利便性がある。収束させてしまうと命中率を気にする必要があるが、それも遊びだと思えば楽しいものだ。

Tia sáng hủy diệt bao phủ toàn bộ khu vực có ưu điểm là có thể bắn nhanh mà không cần nhắm. Nếu hội tụ lại, sẽ phải lo lắng về độ chính xác, nhưng nếu coi đó là một trò chơi thì cũng rất vui.

イヴァラージェは新しい遊びに夢中になるように、ギィに向けて収束破壊光線を撃ちまくる。

Ivalage, như thể đang say mê một trò chơi mới, liên tục bắn tia sáng hủy diệt hội tụ về phía Guy.

「きゃはははは!!」

“Kyahahahaha!!”.

底なしの魔素(エネルギー)量を誇るイヴァラージェにとっては、この程度の乱発など庭を散歩するようなものだ。疲れなど感じる事もなく、左手を前に突き出し連続して収束破壊光線を放っていた。

Đối với Ivalage, người sở hữu lượng ma tố (năng lượng) vô tận, việc bắn loạn xạ như thế này cũng chỉ như đi dạo trong vườn. Hắn không hề cảm thấy mệt mỏi, cứ đưa tay trái ra phía trước và liên tục bắn ra những tia sáng hủy diệt hội tụ.

ギィは避ける。

Guy né tránh.

亜光速の攻撃だろうが、イヴァラージェの手の平の動きや空気の揺らぎ、大気が焼ける匂いなどから、着弾点を完全予測していた。

Dù là đòn tấn công với tốc độ gần bằng ánh sáng, anh vẫn có thể dự đoán chính xác điểm va chạm dựa trên chuyển động của lòng bàn tay Ivalage, sự dao động của không khí, và mùi không khí bị đốt cháy.

そうしつつ、〝世界(ワルド)〟を構えてイヴァラージェを狙うのだ。

Trong khi đó, anh vẫn thủ thế với “Thế Giới (World)” và nhắm vào Ivalage.

「そろそろ終わらせてやるよ」

“Sắp kết thúc rồi đấy”.

「生意気!」

“Láo xược!”.

「テメーがな!」

“Ngươi mới là kẻ láo xược!”.

ギィは乱発される収束破壊光線を掻い潜るようにして、イヴァラージェに肉薄した。そして、右手に握った〝世界(ワルド)〟を突き出すようにして、イヴァラージェの心臓部分を狙う。

Guy len lỏi qua những tia sáng hủy diệt hội tụ được bắn ra liên tục, áp sát Ivalage. Rồi, anh đâm “Thế Giới (World)” đang nắm trong tay phải nhắm vào vùng tim của Ivalage.

そこは、イヴァラージェの中心核。エネルギー密度の高さから、弱点の一つであろうと予測される部位だった。

Đó là lõi trung tâm của Ivalage. Dựa vào mật độ năng lượng cao, đó là một bộ phận được dự đoán là một trong những điểm yếu của hắn.

イヴァラージェは懐に潜り込まれた時点で、剣も破壊光線も封じられた形になる。このままギィの攻撃が通用すれば、それで決着が付くはずだった。

Khi bị áp sát vào trong tầm tay, Ivalage đã bị vô hiệu hóa cả kiếm và tia sáng hủy diệt. Nếu đòn tấn công của Guy có hiệu quả, trận đấu sẽ kết thúc tại đây.

「きゃは♪」

“Kyah♪”.

ギィが突き出した〝世界(ワルド)〟が、イヴァラージェに迫る。その瞬間、イヴァラージェの胸が光った。エネルギー密度が高かったのは、そこからビームを放つつもりだったからなのだ。

“Thế Giới (World)” mà Guy đâm tới đang tiến gần đến Ivalage. Ngay lúc đó, ngực của Ivalage phát sáng. Mật độ năng lượng cao là vì hắn định bắn một chùm tia từ đó.

「私の勝ち♪」

“Ta thắng rồi♪”.

直近で放たれた亜光速の収束破壊光線は、まだ拡散もしていない状態でギィの胸部に到達する。

Tia sáng hủy diệt hội tụ với tốc độ gần bằng ánh sáng được bắn ra ở cự li gần, sẽ chạm đến ngực của Guy khi nó còn chưa kịp khuếch tán.

回避出来るようなタイミングではなく、ギィにとっては絶体絶命だ。

Đó không phải là thời điểm có thể né tránh, đối với Guy, đó là một tình thế tuyệt vọng.

イヴァラージェが勝利を確信したのも当然なのだが、しかし──

Việc Ivalage tin chắc vào chiến thắng là điều hiển nhiên, nhưng—

「甘いな」

“Ngây thơ quá”.

ギィは余裕の表情だった。

Guy lại có vẻ mặt ung dung.

〝世界(ワルド)〟がイヴァラージェを穿つ。

“Thế Giới (World)” xuyên qua Ivalage.

「きゃは?」

“Kyah?”.

何が起きたのか、イヴァラージェには理解出来ない。

Ivalage không thể hiểu được chuyện gì đã xảy ra.

ギィの身体に触れる直前、収束破壊光線が霧散したのだ。

Ngay trước khi chạm vào cơ thể Guy, tia sáng hủy diệt hội tụ đã tan biến.

その理由は、ギィの権能にあった。

Lí do nằm ở quyền năng của Guy.

リムルの権能──『暴食之王(ベルゼビュート)』を再現可能なギィからすれば、放出系の攻撃は全て『捕食』可能な餌でしかなかったのだ。

Đối với Guy, người có thể tái tạo quyền năng của Rimuru—“Bạo Thực Vương (Belzebuth)”, tất cả các đòn tấn công dạng phóng xuất chỉ là mồi ngon có thể “Săn Mồi”.

最初からイヴァラージェの攻撃を『捕食』出来たギィが、敢えて回避して見せたのは、この瞬間を狙っていたからだった。そこまでエネルギーを消耗していなかったので、今の攻撃を喰った時点で完全回復まで完了しているギィなのだった。

Guy, người ngay từ đầu đã có thể “Săn Mồi” các đòn tấn công của Ivalage, cố tình né tránh là để nhắm vào khoảnh khắc này. Anh không tiêu hao quá nhiều năng lượng, nên ngay khi nuốt chửng đòn tấn công vừa rồi, Guy đã hoàn toàn hồi phục.

ギィが傲慢に告げる。

Guy kiêu ngạo tuyên bố.

「はん! 相変わらず、大した事ねーな」

“Hừ! Vẫn như mọi khi, chẳng ra gì cả”.

それを受けて、イヴァラージェが怨嗟の声を上げた。

Nghe vậy, Ivalage cất lên tiếng oán hận.

「オマエ、オマエェェェェ────ッ!!」

“Ngươi, ngươiーーーー!!”.

勝ったと思った瞬間、地獄に突き落とされた気分である。

Cảm giác như bị đẩy xuống địa ngục ngay khoảnh khắc tưởng mình đã thắng.

これが怒りかと理解する前に、悔しくて叫びだしてしまっていた。

Trước khi kịp hiểu đó là sự tức giận, hắn đã hét lên vì uất ức.

イヴァラージェがギィを睨む。

Ivalage lườm Guy.

ルシアにそっくりな美貌が、憎悪によって歪んでいた。

Vẻ đẹp giống hệt Lucia đã bị biến dạng bởi lòng căm thù.

今の一撃は、イヴァラージェにとっても無視出来ないものだった。致命傷ではないが、初めて意識するほどのダメージを負ったのである。

Đòn tấn công vừa rồi, đối với Ivalage cũng không thể xem thường. Dù không phải là vết thương chí mạng, nhưng hắn đã phải chịu một lượng sát thương đủ để lần đầu tiên phải để tâm.

これは、イヴァラージェにとっては懐かしい体験であった。

Đây là một trải nghiệm quen thuộc đối với Ivalage.

当時もギィが原因だったので、それを思い出して余計に怒りが湧いてくる。

Lần đó cũng là do Guy gây ra, nên khi nhớ lại, cơn giận của hắn càng bùng lên.

この時、生まれて初めて、イヴァラージェがギィを敵だと認識した。

Lúc này, lần đầu tiên trong đời, Ivalage đã nhận thức Guy là kẻ thù.

その意識の空白を狙うように、イヴァラージェの身体が数多の光に包まれる──

Như thể nhắm vào khoảng trống ý thức đó, cơ thể Ivalage được bao bọc bởi vô số ánh sáng—

観客と化していたヴェルドラ達だったが、ギィから『思念伝達』で命令されていた。

Verudora và những người khác đã trở thành khán giả, nhưng họ đã nhận được lệnh từ Guy qua “Truyền Đạt Tư Niệm”.

『オレの合図で全力攻撃を放てるように、気合入れて準備してやがれ!!』

“Theo hiệu lệnh của ta, chuẩn bị sẵn sàng để tung ra đòn tấn công toàn lực!!”.

それを聞いて、ヴェルドラが愚痴った。

Nghe vậy, Verudora phàn nàn.

「ぐぬぬ、ギィめ、偉そうに……」

“Grừ, tên Guy đó, ra vẻ ta đây...”.

これにミリムが乗っかる。

Millim hùa theo.

「まったくなのだ! ワタシに命令するなど──」

“Đúng là thế! Dám ra lệnh cho tớ—”.

その発言は、最後まで口に出来なかった。

Câu nói đó đã không thể thốt ra trọn vẹn.

その時、冷気が吹き抜けたからだ。

Bởi vì lúc đó, một luồng khí lạnh đã thổi qua.

「命令するなど? 何かしら? ねえ、ミリム。それに、ヴェルドラちゃんも。何か文句でもあるのかしら?」

“Ra lệnh sao? Chuyện gì vậy? Này, Millim. Cả Verudora-chan nữa. Có gì phàn nàn sao?”.

言ってごらんなさい──と、ヴェルザードが微笑む。

Nói đi xem nào—Veruzard mỉm cười.

「いえ……何も文句など御座いませぬ……」

“Không... không có gì phàn nàn cả...”.

「ワ、ワタシもなのだ! 無論、協力するのだぞ!」

“T-tớ cũng vậy! Đương nhiên là sẽ hợp tác rồi!”.

「ありがとう。ギィの頼みだもの、ちゃんと聞いてあげなきゃね!」

“Cảm ơn. Dù sao cũng là lời nhờ vả của Guy, phải nghe cho kĩ chứ!”.

そんな感じにヴェルザードに脅迫──もとい、お願いされて、この場にいる全員が了承していた。

Cứ như vậy, bị Veruzard đe dọa—hay nói đúng hơn là nhờ vả, tất cả mọi người có mặt ở đây đều đã đồng ý.

そして、戦いを見守っていたのだ。

Và họ đã theo dõi trận chiến.

収束破壊光線を余(よ)裕(ゆう)綽(しゃく)々(しゃく)で避けるギィは、その口元に笑みまで浮かべていた。

Guy, người đang ung dung né tránh tia sáng hủy diệt hội tụ, thậm chí còn nở một nụ cười trên môi.

当たれば致命傷とは言わないが、無視出来ない危険な攻撃だ。それなのに、ギィは脅威と感じていない様子だった。

Nếu trúng phải, tuy không phải là vết thương chí mạng, nhưng cũng là một đòn tấn công nguy hiểm không thể xem thường. Dù vậy, Guy dường như không cảm thấy đó là một mối đe dọa.

そんなギィを見て、ヴェルドラがぼやく。

Nhìn Guy như vậy, Verudora lẩm bẩm.

「しかし、姉上。ギィは油断し過ぎなのではないか? 当たれば無事では済まぬであろうに、もっと真剣に警戒すべきであろうよ」

“Nhưng mà, chị ơi. Guy có phải là quá lơ là không? Nếu bị trúng thì sẽ không yên đâu, đáng lẽ phải cảnh giác nghiêm túc hơn chứ”.

余裕を持つのは結構だが、ギィはやり過ぎだとヴェルドラは思った。それを素直に指摘したのだが、これに対してヴェルザードの返事は素っ気ない。

Có sự tự tin là tốt, nhưng Verudora nghĩ rằng Guy đã đi quá xa. Cậu đã thẳng thắn chỉ ra điều đó, nhưng câu trả lời của Veruzard lại rất thờ ơ.

「あのね、ヴェルドラちゃん。ギィは貴方とは違って、強いの。貴方の常識で推し量るのは止めなさいね」

“Này nhé, Verudora-chan. Guy khác với em, anh ấy mạnh. Đừng có dùng tiêu chuẩn của em để đánh giá anh ấy nữa”.

笑顔で告げられ、ヴェルドラは思った。

Được nói với một nụ cười, Verudora nghĩ.

我だって、強いんですけど──と。

Ta cũng mạnh mà—

しかし、口に出さないだけの賢明さは持ち合わせていたので、黙って頷くに留める。

Tuy nhiên, cậu đủ khôn ngoan để không nói ra, nên chỉ im lặng gật đầu.

賢明というより、姉にビビッただけという説もあるが、ヴェルドラの名誉の為にも深く気にしたら負けであった。

Cũng có giả thuyết cho rằng không phải là khôn ngoan mà chỉ là sợ chị gái, nhưng vì danh dự của Verudora, nếu quá bận tâm thì sẽ thua.

イヴァラージェの攻撃は、どんどん苛烈に、精度を増していく。

Các đòn tấn công của Ivalage ngày càng trở nên dữ dội và chính xác hơn.

これを見て、今度はミリムが騒ぐのだ。

Nhìn thấy điều này, lần này đến lượt Millim la lên.

「むむむ、本当に大丈夫なのか? ギィはワタシも認める魔王だが、イヴァラージェは本当に強かったのだぞ?」

“Grừ, có thật sự ổn không vậy? Dù tớ cũng công nhận Guy là một Ma vương, nhưng Ivalage thực sự rất mạnh đấy?”.

ギィの戦いは、紙一重で攻撃を回避するスタイルだ。たまに掠ったりする為、見ている方がハラハラさせられるのである。

Cách chiến đấu của Guy là né tránh các đòn tấn công chỉ trong gang tấc. Thỉnh thoảng lại bị sượt qua, khiến người xem phải thót tim.

まして、イヴァラージェの一撃の重さを知るだけに、ヴェルザード以外は不安な様子で見守っていた。

Huống hồ, chỉ vì biết được sức nặng của một đòn tấn công của Ivalage, nên ngoài Veruzard ra, ai cũng lo lắng theo dõi.

ヴェルグリンドが黙っているのは、姉を怒らせたくないからだ。ギィに何かあれば、直ぐに援護に回れるように身構えつつ、ギィの要望に応えるべく、体内で必殺奥義を練り上げていた。

Verugrynd im lặng là vì không muốn làm chị gái tức giận. Chị vừa thủ thế để có thể lập tức hỗ trợ nếu Guy gặp chuyện, vừa luyện tập奥義 tất sát trong cơ thể để đáp ứng yêu cầu của Guy.

一番真面目で、正解な対応である。

Đó là cách đối phó nghiêm túc và đúng đắn nhất.

ヴェルザードもそれを理解しており、ヴェルグリンドには何も言わない。その代わりに、ヴェルドラとミリムに向かって「そろそろ準備しなさい」と優しく注意するのだった。

Veruzard cũng hiểu điều đó và không nói gì với Verugrynd. Thay vào đó, chị nhẹ nhàng nhắc nhở Verudora và Millim “Sắp đến lúc chuẩn bị rồi đấy”.

そして、その瞬間が訪れた。

Và khoảnh khắc đó đã đến.

イヴァラージェの胸から放たれた収束破壊光線が、ギィの胸部に直撃したのだ。

Tia sáng hủy diệt hội tụ được bắn ra từ ngực Ivalage đã trúng thẳng vào ngực Guy.

ほら見ろ! とヴェルドラは思った。

Thấy chưa! Verudora nghĩ.

やはりな! とミリムも思った。

Quả nhiên! Millim cũng nghĩ vậy.

これでギィが死ぬとは思わないが、戦力ダウンは免れない。全力でそうなったのならともかく、自分一人で向かっていって余裕を見せて失敗したのなら、これは文句を言われても仕方ない話であろう。

Không nghĩ là Guy sẽ chết vì chuyện này, nhưng việc sức chiến đấu giảm sút là không thể tránh khỏi. Nếu là do dốc toàn lực mà ra nông nỗi này thì còn có thể chấp nhận, nhưng nếu là do một mình xông lên, tỏ vẻ ung dung rồi thất bại, thì đây là chuyện dù có bị phàn nàn cũng không thể trách được.

なので、二人はここぞとばかりに責め立て、意地を張らずに全員で挑むべきと主張しようとしたのだが──それを口にするより先に、ギィからの号令が飛んだ。

Vì vậy, hai người họ định nhân cơ hội này mà chỉ trích, và chủ trương rằng nên từ bỏ sự bướng bỉnh và tất cả cùng xông lên—nhưng trước khi họ kịp nói ra, hiệu lệnh của Guy đã vang lên.

『今だぜ』

“Ngay bây giờ!”.

この瞬間、ヴェルドラとミリムは条件反射的に必殺奥義を放った。

Ngay lúc đó, Verudora và Millim theo phản xạ có điều kiện đã tung ra奥義 tất sát của mình.

ミリムは当然、全力の竜星爆炎覇(ドラゴ・ノヴァ)だ。

Millim đương nhiên là “Long Tinh Bộc Viêm Bá (Drago Nova)” toàn lực.

両手の装備が砕けるほどの出力で、イヴァラージェ目掛けてぶっ放した。

Với sức mạnh đủ để làm vỡ tan trang bị trên cả hai tay, cô bắn thẳng vào Ivalage.

ヴェルドラは、雷嵐咆哮(サンダーストーム)☆人化バージョンver.Ⅱを撃った。

Verudora đã bắn ra “Tiếng Gầm Bão Sấm (Thunderstorm)☆ phiên bản hình người ver.II”.

暴走状態のミリム相手に使用しようとして、クロエに止められた例の必殺技である。

Đó là chiêu thức tất sát mà cậu định dùng để đối phó với Millim trong trạng thái nổi điên nhưng đã bị Chloe ngăn lại.

竜形態で放つ雷嵐咆哮(サンダーストーム)よりも、エネルギー密度は上だ。ミリムのポーズと同じく、両掌を前方へ向け手首を合わせて竜の顎のような構えを取って、全力で放っていた。

Mật độ năng lượng cao hơn so với “Tiếng Gầm Bão Sấm (Thunderstorm)” được phóng ra ở dạng rồng. Giống như tư thế của Millim, cậu hướng cả hai lòng bàn tay về phía trước, hai cổ tay chụm lại tạo thành thế giống như hàm rồng, rồi dốc toàn lực phóng ra.

ヴェルグリンドは優秀だ。

Verugrynd rất xuất sắc.

遅れる事なく、最大出力で灼熱竜覇加速励起(カーディナルアクセラレーション)を放っている。

Không hề chậm trễ, chị đã tung ra “Chước Nhiệt Long Bá Kích Thích Gia Tốc (Cardinal Acceleration)” với công suất tối đa.

そしてヴェルザードも、真っ先に冷極消失凝収覇(ホワイトアウトアブソーブ)を仕掛けていた。遅れる者がいれば叱責しようと考えていたが、幸いにも不届き者はいなかったので、ヴェルザードも満足である。

Và Veruzard cũng đã tung ra “Cực Hàn Tiêu Biến Ngưng Tụ (Whiteout Absorb)” ngay từ đầu. Chị đã định sẽ khiển trách nếu có ai chậm trễ, nhưng may mắn là không có kẻ nào như vậy, nên Veruzard cũng rất hài lòng.

こうして、ギィの狙い通り四名同時に必殺技が重なった。

Cứ như vậy, đúng như ý đồ của Guy, bốn người đã cùng lúc tung ra chiêu thức tất sát.

この世界の頂点とも呼べる強者達なので、タイミングも完璧だ。その瞬間、ギィが望んだ通りに絶大な破壊力が生じていた。

Họ là những cường giả có thể coi là đỉnh cao của thế giới này, nên thời điểm cũng hoàn hảo. Ngay lúc đó, một sức mạnh hủy diệt khủng khiếp đã được tạo ra đúng như mong muốn của Guy.

「いい働きだぜ、お前ら!」

“Làm tốt lắm, các ngươi!”.

ギィが褒めた。

Guy khen ngợi.

滅多にない事だが、ミリムやヴェルドラにとっては『偉そうだ』と不満であろう。

Đây là một chuyện hiếm có, nhưng đối với Millim và Verudora, có lẽ họ sẽ cảm thấy “ra vẻ ta đây” và không hài lòng.

それはともかく。

Dù sao thì.

ギィも他人任せで、イヴァラージェとの決着を終わらせるつもりはなかった。

Guy cũng không có ý định phó mặc cho người khác và kết thúc trận chiến với Ivalage.

我が物顔で『暴食之王(ベルゼビュート)』を起動して、その場で荒れ狂うはずだった空前絶後のエネルギーを喰らいつくしたのだ。そしてそれを統合し──ミリムの竜星爆炎覇(ドラゴ・ノヴァ)だけは別枠扱いで纏(まと)わせて──一つの指向性波動として再構築してのけた。

Anh ta ngang nhiên kích hoạt “Bạo Thực Vương (Belzebuth)”, nuốt chửng toàn bộ năng lượng vô tiền khoáng hậu lẽ ra sẽ tàn phá nơi đó. Rồi anh ta hợp nhất chúng—chỉ riêng “Long Tinh Bộc Viêm Bá (Drago Nova)” của Millim được xử lí riêng—và tái cấu trúc thành một luồng sóng định hướng.

信じ難い行為である。

Đó là một hành động khó tin.

統合された破壊のエネルギーは、渦巻くようにしてイヴァラージェの周囲を巡り始めていた。

Năng lượng hủy diệt đã được hợp nhất bắt đầu xoáy quanh Ivalage.

「きゃは?」

“Kyah?”.

イヴァラージェから、笑みが消えていた。

Nụ cười đã biến mất khỏi khuôn mặt Ivalage.

流石にそれだけのエネルギーが直撃すれば、無事では済まないと理解したのだ。

Hắn hiểu rằng nếu bị trúng một lượng năng lượng lớn như vậy thì sẽ không thể yên ổn.

それと同時に、どうしてその決定的瞬間が訪れなかったのか、疑問が生じていたのである。

Đồng thời, hắn cũng thắc mắc tại sao khoảnh khắc quyết định đó lại không xảy ra.

究極の破壊エネルギーが、イヴァラージェの周囲を巡り続ける。

Năng lượng hủy diệt tối thượng tiếp tục xoay quanh Ivalage.

これを見て、ヴェルドラとミリムが憤慨しつつも驚嘆していた。

Nhìn thấy điều này, Verudora và Millim vừa phẫn nộ vừa kinh ngạc.

「わ、我の力を!? ぐぬぬ、リムルのような真似をしおってからに……」

“S-sức mạnh của ta!? Grừ, lại bắt chước như Rimuru...”.

「ワタシの力まで利用されるとは、とても信じられないのだ。無茶をし過ぎなのだぞ!!」

“Ngay cả sức mạnh của tớ cũng bị lợi dụng, thật không thể tin được. Ngươi làm liều quá đấy!!”.

ヴェルザードとヴェルグリンドは、驚きよりも呆れが大きい。

Veruzard và Verugrynd thì chán nản nhiều hơn là ngạc nhiên.

「あらまあ、あんな真似まで出来ちゃうのなら、どうやっても勝てなかったわねぇ……」

“Ara ma, nếu có thể làm được cả những chuyện như vậy, thì dù thế nào cũng không thể thắng được nhỉ...”.

「同感だわ。ルドラとのゲームなんて、ギィが出張るだけで終わってたのね」

“Tôi cũng đồng ý. Trò chơi với Rudra, chỉ cần Guy ra mặt là kết thúc rồi”.

「そうねえ……だからこそ、代理戦争に拘(こだわ)ったんでしょうね」

“Đúng vậy nhỉ... Chính vì thế, có lẽ anh ấy mới cố chấp với cuộc chiến ủy nhiệm”.

ヴェルザードの言う通りだった。

Lời của Veruzard hoàn toàn đúng.

勝ちが確定している遊びなど、何の面白みもないのだ。誰かと勝負するなら、リスクを負うのが筋だとギィは考えているのである。

Một trò chơi mà chiến thắng đã được định đoạt thì chẳng có gì thú vị. Nếu thi đấu với ai đó, Guy nghĩ rằng việc chấp nhận rủi ro mới là đúng đắn.

ディアブロも同様だし、テスタロッサ、カレラやウルティマも同意するだろう。ミザリーやレインでさえも、この考え方には納得するはずだ。

Diablo cũng vậy, và Testarossa, Carrera hay Ultima cũng sẽ đồng ý. Ngay cả Misery và Rain cũng sẽ đồng tình với quan điểm này.

負ける可能性があるから、勝負事は面白い──というのが、原初達に共通する考え方なのだった。

Có khả năng thua, nên các cuộc thi đấu mới thú vị—đó là quan điểm chung của các Nguyên sơ.

そして、ギィは勝負事には強かった。

Và Guy rất giỏi trong các cuộc thi đấu.

ヴェルダナーヴァに敗北して以降、一度の敗北も経験していないのだ。

Kể từ sau thất bại trước Verudanava, anh chưa từng trải qua một thất bại nào.

かつて、イヴァラージェを撃退したのもギィだった。

Trước đây, người đã đẩy lùi Ivalage cũng chính là Guy.

そしてそれは、今回も同じなのだ。

Và lần này cũng vậy.

「そら、痛(いて)ぇのをくれてやるぜ! 死ぬまで味わえ──〝崩滅虚触獄(カタストロフィアイクリプス)〟──」

“Đây, ta ban cho ngươi một đòn đau đớn đây! Cứ từ từ mà nếm trải cho đến chết đi—'Băng Diệt Hư Xúc Ngục (Catastrophe Eclipse)'—”.

ギィが技を放った。

Guy tung ra chiêu thức.

それは、イヴァラージェを囲い込むように巡っていた破壊エネルギーと融合し、本領発揮する。

Nó dung hợp với năng lượng hủy diệt đang xoay quanh Ivalage, và phát huy hết sức mạnh của mình.

崩滅虚触獄(カタストロフィアイクリプス)──この奥義は、破滅の力だ。

Băng Diệt Hư Xúc Ngục (Catastrophe Eclipse)—奥義 này là sức mạnh của sự hủy diệt.

モスの〝虚喰無限獄(インフィニットイーター)〟と似た面もあるが、本質は全く異なっている。この技に込められたエネルギーを流用してダメージを与えて、それを継続させるという悪意に満ちた技なのである。多用も可能だし、重ね掛けも連発も出来た。

Nó có một số điểm tương đồng với “Vô Hạn Ngục Nuốt Chửng Hư Không (Infinite Eater)” của Moss, nhưng bản chất lại hoàn toàn khác. Đây là một kĩ thuật đầy ác ý, lợi dụng năng lượng chứa trong đó để gây sát thương và duy trì nó. Có thể sử dụng nhiều lần, chồng chất hiệu ứng và bắn liên tục.

その上、一度与えたダメージは回復する事はない。肉体的損傷があれば、回復魔法なども無効化されてしまう。自然治癒するエネルギーも片っ端から消耗させられるのだから、いずれ力尽きるのが必然という悪質さであった。

Hơn nữa, sát thương một khi đã gây ra sẽ không thể hồi phục. Nếu có tổn thương vật lí, ngay cả ma pháp hồi phục cũng sẽ bị vô hiệu hóa. Năng lượng tự nhiên chữa lành cũng bị tiêu hao hết, nên việc cuối cùng sẽ kiệt sức là điều tất yếu, đúng là một sự độc ác.

今回、ギィはこの技に、自身の最大エネルギーだけでなく、ヴェルドラ達の力まで組み込んでいる。それら全てが万物を消滅させるマイナスエネルギーへと転換されて、イヴァラージェへと喰らいついていた。

Lần này, Guy không chỉ kết hợp năng lượng tối đa của mình vào chiêu thức này, mà còn cả sức mạnh của Verudora và những người khác. Tất cả chúng đã được chuyển hóa thành năng lượng âm có khả năng tiêu diệt vạn vật, và đang bám lấy Ivalage.

それはもう、疑似的な『虚無』である。

Đó đã là một dạng “Hư Vô” giả.

制御可能という点で、より安全で優れていると言えよう。

Ở điểm có thể kiểm soát được, có thể nói nó an toàn và ưu việt hơn.

ギィ達はエネルギーが回復すれば、再びこの技を仕掛けられるのだ。

Guy và những người khác, một khi năng lượng hồi phục, có thể tung ra chiêu thức này một lần nữa.

それに対してイヴァラージェは、ギィの〝崩滅虚触獄(カタストロフィアイクリプス)〟を破らぬ限り万全の状態まで回復する術はない。現状維持するのも精一杯な上に、これ以降はどんどん消耗する未来が待ち受けていた。

Ngược lại, Ivalage, chừng nào chưa phá được “Băng Diệt Hư Xúc Ngục (Catastrophe Eclipse)” của Guy, sẽ không có cách nào hồi phục hoàn toàn. Hắn đã phải cố hết sức để duy trì tình trạng hiện tại, và từ giờ trở đi, một tương lai ngày càng kiệt sức đang chờ đợi hắn.

「ワタシもアレを喰らったのだな……」

“Tớ cũng đã bị trúng đòn đó sao...”.

ミリムがポツリと呟いた。

Millim lẩm bẩm.

記憶にはないが、暴走した時にギィとラミリスによって正気に戻されたという話は知っている。その手段までは聞かされていなかったが、この技ならば可能だろうな、とミリムは思ったのだ。

Dù không nhớ, nhưng cô bé biết câu chuyện về việc mình đã được Guy và Lamrys đưa trở lại bình thường khi nổi điên. Cô không được nghe về phương pháp, nhưng Millim nghĩ rằng với chiêu thức này thì có thể.

実際、それは正解だった。

Thực tế, đó là câu trả lời đúng.

ミリムがどんどん力を増大させようとも、ギィが弱体化させる事でバランスを調整したのだ。口で言うほど簡単ではないのだが、それを成し遂げたからこそ今がある。

Dù Millim có tăng cường sức mạnh đến đâu, Guy đã điều chỉnh sự cân bằng bằng cách làm cô yếu đi. Nói thì dễ hơn làm, nhưng chính vì đã làm được điều đó nên mới có ngày hôm nay.

ギィの類まれなる戦闘センスと、究極の権能が合わさり、〝竜種〟にさえも通用するほどの対精神生命体に特化した奥義が成立しているのだった。

Cảm giác chiến đấu phi thường của Guy và quyền năng tối thượng kết hợp lại, tạo thành một奥義 chuyên đối phó với thể sống tinh thần, có hiệu quả ngay cả với “Long chủng”.

「えぐいな……」

“Ghê thật...”.

ヴェルドラがミリムに相槌するように、唖然としながら頷く。

Verudora vừa đồng tình với Millim, vừa gật đầu một cách sững sờ.

ヴェルドラにも、ギィに敗北した記憶がある。今の自分とは無関係と言い張ってはいるが、負けは負けだ。

Verudora cũng có kí ức về việc bị Guy đánh bại. Dù cậu khăng khăng rằng điều đó không liên quan đến bản thân hiện tại, nhưng thua vẫn là thua.

それ以前に、何がどうなって敗北したのかまでは覚えていないのが問題だった。

Trước đó, vấn đề là cậu không nhớ được mình đã thua như thế nào.

次に戦っても勝てる保証がないので、ギィはヴェルドラにとっても警戒対象だったのだ。

Không có gì đảm bảo sẽ thắng trong lần đối đầu tiếp theo, nên Guy cũng là một đối tượng cảnh giác đối với Verudora.

ちなみに、姉二人には戦う前から負けているようなものなので、警戒対象と言うよりも恐怖対象と呼ぶのが正解なのだった。

Nhân tiện, với hai người chị gái thì cậu gần như đã thua ngay từ trước khi chiến đấu, nên gọi họ là đối tượng kinh hoàng thì đúng hơn là đối tượng cảnh giác.

ヴェルドラの話は置いておくとして……。

Tạm gác chuyện của Verudora sang một bên...

「ギギギギギギギッ!!」

“Gigigigigigigi!!”.

と、イヴァラージェが悔しそうに暴れる。

Ivalage vùng vẫy với vẻ tức tối.

その全身には〝呪痕〟が刻まれ、そこから魔素が漏れ出ていた。

Trên khắp cơ thể hắn, những “vết nguyền” đã được khắc lên, và ma tố đang rò rỉ ra từ đó.

ギィが権能を解除しない限り、この状態が継続する。イヴァラージェが想像を絶するほど膨大な魔素(エネルギー)量を誇っているとしても、このままではいずれ力尽きるはずだ。

Chừng nào Guy chưa giải trừ quyền năng, tình trạng này sẽ tiếp diễn. Dù Ivalage có sở hữu một lượng ma tố (năng lượng) khổng lồ không tưởng, nhưng cứ thế này, sớm muộn gì hắn cũng sẽ kiệt sức.

決着の時は、もう間もなく。

Thời khắc quyết định đã đến rất gần.

誕生してから初めて感じるのであろう、猛烈な苦痛。それを体験して、イヴァラージェが暴れ狂う。

Có lẽ là lần đầu tiên cảm nhận được nỗi đau dữ dội kể từ khi được sinh ra. Trải nghiệm điều đó, Ivalage đã nổi điên.

やみくもにギィへと斬りかかり、受け流されて壁に激突した。

Hắn mù quáng lao vào chém Guy, nhưng bị gạt đi và đập vào tường.

〝天通閣〟が大きく揺れて、不壊であるはずの壁面に亀裂が生じる。

“Thiên Thông Các” rung chuyển dữ dội, và những vết nứt xuất hiện trên bức tường lẽ ra không thể phá hủy.

「ハハッ、見ろよ。オレの〝崩滅虚触獄(カタストロフィアイクリプス)〟なら、ヴェルダナーヴァが定めた法則すら打ち消せるみてーだぜ!」

“Haha, nhìn đi. Với “Băng Diệt Hư Xúc Ngục (Catastrophe Eclipse)” của ta, có vẻ như ngay cả quy luật do Verudanava đặt ra cũng có thể bị xóa bỏ!”.

と、ギィが嬉しそうに笑った。

Guy cười một cách vui vẻ.

神が定めた絶対不変の摂理──それが今、ギィの権能によって揺らいでいた。

Quy luật bất biến tuyệt đối do Thần định ra—giờ đây, nó đang bị lung lay bởi quyền năng của Guy.

それもそのはず、ギィの究極能力(アルティメットスキル)『傲慢之王(ルシファー)』は、ここにきて新たな能力を獲得し、超越進化を果たしていたのだ。

Đó cũng là điều dễ hiểu, Kĩ năng Tối thượng (Ultimate skill) “Ngạo Mạn Vương (Lucifer)” của Guy, lúc này đã nhận được một kĩ năng mới và đạt được sự tiến hóa vượt bậc.

………

...

……

...

...

その名は──究極能力(アルティメットスキル)『深淵之神(ノーデンス)』という。

Tên của nó là—Kĩ năng Tối thượng (Ultimate skill) “Thâm Uyên Thần (Noden)”.

リムルがヴェルザードに施した『能力改変(オルタレーション)』を観察したギィが、自分なりの解釈の下で自らの権能に手を加えた結果、生み出された権能である。

Đó là quyền năng được tạo ra sau khi Guy quan sát “Cải Biến Kĩ Năng (Alteration)” mà Rimuru đã thực hiện trên Veruzard, và tự mình thay đổi quyền năng của bản thân theo cách giải thích riêng.

それは、既存の権能を凌駕していた。

Nó đã vượt qua những quyền năng hiện có.

究極能力(アルティメットスキル)『深淵之神(ノーデンス)』──これに含まれる権能は『思考加速・万能感知・魔王覇気・魂(こん)暴(ぼう)喰(しょく)・虚数空間・能力創造・能力複製・能力保存・時空間支配・多次元結界』と多岐に渡り、ギィがこれまでに習得してきた全てが網羅されたものになっていた。

Kĩ năng Tối thượng (Ultimate skill) “Thâm Uyên Thần (Noden)”—quyền năng bao gồm: “Gia Tốc Tư Duy, Cảm Nhận Vạn Năng, Bá Khí Ma Vương, Cắn Nuốt Linh Hồn, Không Gian Ảo, Sáng Tạo Kĩ Năng, Nhân Bản Kĩ Năng, Bảo Tồn Kĩ năng, Chi Phối Thời Không Gian, Kết Giới Đa Thứ Nguyên”, một tập hợp đa dạng bao quát tất cả những gì Guy đã lĩnh hội được cho đến nay.

まさしく、神の領域に到達した権能なのだった。

Đúng là một quyền năng đã đạt đến cảnh giới của Thần.

………

...

……

...

...

ギィは不敵な笑みを浮かべて、イヴァラージェを睥(へい)睨(げい)した。

Guy nở một nụ cười thách thức và lườm Ivalage.

ギィ達の技をまともに喰らって、ようやく致命的なダメージを負った様子だ。逆に言えば、ここまでしなければ倒せる可能性が皆無だったのだから、とんでもない化け物なのは間違いないのだ。

Có vẻ như sau khi hứng trọn các chiêu thức của Guy và đồng đội, hắn cuối cùng cũng đã bị thương chí mạng. Ngược lại, nếu không làm đến mức này thì không có khả năng đánh bại hắn, nên chắc chắn hắn là một Quái vật khủng khiếp.

それでも、ギィは勝つ。

Dù vậy, Guy vẫn sẽ thắng.

もしも一対一での戦いだったとしても、問題なく処理出来たはずだ。ただし、時間がかかり過ぎる上に、被害が甚大になるのは避けられなかったであろう。

Ngay cả khi là một trận chiến một chọi một, anh chắc chắn cũng có thể giải quyết được. Tuy nhiên, sẽ mất quá nhiều thời gian và không thể tránh khỏi thiệt hại nặng nề.

今回は仲間の力も借りられたし、〝戦場が天通閣〟という条件の良さもあって、被害は最小限に留められた。

Lần này, nhờ có sự giúp sức của đồng đội và điều kiện thuận lợi là “chiến trường là Thiên Thông Các”, thiệt hại đã được giữ ở mức tối thiểu.

幸運だったな──と、ギィは満足していた。

Thật may mắn—Guy hài lòng.

それにしても、とギィは思考を切り替えた。

Dù vậy, Guy chuyển hướng suy nghĩ.

(やはり、この権能は凄まじいぜ……)

(Quả nhiên, quyền năng này thật khủng khiếp...).

本当に恐るべきはリムルだな、とギィは思った。

Người thực sự đáng sợ là Rimuru, Guy nghĩ.

自ら進化させた究極能力(アルティメットスキル)『深淵之神(ノーデンス)』だが、使ってみて理解した。

Dù là Kĩ năng Tối thượng (Ultimate skill) “Thâm Uyên Thần (Noden)” do chính mình tiến hóa, nhưng sau khi sử dụng, anh đã hiểu ra.

(あらゆるものを喰ってエネルギーに変える『魂暴喰』があれば、放出系の技は餌でしかねえな。その上、『瞬間移動』と剣技の組み合わせは無敵だし、防御に徹すれば怪我一つ負う気がしねえ。こりゃあもう、エネルギーの削り合いで負ける要素がねえぞ)

(Nếu có “Cắn Nuốt Linh Hồn” có thể ăn mọi thứ và biến chúng thành năng lượng, thì các chiêu thức dạng phóng xuất chỉ là mồi ngon. Hơn nữa, sự kết hợp giữa “Dịch Chuyển Tức Thời” và kiếm kĩ là bất khả chiến bại, và nếu chỉ tập trung phòng thủ thì có cảm giác sẽ không bị thương dù chỉ một chút. Thế này thì, không có yếu tố nào để thua trong một cuộc chiến bào mòn năng lượng cả).

と、ギィは自己分析していた。

Guy tự phân tích.

そして同時に思うのだ。

Và đồng thời nghĩ rằng.

リムルは本当に出鱈目だな、と。

Rimuru thật sự là một kẻ phi thường.

リムルの権能を見て、ギィは悟った。

Nhìn vào quyền năng của Rimuru, Guy đã nhận ra.

戦闘の概念が変わったのを理解したのだ。

Anh hiểu rằng khái niệm chiến đấu đã thay đổi.

魔素(エネルギー)量の大小など、もはや勝敗を左右する要素ではなくなる。相手のエネルギーを喰って自分のモノに出来る『魂暴喰』がある限り、負けはないと断言出来るのだ。

Sự chênh lệch về lượng ma tố (năng lượng) không còn là yếu tố quyết định thắng bại nữa. Chừng nào còn có “Cắn Nuốt Linh Hồn” có thể ăn năng lượng của đối thủ và biến nó thành của mình, anh có thể khẳng định rằng mình sẽ không thua.

大事なのは、相手の回復を阻害する手段だった。

Điều quan trọng là phải có phương pháp ngăn cản đối phương hồi phục.

それを持たぬ相手にならば、勝利間違いなしなのである。

Đối với một đối thủ không có phương pháp đó, chiến thắng là điều chắc chắn.

この恐るべき権能がなければ、イヴァラージェ相手にもっと苦戦していたはずだ。

Nếu không có quyền năng đáng sợ này, anh chắc chắn sẽ phải vất vả hơn nhiều khi đối đầu với Ivalage.

だが、これで終わりではない。

Nhưng, đây vẫn chưa phải là kết thúc.

苦痛に呻きながら暴れるイヴァラージェを見ながら、ギィは次なる戦いへも意識を向けるのだった。

Trong khi nhìn Ivalage rên la trong đau đớn và vùng vẫy, Guy đã hướng ý thức của mình đến trận chiến tiếp theo.

イヴァラージェは、苦悶に呻いていた。

Ivalage đang rên rỉ trong đau đớn.

それもまた、初めての経験だ。

Đó cũng là một trải nghiệm lần đầu.

苦痛。

Đau đớn.

これが、本物。

Đây mới là thật.

先程〝痛い〟と感じたのは、この苦痛と比べれば可愛いものだった。

Cảm giác “đau” lúc nãy, so với nỗi đau này, chỉ là chuyện nhỏ.

痛覚など存在しないイヴァラージェだが、不快感は存在する。

Dù Ivalage không có cảm giác đau, nhưng cảm giác khó chịu thì có.

自身から流出し続ける魔素(エネルギー)を、果てしない喪失感として認識していた。それはイヴァラージェにとって、苦痛以外の何物でもなかったのだ。

Hắn nhận thức được lượng ma tố (năng lượng) không ngừng tuôn ra từ cơ thể mình như một cảm giác mất mát vô tận. Đối với Ivalage, đó không là gì khác ngoài sự đau đớn.

それだけではない。

Không chỉ vậy.

気付けば確かにあったはずの子供達との絆が、今は感じられなかった。

Khi nhận ra, mối liên kết với những đứa con mà hắn chắc chắn đã có, giờ đây không còn cảm nhận được nữa.

死んだ?

Đã chết?

ワタシの、子供達……。

Những đứa con của ta...

どうして?

Tại sao?

怒り、恨み、憎悪する。

Tức giận, oán hận, căm ghét.

イヴァラージェは、感情というものの本質を理解していなかった。

Ivalage đã không hiểu được bản chất của những thứ gọi là cảm xúc.

しかし今、体験によってそれを学習したのだ。

Nhưng bây giờ, thông qua trải nghiệm, hắn đã học được điều đó.

数多の感情は燃料となって、イヴァラージェを満たしていった。

Vô số cảm xúc đã trở thành nhiên liệu, lấp đầy Ivalage.

破滅の竜は、まだ強くなる。

Con rồng hủy diệt, vẫn sẽ còn mạnh hơn nữa.

Chương 4: Rồng Hủy Diệt

第四章 破滅の竜

ヴェルダナーヴァが、三体の化け物を復活させて呼び寄せた。

Verudanava đã hồi sinh và triệu hồi ba con Quái vật.

いや、それは正確な表現ではない。

Không, nói thế không hoàn toàn chính xác.

ルミナスの死者蘇生(リザレクション)と違って、完全復活した訳ではなかった。一見すると生き返ったように見えるが、怪物共は意識もないまま立ち上がっているだけだったのだ。

Khác với “Tử Giả Phục Sinh (Resurrection)” của Luminous, chúng không được hồi sinh hoàn toàn. Thoạt nhìn thì có vẻ như đã sống lại, nhưng lũ quái vật chỉ đơn thuần đứng dậy mà không có ý thức.

見掛け倒しかな? と思ったが、そんな簡単な話ではないはずだ。

Trông có vẻ chỉ là đồ bỏ đi? Tôi đã nghĩ vậy, nhưng chuyện chắc chắn không đơn giản như thế.

そもそもその三体は、周辺とはいえ離れた場所で死んでいた。それを生き返らせた上に、ここまで召喚してのけたのだから、ルミナスに並ぶかそれ以上の〝神の御業〟なのだ。

Vốn dĩ, ba con quái vật đó đã chết ở những nơi xa xôi, dù vẫn trong khu vực lân cận. Việc hồi sinh chúng và triệu hồi đến tận đây chứng tỏ đây là một “Phép màu của Thần” ngang ngửa hoặc thậm chí vượt qua cả Luminous.

俺は油断なく見守る事にする。

Tôi quyết định quan sát một cách cẩn trọng.

迂闊に手出しするのは危険だと、本能が告げていた。

Bản năng mách bảo rằng hành động thiếu suy nghĩ sẽ rất nguy hiểm.

復活怪人は弱いというのが定説なのだが、元が化け物なのだから油दानは出来ない。

Dù có một định lí rằng quái nhân được hồi sinh thường yếu đi, nhưng vì bản chất của chúng là Quái vật nên không thể lơ là cảnh giác.

この戦場は『結界』に覆われているが、それは魔素を消滅させる聖浄化結界(ホーリーフィールド)だ。だからこそ〝魂〟までは復元出来なかったのかも知れないが、ルミナスには出来てヴェルダナーヴァに出来ないはずはないと、俺はそう考えていた。

Chiến trường này được bao phủ bởi “Kết Giới”, đó là “Kết Giới Thanh Lọc (Holy Field)” có khả năng tiêu diệt ma tố. Có lẽ chính vì vậy mà “linh hồn” của chúng không thể được phục hồi, nhưng tôi nghĩ không có lí do gì mà Luminous làm được còn Verudanava lại không.

そしてそれは正解だった。

Và điều đó đã đúng.

「さて、器となる肉体はこれでいいかな。三体だけとなると、さてさて。誰が一番、ボクの為に働いてくれるだろうか?」

"Nào, những cơ thể làm vật chứa thế này là được rồi nhỉ. Chỉ có ba thể, vậy thì... ai sẽ là kẻ phục vụ ta tốt nhất đây?"

ヴェルダナーヴァはそう言いながら、腕を前に突き出した。

Verudanava vừa nói vừa đưa tay ra phía trước.

その掌から青白い光球が三つ召喚されて、ふわりと吸い込まれるようにして各々の肉体へと宿っていく。

Ba quả cầu ánh sáng màu xanh nhạt được triệu hồi từ lòng bàn tay ngài, rồi nhẹ nhàng bay vào và trú ngụ bên trong từng cơ thể.

《時空間への干渉を確認しました。それぞれ異なる場所から、強烈な意思を秘めた〝魂〟を召喚したのだと思われます》

“Đã xác nhận sự can thiệp vào thời không. Có vẻ như ngài đã triệu hồi những “linh hồn” mang ý chí mạnh mẽ từ những nơi khác nhau”.

ああ、なるほど。

À, ra là vậy.

何者かの〝魂〟を呼び出して、用意しておいた肉体を与えた訳だ。

Ngài đã triệu hồi “linh hồn” của ai đó và ban cho chúng những cơ thể đã được chuẩn bị sẵn.

凄いエネルギー量だし、相当な強者だったに違いない。

Lượng năng lượng thật kinh khủng, chắc chắn đó là những kẻ cực kì mạnh.

そんなヤツ等が化け物の肉体に宿ったのだから、一筋縄ではいかなそうだ。

Những kẻ như vậy lại trú ngụ trong cơ thể của Quái vật, xem ra không dễ đối phó rồi.

「怨恨召喚はね、この世に恨みを持つ者達を呼び寄せるんだ。ルドラを慕う英雄達が死者となっても『英魂道導(ハシャノヨルベ)』に従うように、情報生命体(デジタルネイチャー)として記憶も再現させて生き返らせたのさ。まあ、こっちのは本物だけどね」

"Triệu hồi Oán Hận, nó gọi đến những kẻ mang lòng hận thù với thế gian này. Giống như những anh hùng ngưỡng mộ Rudra dù đã chết vẫn tuân theo “Dẫn Lối Anh Hồn (Hasha No Yorube)”, ta đã hồi sinh chúng bằng cách tái tạo cả kí ức dưới dạng Thể sống thông tin (Digital nature). Mà, mấy kẻ này là hàng thật đấy".

と、ヴェルダナーヴァが淡々と告げた。

Verudanava bình thản nói.

背筋が凍るかと思うほど、恐ろしい発言だ。

Một lời nói đáng sợ đến mức khiến tôi lạnh sống lưng.

マサユキが呼び出した英雄達は、仮初の肉体に宿った〝過去の記憶の再現体〟だったはず。本物同然ではあるが、本物ではない──〝死せる英雄(エインヘリヤル)〟だった。

Những anh hùng mà Masayuki triệu hồi chỉ là “bản tái tạo kí ức quá khứ” trú ngụ trong những cơ thể tạm thời. Dù giống hệt bản thật, nhưng họ không phải là thật... họ là “Anh hùng tử vong (Einherjar)”.

ところがヴェルダナーヴァは、その人物が完全に死んだ時点の直前時空間から、消滅寸前の〝魂〟を呼び寄せたっぽいのだ。

Thế nhưng, có vẻ như Verudanava đã triệu hồi những “linh hồn” sắp tan biến từ ngay thời điểm không gian ngay trước khi những người đó hoàn toàn chết đi.

過去、未来、現在、どの時点であろうがお構いなし。

Bất kể là quá khứ, tương lai hay hiện tại.

言ってみれば、反則技である。

Nói cách khác, đó là một chiêu gian lận.

そんな真似が可能なら、死者という概念すら存在しないはず。

Nếu có thể làm được như vậy, thì khái niệm về người chết lẽ ra đã không tồn tại.

それこそ、不幸が起きる前に──

Đúng vậy, trước cả khi bất hạnh xảy ra...

「そんな万能の権能があるんなら、死んだ奥さんを生き返らせたら良かったんじゃないのか?」

"Nếu có quyền năng vạn năng như vậy, sao ngài không hồi sinh vợ mình đi?"

俺はそう突っ込んだ。

Tôi đã hỏi thẳng như vậy.

死者を蘇生するのは禁忌とか、そういう意見もあるだろう。

Chắc hẳn sẽ có ý kiến cho rằng hồi sinh người chết là điều cấm kị.

しかし、俺はそう思わない。

Nhưng tôi không nghĩ vậy.

天寿を全うしたのならともかく、志半ばで息絶えたのなら、どうしても諦められないと思ってしまうからだ。

Nếu đã sống trọn vẹn tuổi trời thì không nói, nhưng nếu chết đi khi còn dang dở hoài bão, tôi nghĩ rằng mình sẽ không thể nào từ bỏ được.

生き返らせる手段があるのなら、迷う事なく飛びつくだろう。

Nếu có cách để hồi sinh, tôi sẽ không ngần ngại mà nắm lấy nó.

実際、シオン達の時はそうした。

Thực tế, tôi đã làm vậy với Shion và những người khác.

その結果、今があるのだ。

Và kết quả là có được ngày hôm nay.

とは言え、死者を冒涜するのは間違っている。

Tuy nhiên, xúc phạm người chết là sai trái.

本人が満足して生を終えたのなら、その意志は尊重すべきであった。

Nếu bản thân họ đã mãn nguyện kết thúc cuộc đời, thì ý chí đó nên được tôn trọng.

他人の生死まで支配したいとは思わないし、してはならないとも思っている。

Tôi không muốn và cũng nghĩ rằng không nên chi phối cả sinh tử của người khác.

まあ、普通は死んだ人の意見を聞けないのだから、考えても意味のない話ではあるのだけど……。

Mà, thường thì không thể nghe được ý kiến của người đã chết, nên có nghĩ cũng vô ích...

けれど、愛する者が死んだから世界を滅ぼすとか、そんな考えに至るくらいなら、禁忌だろうがなんだろうが、気にせずに死者蘇生を試すべきだと思うんだよ。

Nhưng, nếu đã đến mức nghĩ đến việc hủy diệt thế giới chỉ vì người mình yêu đã chết, thì dù là cấm kị hay gì đi nữa, tôi nghĩ nên thử hồi sinh người chết mà không cần bận tâm.

それなのに、どうして……?

Vậy mà, tại sao...?

「頷いてくれなかったんだ」

"Cô ấy đã không gật đầu".

「えっと?」

"Ể?"

「拒否された訳じゃない。探したけれど、見つけられなかったんだよ」

"Không phải là bị từ chối. Ta đã tìm kiếm, nhưng không thể tìm thấy".

あ、そういう……。

A, ra là vậy...

《……》

“...”

既に転生しちゃってた、とか?

Có khi nào cô ấy đã chuyển sinh rồi không?

普通なら〝魂〟が拡散するまで時間がかかるものだけど、死んだ直後に転生するケースだってあるからね。

Thường thì phải mất một thời gian “linh hồn” mới phân tán, nhưng cũng có trường hợp chuyển sinh ngay sau khi chết.

俺なんて、まだ生きてるのに〝世界の言葉〟が聴こえてたもんな。

Ngay cả tôi, khi còn sống cũng đã nghe thấy “Lời Thế Giới” rồi mà.

まあ、そういう事もあるって話だ。

Thì, chuyện đó cũng có thể xảy ra.

だからと言って、諦めて、とは言い難いんだけど……。

Dù vậy, cũng khó mà nói là hãy từ bỏ...

「それじゃあ、その、ルシアさんだっけ? ルシアさんもこの世界に生まれ変わっている可能性だってあるんだし、短絡的に全てを滅亡させるというのは、ちょっとどうかと思うよ?」

"Vậy thì, người đó, là Lucia-san đúng không? Lucia-san cũng có khả năng đã tái sinh trên thế giới này, nên việc vội vàng hủy diệt tất cả thì tôi nghĩ có hơi..."

俺はそう説得してみた。

Tôi đã thử thuyết phục như vậy.

ヴェルダナーヴァの怒りや恨み、絶望、そうした気持ちも理解出来るので、願わくば思い留まって欲しいのだ。

Tôi có thể hiểu được sự tức giận, hận thù, và tuyệt vọng của Verudanava, nên tôi mong ngài sẽ nghĩ lại.

既に説得どうこういう次元の話じゃない気もするが、出来れば戦いたくないというのが本音なのである。

Dù tôi cảm thấy đây không còn là chuyện có thể giải quyết bằng lời nói nữa, nhưng lòng thật của tôi là không muốn phải chiến đấu.

しかし、俺の希望は打ち砕かれた。

Thế nhưng, hi vọng của tôi đã bị dập tắt.

「もう決めたんだ。ボクの娘、ミリムがいるし、ルシアの代わりにイヴァラージェだっている。今直ぐの復活は無理だけど、世界を全て滅ぼしてからゆっくりと〝情報子〟を回収して読み解けば、イヴァラージェが完全なルシアとなる日が来るはずさ」

"Ta đã quyết định rồi. Ta có con gái của ta, Millim, và thay cho Lucia, ta có Ivalage. Hồi sinh ngay bây giờ là không thể, nhưng sau khi hủy diệt toàn bộ thế giới, từ từ thu thập và giải mã các “hạt thông tin”, chắc chắn sẽ có ngày Ivalage trở thành Lucia hoàn chỉnh".

ああ、ダメだ。

A, không được rồi.

気が遠くなるような手段だが、不可能ではなさそうだった。

Dù là một phương pháp tốn thời gian đến mức chóng mặt, nhưng có vẻ không phải là không thể.

神であるヴェルダナーヴァなら、いずれは達成しそうだと思ってしまったのである。

Tôi đã nghĩ rằng nếu là Thần Verudanava, thì một ngày nào đó ngài sẽ đạt được điều đó.

こうなると、説得は難しい。

Đến nước này thì khó mà thuyết phục được.

俺自身、上手く納得させられるような言葉が思い浮かばなかった。

Bản thân tôi cũng không nghĩ ra được lời nào có thể khiến ngài ấy hài lòng.

ルシアさんはそんな事を望んでいない──という、ありきたりな説得方法もあるだろうけど……それって、『他人に彼女の気持ちがわかるのか?』と返されると、途端に言葉に詰まってしまう。

Chắc cũng có cách thuyết phục thông thường như "Lucia-san không hề mong muốn điều đó"... nhưng nếu bị vặn lại rằng "Người ngoài làm sao hiểu được cảm xúc của cô ấy?", thì tôi sẽ ngay lập tức cứng họng.

実際のところ、会った事もない人だからね。

Thực tế thì tôi cũng chưa từng gặp cô ấy.

理想論だけじゃあ、この世の中渡っていけないのだ。

Chỉ bằng lí tưởng suông thì không thể sống sót trên đời này được.

《倒すしかないですね!》

“Phải đánh bại ngài ấy thôi!”

おいおい?

Này này?

簡単に言ってくれますけど……。

Nói thì dễ lắm nhưng...

《主様(マスター)ならば容易(たやす)い事です!》

“Đối với Chủ nhân (Master) thì đây là việc dễ dàng thôi!”

どうしたものか、シエルさんが好戦的になっている。

Không hiểu sao Ciel-san lại hiếu chiến thế nhỉ.

いやまあ、それが手っ取り早くて確実な解決手段なのはわかる。

À thì, tôi hiểu đó là cách giải quyết nhanh chóng và chắc chắn nhất.

可能かどうかを無視すれば、だけど。

Nhưng đó là nếu bỏ qua việc có khả thi hay không.

《絶対に大丈夫です》

“Chắc chắn không sao đâu ạ”.

相変わらず、凄い自信だ。

Vẫn tự tin như mọi khi nhỉ.

というか、どうしてそこまでやる気なんだ?

Mà sao cô lại hăng hái đến vậy?

《止めてあげるのも優しさ、というものでしょう》

“Ngăn ngài ấy lại cũng là một loại dịu dàng mà, phải không ạ?”

なるほど……。

Ra là vậy...

確かに、ミリムの暴走も止めた。

Đúng là mình cũng đã ngăn chặn sự bạo loạn của Millim.

ミリムが後で悲しまないように、誰一人として犠牲者を出したくなかったし。

Mình không muốn có bất kì ai phải hi sinh để Millim sau này không phải đau buồn.

そうだな。

Đúng vậy.

ヴェルダナーヴァも同じなのかも知れないな。

Verudanava có lẽ cũng vậy.

俺は面識がないけど、ヴェルダナーヴァと縁のある者達は多い。そうした者達が敵に回ったら面倒だ──と思っていたけど、そうではなかったのだ。

Dù tôi không quen biết, nhưng có rất nhiều người có mối liên hệ với Verudanava. Tôi đã từng nghĩ rằng nếu họ trở thành kẻ thù thì sẽ rất phiền phức... nhưng không phải vậy.

誰も悲しまないようにするには、ここでヴェルダナーヴァを倒して冷静にさせるのが一番なのである。

Để không ai phải đau buồn, cách tốt nhất là đánh bại Verudanava ngay tại đây và khiến ngài ấy bình tĩnh lại.

今のヴェルダナーヴァは、悲しみのあまり暴走しているようなものだ。

Verudanava hiện tại giống như đang bạo loạn vì quá đau buồn.

正気ではない可能性まである。

Thậm chí có khả năng ngài ấy đã không còn tỉnh táo.

何故ならば、三体の化け物に宿らせて生き返らせた者共は、俺が知る限り最悪の部類に位置する奴等だったからだ。

Bởi vì những kẻ mà ngài cho nhập vào ba con Quái vật và hồi sinh, theo những gì tôi biết, đều là những tên tồi tệ nhất.

《魔導大帝ジャヒル、〝三(さん)妖(よう)帥(すい)〟コルヌ、そして最後が、時空の果てに跳ばしたはずのヴェガですね》

“Ma Đạo Đại Đế Jahil, “Tam Yêu Soái” Cornu, và cuối cùng là Vega, kẻ đáng lẽ đã bị thổi bay đến tận cùng thời không”.

うむ、濃すぎる面子だった。

Ừm, toàn những gương mặt cộm cán.

ジャヒルは、カガリさん達を不幸にした張本人であり、大本を辿ればギィを召喚した、この世で並ぶ者なき愚者だという話だ。

Jahil là kẻ đã gây ra bất hạnh cho Kagali và những người khác, và nếu truy ngược lại, hắn chính là kẻ đã triệu hồi Guy, một tên ngốc không ai sánh bằng trên thế giới này.

凄まじい力を秘めているという話だったが、ユウキに倒されたばかりだったはず。

Nghe nói hắn ẩn chứa một sức mạnh khủng khiếp, nhưng đáng lẽ hắn vừa mới bị Yuki đánh bại mà.

もう生き返るとか、悪運の強さも相当だね。

Lại sống lại được, vận may của hắn cũng ghê thật.

コルヌってのは、報告によるとヴェルグリンドが消し炭にしたはずだった。

Còn Cornu, theo báo cáo thì đáng lẽ đã bị Verugrynd thiêu thành tro.

詳しくは知らないが、侵略種族(アグレッサー)の名に恥じぬ活躍っぷりで、数多(あまた)の異次元世界を滅ぼして支配下に置いていたのだと聞く。

Tôi không biết chi tiết, nhưng nghe nói hắn đã có những hành động xứng đáng với danh hiệu Chủng tộc xâm lược (Aggressor), hủy diệt và thống trị vô số thế giới dị次元.

これについては実感がないのだが、面倒そうなヤツなのは間違いなさそうだ。

Tôi không có cảm giác thực tế về chuyện này, nhưng chắc chắn hắn là một kẻ phiền phức.

面倒と言えば、ヴェガだ。

Nói đến phiền phức thì phải kể đến Vega.

マジでしつこい。

Dai như đỉa.

《チッ。確実に葬っておくべきでした》

“Chậc. Đáng lẽ nên chôn cất hắn cho chắc chắn”.

シエルさんが不機嫌そうだが、そう言えば『時空の果てに跳ばした』とか言っていたね。一体、何の話をしているんだ?

Ciel-san có vẻ không vui, mà nói mới nhớ cô có nói là “thổi bay đến tận cùng thời không” nhỉ. Rốt cuộc là đang nói chuyện gì vậy?

もしかして、こっちに戻って来た時に事故った相手って……。

Chẳng lẽ đối tượng gặp tai nạn khi quay trở lại đây là...

《些事なので、気にするほどの事はありません》

“Chuyện nhỏ thôi, không đáng để bận tâm đâu ạ”.

そうなの?

Vậy à?

それならいいけどさ。

Thế thì tốt.

まあ、ヴェガの事はいいや。

Thôi, chuyện của Vega cứ để đó.

それよりも問題なのは、ヴェルダナーヴァがジャヒルまで生き返らせた事だ。

Vấn đề lớn hơn là Verudanava đã hồi sinh cả Jahil.

コルヌは元々部下だった訳だし、生き返らせたのも不思議ではない。しかしジャヒルは、ミリム相手にかなり非道な真似を行っていた。

Cornu vốn là thuộc hạ của ngài, nên việc hồi sinh hắn cũng không có gì lạ. Nhưng Jahil đã làm những việc vô cùng tàn nhẫn với Millim.

ミリムが魔王になった原因は、ジャヒルの欲望に巻き込まれたからなのだ。

Nguyên nhân Millim trở thành Ma vương là vì bị cuốn vào lòng tham của Jahil.

そんな悪党まで生き返らせて利用するとか、正気を失っているとしか思えないのである。

Hồi sinh và lợi dụng cả một tên ác nhân như vậy, chỉ có thể nghĩ rằng ngài đã mất trí.

ヴェルダナーヴァが暴走しているという、何よりの証拠だった。

Đó là bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy Verudanava đang bạo loạn.

「ベニマルは、このまま全体指揮を継続してくれ。ただし、いざとなったら自分自身の戦闘行為を許可する」

"Benimaru, cứ tiếp tục chỉ huy toàn quân. Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp, ta cho phép ngươi tự mình tham chiến".

「了解です! そろそろ気力も回復してますし、俺だって戦えますからね」

"Đã rõ! Khí lực của tôi cũng đã hồi phục rồi, tôi cũng có thể chiến đấu được".

Trong tình cảnh này mà Benimaru vẫn cười một cách ngạo nghễ.

相変わらず、頼もしい限りであった。

Vẫn đáng tin cậy như mọi khi.

と言っても、ベニマルには指揮があるので、実働を任せるのは他の者になる。この場で控えつつ、何かあった時には手助けしてもらう事にする。

Nói vậy chứ, Benimaru còn phải chỉ huy, nên việc thực chiến sẽ giao cho người khác. Cậu ta sẽ ở lại đây, và khi có chuyện gì xảy ra thì sẽ hỗ trợ.

「ディアブロ、アイツらを止められるか?」

"Diablo, ngươi có thể ngăn chặn bọn chúng không?"

「御命令とあらば、喜んで!」

"Nếu đó là mệnh lệnh của ngài, thần vô cùng vui lòng!"

Dù là một yêu cầu khá vô lí, nhưng Diablo lại vui vẻ nhận lời.

もう身体はボロボロだろうに、少し申し訳ない。けれどここで頑張らねば、世界が終わってしまうのだ。

Cơ thể chắc đã rệu rã lắm rồi, tôi thấy hơi có lỗi. Nhưng nếu không cố gắng ở đây, thế giới sẽ kết thúc.

「頼んだ」

"Trông cậy vào ngươi".

俺はそう言って、ディアブロに大役を任せる事にした。

Tôi nói vậy và giao trọng trách cho Diablo.

するとディアブロは、疲(ひ)労(ろう)困(こん)憊(ぱい)といった様子のフェルドウェイを睥(へい)睨(げい)したのだ。

Ngay sau đó, Diablo liếc nhìn Feldway đang trong bộ dạng kiệt sức.

「自分が仕出かした事の後始末くらい、自分の手で行うがいい」

"Ít nhất thì cũng nên tự tay dọn dẹp mớ hỗn độn do mình gây ra chứ".

そんな言葉を投げかけ、ディアブロがフェルドウェイを連れて行こうとする。

Ném ra những lời đó, Diablo định lôi Feldway đi.

どう見ても、まだまだ扱き使う気満々だった。

Rõ ràng là hắn vẫn còn định bóc lột sức lao động của Feldway.

その人、死にかけているっぽいですよ──とは思ったが、口にはしなかった。

Người đó trông như sắp chết đến nơi rồi đấy... tôi đã nghĩ vậy nhưng không nói ra.

俺は『頑張ってくれ』と心の中だけで応援して、後はディアブロに任せる事にしたのだった。

Tôi chỉ âm thầm cổ vũ “Cố lên nhé” trong lòng và giao phần còn lại cho Diablo.

ザラリオは連れられて行くフェルドウェイを、複雑そうに見送っていた。自分がどう動くのが最善なのか、悩んでいる様子だった。

Zalario nhìn Feldway bị lôi đi với vẻ mặt phức tạp. Có vẻ anh ta đang phân vân không biết mình nên làm gì là tốt nhất.

それでも結論としては、この場に留まっている。俺とヴェルダナーヴァの戦いを、その目で見届けるつもりかもな。

Dù vậy, kết luận là anh ta vẫn ở lại đây. Có lẽ anh ta định chứng kiến trận chiến giữa tôi và Verudanava.

ディーノ、ピコ、ガラシャも、ザラリオに並んで見(けん)に徹する様子。ディーノの場合、単にサボッている可能性もあるが、それは言わぬが花であろう。

Dino, Pico và Garasha cũng đứng cạnh Zalario, tỏ vẻ sẽ chỉ quan sát. Trường hợp của Dino, cũng có khả năng cậu ta chỉ đơn giản là đang lười biếng, nhưng không nói ra thì tốt hơn.

少なくとも、ヴェルダナーヴァから受けた傷も完全には癒えていないので、今回は見逃す事にした。

Ít nhất, vết thương do Verudanava gây ra vẫn chưa hoàn toàn lành lại, nên lần này tôi quyết định bỏ qua.

そんなディーノ達に比べて、ウチの悪魔三人娘は戦意に満ちている。

So với nhóm của Dino, ba cô con gái ác ma của tôi lại tràn đầy chiến ý.

「勿論、わたくし達も参戦しますわね」

"Dĩ nhiên, chúng thần cũng sẽ tham chiến ạ".

「当然だよね!」

"Đương nhiên rồi!"

「我が君、次は復活出来ないように、ヤツ等の〝魂〟を完膚なきまでに砕いてみせるとも!!」

"Thưa chủ nhân, lần tới thần sẽ nghiền nát “linh hồn” của bọn chúng thành từng mảnh để chúng không thể hồi sinh được nữa!!"

テスタロッサを筆頭に、退く気はない様子。どう見ても疲弊しているのだが、俺の特製回復薬を飲んだからか、気合十分といった感じである。

Dẫn đầu là Testarossa, cả ba đều không có ý định lùi bước. Dù trông có vẻ mệt mỏi, nhưng có lẽ do đã uống thuốc hồi phục đặc chế của tôi, nên họ đang rất hăng hái.

止めるのも野暮なので、任せる事にした。

Ngăn cản lúc này cũng thật vô duyên, nên tôi quyết định giao cho họ.

「無茶しないようにな」

"Đừng làm gì quá sức nhé".

「承知ですわ」

"Thần đã rõ ạ".

「任せて!」

"Cứ giao cho em!"

「無茶という言葉なんて、私の辞書には存在しないからね。安心して任せて欲しい」

"Từ "quá sức" không tồn tại trong từ điển của tôi đâu. Cứ yên tâm giao cho tôi".

テスタロッサは優雅に、ウルティマは元気良く、カレラはちょっと危険な感じに頷いてくれた。

Testarossa gật đầu một cách tao nhã, Ultima thì đầy năng lượng, còn Carrera thì có chút nguy hiểm.

ちなみに、カレラの持つ辞書は欠陥品だと思うので、後でちゃんと改訂版をプレゼントしようと思ったのだった。

Nhân tiện, tôi nghĩ cuốn từ điển của Carrera bị lỗi rồi, sau này tôi sẽ tặng cô ấy một bản sửa đổi cho đàng hoàng.

悪魔三人娘が跪(ひざまず)く横に、マサユキが立った。

Bên cạnh ba cô con gái ác ma đang quỳ, Masayuki đứng đó.

「魔王リムルよ、俺様も協力してやるぜ。あのジャヒルって野郎は、どうもきな臭いニオイがしやがる。俺の妹を奪ったテロ行為も、ヤツが絡んでるんじゃねーかと思えるんだ」

"Ma vương Rimuru, ta cũng sẽ hợp tác. Tên Jahil đó có mùi gì đó rất đáng ngờ. Ta nghĩ hành động khủng bố cướp đi em gái ta cũng có liên quan đến hắn".

マサユキじゃなかった。

Không phải Masayuki.

このイケイケの性格は、ルドラだ。

Tính cách hăng hái này là của Rudra.

そのルドラが、不穏な事を言っていた。

Rudra đó đang nói những điều đáng lo ngại.

「それだとさ、奥さんと自分を殺した相手を生き返らせた、って事になるんだけど?」

"Nếu vậy, có nghĩa là ngài đã hồi sinh kẻ đã giết vợ và cả chính mình, đúng không?"

「憶測に過ぎないが、欲望のニオイが似てるんだよな。昔、俺様に謁見した小国の王様が、ヤツとそっくりな野望に満ちた目をしていやがったんだよ」

"Chỉ là phỏng đoán thôi, nhưng mùi tham vọng của hắn rất giống. Ngày xưa, một vị vua của một tiểu quốc đến yết kiến ta cũng có đôi mắt đầy tham vọng y hệt hắn".

「その王様が、テロ行為を起こした犯人だったのかな?」

"Vị vua đó có phải là kẻ đã gây ra hành động khủng bố không?"

「ああ。その通りだ」

"Ừ. Đúng vậy".

……。

...

ほぼ確定、って感じだな。

Gần như chắc chắn rồi.

ギィ達に殺されて転生して、ルシアとヴェルダナーヴァを殺害。それを知ったディーノに討伐される。

Bị Guy và những người khác giết chết rồi chuyển sinh, sau đó sát hại Lucia và Verudanava. Bị Dino biết chuyện và tiêu diệt.

その後、またも転生して魔導大帝ジャヒルに生まれ変わる。それから暴虐の限りを尽くした上に、孤児となったミリムを利用しようとして、大災害を巻き起こしたと。

Sau đó, lại chuyển sinh và trở thành Ma Đạo Đại Đế Jahil. Rồi hắn đã làm đủ mọi chuyện tàn bạo, lợi dụng Millim mồ côi và gây ra một thảm họa lớn.

どうしてそんな悪党が生まれてしまうのか、永遠の謎だった。

Tại sao lại có thể sinh ra một tên ác nhân như vậy, đó là một bí ẩn vĩnh cửu.

そんなジャヒルが相手なら、情状酌量の余地などないのだ。

Nếu đối thủ là Jahil thì không có chỗ cho sự khoan hồng.

迷わず本気を出せるのに──と、俺は思った。

Có thể không ngần ngại mà dốc toàn lực... tôi đã nghĩ vậy.

「想像を絶するほどのクズだな」

"Đúng là một tên cặn bã không thể tưởng tượng nổi".

「間違いない。今回は俺様が、キッチリと落とし前をつけてやるさ」

"Chắc chắn rồi. Lần này, chính ta sẽ giải quyết hắn một cách triệt để".

「それじゃあ、僕は応援でもしていようかな」

"Vậy thì, có lẽ tôi sẽ đứng cổ vũ vậy".

俺とルドラの会話にしれっと参加したのは、いつの間にか『瞬間移動』でやって来ていたユウキだった。

Người tham gia một cách tỉnh bơ vào cuộc trò chuyện của tôi và Rudra là Yuki, cậu ta đã đến đây bằng “Dịch Chuyển Tức Thời” từ lúc nào không hay.

ユウキもジャヒルが復活した気配を察してやって来たようだが、いきなり攻撃を仕掛けるような性格ではない。きっちりと俺達の会話を聞いた上で、自分の立ち位置を決定したようだった。

Yuki cũng có vẻ đã cảm nhận được sự hồi sinh của Jahil và đến đây, nhưng cậu ta không phải là kiểu người sẽ tấn công bất ngờ. Có vẻ như cậu ta đã lắng nghe kĩ cuộc trò chuyện của chúng tôi rồi mới quyết định vị trí của mình.

「お前の権能でヤツの能力(スキル)を無効化出来るようなら、サポート役を頑張ってくれよ?」

"Nếu quyền năng của cậu có thể vô hiệu hóa kĩ năng của hắn, thì hãy cố gắng hỗ trợ nhé?"

「勿論だよ、リムルさん」

"Dĩ nhiên rồi, Rimuru-san".

ここでウインクしてくるあたり、ユウキの図太さも大したものだ。余裕があると言えば聞こえはいいが、無神経と紙一重であった。

Việc cậu ta nháy mắt ở đây cho thấy sự gan dạ của Yuki cũng không phải dạng vừa. Nói là có thừa tự tin thì nghe cũng hay, nhưng nó chỉ cách sự vô duyên một đường tơ kẽ tóc.

何にしろ、ここでルドラという頼もしい助っ人が登場した。

Dù sao đi nữa, một đồng minh đáng tin cậy là Rudra đã xuất hiện.

ところで、マサユキ本人はどうなったのだろうか?

Nhân tiện, bản thân Masayuki thì sao rồi?

たまに死んだような目で俺に助けを求めている時があるような気がするが、それはきっと気のせいだ。

Thỉnh thoảng tôi có cảm giác cậu ta đang nhìn tôi với ánh mắt như người chết để cầu cứu, nhưng chắc đó chỉ là ảo giác thôi.

ヴェルグリンドも協力してくれるみたいだし、ヴェルダナーヴァが生き返らせた奴等の相手は、一旦意識から切り離す事にしたのだった。

Verugrynd cũng có vẻ sẽ hợp tác, nên tôi quyết định tạm thời gạt chuyện đối phó với những kẻ mà Verudanava đã hồi sinh ra khỏi đầu.

俺はヴェルダナーヴァと向き合った。

Tôi đối mặt với Verudanava.

一対一の状況だ。

Tình thế một chọi một.

気乗りはしないが、ここが頑張りどころである。

Dù không muốn, nhưng đây là lúc phải cố gắng.

「さてさて、どうしても世界を滅ぼすっていうのなら、俺が全力で止めさせてもらうから」

"Nào, nếu ngài vẫn nhất quyết muốn hủy diệt thế giới, thì tôi sẽ dùng toàn lực để ngăn cản ngài".

俺がそう宣言すると、ヴェルダナーヴァが薄く笑った。

Khi tôi tuyên bố như vậy, Verudanava mỉm cười nhẹ.

「ボクが生み出した生命体が、こうもハッキリと創造主の意思に逆らうようになったんだね。感無量だよ。君ならもしかすると、〝神殺し〟を達成出来るかも知れないね」

"Sinh vật do ta tạo ra lại có thể chống đối ý chí của Đấng Sáng Tạo một cách rõ ràng như vậy. Ta thật sự cảm động. Có lẽ ngươi sẽ có thể đạt được danh hiệu “Sát thần” cũng nên".

「別に、殺すつもりなんてないけどな。お前はミリムの父親だし、いまだに慕っている者達もいる。正気に戻るまでぶん殴って、目を覚ましてやるよ」

"Tôi không có ý định giết ngài. Ngài là cha của Millim, và vẫn còn những người ngưỡng mộ ngài. Tôi sẽ đánh cho ngài tỉnh táo lại".

「ははは、面白い。出来なければ世界が滅ぶだけだし、気負わず試してみるがいい」

"Hahaha, thú vị đấy. Nếu không làm được thì thế giới cũng chỉ bị hủy diệt thôi, cứ thử đi, không cần phải căng thẳng".

「それじゃあ、お言葉に甘えて──」

"Vậy thì, tôi xin mạn phép..."

俺は剣を抜き、ヴェルダナーヴァへと斬りかかった。

Tôi rút kiếm và lao vào tấn công Verudanava.

クロベエが鍛えてくれた〝竜(りゅう)魔(ま)刀(とう)〟は、黒い刀身が特徴の直刀だ──ったと記憶していたのだが、様変わりしていた。黒い刀身には、特に魔力を流さなくても虹色の刃文が美しく輝いていたのである。

Thanh “Long Ma Đao” mà Kurobe đã rèn cho tôi, tôi nhớ nó là một thanh trực đao có lưỡi kiếm màu đen... nhưng nó đã thay đổi hoàn toàn. Lưỡi kiếm màu đen giờ đây tỏa sáng lấp lánh với những đường vân cầu vồng tuyệt đẹp mà không cần truyền ma lực vào.

居合い抜きのような形で斬りかかったから、俺も今目にして気付いた。

Vì tôi tấn công theo kiểu Iaido nên bây giờ mới để ý thấy.

ビックリしたけど、驚くべきはここからだった。

Tôi đã rất ngạc nhiên, nhưng điều đáng kinh ngạc hơn còn ở phía sau.

ヴェルダナーヴァが余裕を見せながら、自身の闘気で具現化した剣で受け止めた──と思った直後、その剣がバターのように簡単に切断されたのだ。

Verudanava tỏ ra ung dung, dùng thanh kiếm hiện thực hóa từ đấu khí của mình để đỡ đòn... ngay sau khi tôi nghĩ vậy, thanh kiếm đó đã bị cắt đứt dễ dàng như bơ.

俺の〝竜(りゅう)魔(ま)刀(とう)〟が、とんでもない切れ味を披露した瞬間だった。

Đó là khoảnh khắc thanh “Long Ma Đao” của tôi thể hiện độ sắc bén đáng kinh ngạc.

残念ながら、ヴェルダナーヴァは瞬時に対応して、剣で斬られるより早く『瞬間移動』で回避していた。

Thật không may, Verudanava đã phản ứng ngay lập tức và né tránh bằng “Dịch Chuyển Tức Thời” trước khi bị kiếm chém trúng.

これで終わるとは思っていなかったので、まあそうだよね、という感じである。

Tôi không nghĩ mọi chuyện sẽ kết thúc ở đây, nên cũng thấy bình thường thôi.

だが、俺の剣の威力が素晴らしいのは朗報だった。

Nhưng sức mạnh của thanh kiếm của tôi thật tuyệt vời, đó là một tin tốt.

「……久しぶりに、本気で驚いたよ。その剣、ボクが創ったものじゃないのに、創世級(ジェネシス)に相当する威力を秘めているんだね」

"...Lâu lắm rồi ta mới thực sự ngạc nhiên đến vậy. Thanh kiếm đó, không phải do ta tạo ra mà lại ẩn chứa sức mạnh tương đương Cấp Sáng Thế (Genesis) nhỉ".

「創世級(ジェネシス)? まあ、よく知らないけど、凄い剣なのは間違いないね。俺の自慢の仲間が鍛え上げてくれた、俺の分身みたいな剣だからな!」

"Cấp Sáng Thế (Genesis)? À, tôi không biết rõ lắm, nhưng chắc chắn đây là một thanh kiếm tuyệt vời. Nó là thanh kiếm do người bạn đồng hành đáng tự hào của tôi rèn nên, giống như một phân thân của tôi vậy!"

褒められて悪い気はしないので、俺は素直にそう答えた。

Được khen thì cũng không tệ, nên tôi đã thành thật trả lời.

クロベエも、ヴェルダナーヴァから褒められたと聞けば喜ぶだろう。

Kurobe chắc cũng sẽ vui khi biết mình được Verudanava khen ngợi.

「創世級(ジェネシス)は、人の手で生み出せるものではないのだけど、それを言っても詮なき事か。現に、君が手にしているのは本物だしね」

"Cấp Sáng Thế (Genesis) không phải là thứ có thể tạo ra bằng tay người, nhưng nói vậy cũng vô ích. Thực tế, thứ ngươi đang cầm trên tay là hàng thật mà".

ヴェルダナーヴァは、自嘲するようにそう言った。

Verudanava nói với vẻ tự giễu.

ルシアに関する事柄以外では、意外と頑固じゃないらしい。

Ngoài những vấn đề liên quan đến Lucia, có vẻ ngài không cố chấp lắm.

ヴェルダナーヴァは、静かに両手を合わせた。

Verudanava lặng lẽ chắp hai tay lại.

「君の剣に対抗する為、ボクも自前の剣を使わせてもらうよ」

"Để đối phó với thanh kiếm của ngươi, ta cũng sẽ sử dụng thanh kiếm của riêng mình".

闘気を具現化させたものではなく、本物の愛刀を──という事らしい。

Có vẻ như không phải là thanh kiếm hiện thực hóa từ đấu khí, mà là thanh kiếm yêu thích thật sự của ngài.

待ってやる義理はないのだが、ヴェルダナーヴァを正気に戻すのが最善なので、ここは大人しく見守る事にした。

Tôi không có nghĩa vụ phải chờ, nhưng vì việc khiến Verudanava tỉnh táo lại là tốt nhất, nên tôi quyết định im lặng quan sát.

正々堂々なんてガラじゃないし、勝つ為には悪手だとも思うが……ギィ達が援護に来てくれるのを待ちたい、という本音もある。総合的に判断して、武器を手にする時間くらい待ってあげてもいいだろうさ。

Tôi không phải kiểu người quang minh chính đại, và tôi cũng nghĩ đây là một nước đi tồi để giành chiến thắng... nhưng thực lòng tôi cũng muốn chờ Guy và những người khác đến hỗ trợ. Xét tổng thể, chờ đợi một chút thời gian để ngài ấy lấy vũ khí cũng không sao.

そんなふうに思いながら様子を窺っていると、ヴェルダナーヴァの両手の間に煌きが生じた。

Vừa nghĩ vậy vừa quan sát, một ánh sáng lấp lánh xuất hiện giữa hai bàn tay của Verudanava.

「神剣再臨」

"Thần Kiếm Tái Lâm".

ヴェルダナーヴァが囁くように告げると、その声に応じるように一振りの剣が出現した。

Khi Verudanava thì thầm, một thanh kiếm xuất hiện như thể đáp lại giọng nói đó.

キラキラとした泡のような輝きが、刀身を彩っている。

Những ánh sáng lấp lánh như bọt khí tô điểm cho lưỡi kiếm.

イメージするのは、ラムネだ。刀身に水泡が浮き上がり、弾けて消えるような、そんな不思議な剣だった。

Hình ảnh gợi lên là nước soda. Đó là một thanh kiếm kì lạ, với những bọt nước nổi lên trên lưỡi kiếm rồi vỡ tan biến mất.

「待たせたね。この剣の名は〝記憶(メモリー)〟というんだ。ボクが生き返ってから創った八本目の創世級(ジェネシス)なんだけど、この基軸世界を含めた遍(あまね)く三千世界での出来事全てが、この剣に鮮明な記録として刻まれているのさ」

"Để ngươi chờ rồi. Tên của thanh kiếm này là “Kí Ức (Memory)”. Đây là thanh Cấp Sáng Thế (Genesis) thứ tám mà ta tạo ra sau khi hồi sinh, và tất cả mọi sự kiện diễn ra trong ba ngàn thế giới, bao gồm cả thế giới cốt lõi này, đều được khắc ghi rõ ràng trong thanh kiếm này".

それを聞いた俺は、『アカシックレコードかよ!?』と突っ込みそうになった。

Nghe vậy, tôi suýt nữa đã buột miệng “Akashic Record à!?”

言葉にしなかったのは、その通りなんだろうなと悟ったからだ。

Tôi không nói ra là vì tôi nhận ra có lẽ đúng là như vậy.

それに、もうそういう会話をしている余裕などなさそうだ、と感じていた。

Hơn nữa, tôi cảm thấy không còn thời gian để nói những chuyện như vậy nữa.

ヴェルダナーヴァの剣──〝記憶(メモリー)〟から、〝竜種〟に匹敵しそうなほどの威圧感が放たれていたのである。

Thanh kiếm của Verudanava... “Kí Ức (Memory)”, đang tỏa ra một luồng áp lực đáng sợ đến mức có thể so sánh với “Long chủng”.

これ、俺の剣が折れたりしないよね?

Cái này, kiếm của tôi sẽ không bị gãy chứ?

《大丈夫かと》

“Chắc là không sao đâu ạ”.

ならいいけどさ。

Vậy thì tốt.

まあ、剣が折れるのは、技量(レベル)が未熟な証拠だ。

Mà, kiếm bị gãy là bằng chứng cho thấy kĩ lượng (level) còn non kém.

ハクロウからも指導の際、嫌になるくらい聞かされた話である。

Đây là câu chuyện mà Hakurou đã nói đi nói lại đến phát ngán trong lúc chỉ dạy.

戦場で武器を失うのは、そのまま死を意味する。そうならないように、武器は普段の手入れだけでなく、扱い方にも注意せねばならないのだ。

Mất vũ khí trên chiến trường đồng nghĩa với cái chết. Để tránh điều đó, không chỉ cần bảo dưỡng vũ khí thường xuyên, mà còn phải cẩn thận trong cách sử dụng.

武器に負担をかけないように、常に刀身を闘気(オーラ)で保護して、っと。

Để không gây áp lực cho vũ khí, phải luôn dùng đấu khí (aura) bảo vệ lưỡi kiếm.

「それで、君の剣の名前は何と言うのかな?」

"Vậy, tên thanh kiếm của ngươi là gì?"

え、俺の剣の名前?

Ể, tên thanh kiếm của tôi?

〝竜(りゅう)魔(ま)刀(とう)〟と呼んでいるけど、確かにそれは名前ではないな。

Tôi vẫn gọi nó là “Long Ma Đao”, nhưng đúng là đó không phải là tên.

そうだな、せっかくだからこの機会に──

Đúng vậy, nhân cơ hội này...

「この剣の名前は──〝希望(エルピス)〟だ!」

"Tên của thanh kiếm này là... “Hi Vọng (Elpis)”!"

剣に名前を付けて、それを宣言した。

Tôi đặt tên cho thanh kiếm và tuyên bố nó.

その瞬間、軽めの疲労感に襲われたような気がしたのだが……一瞬で回復したので気のせいかな?

Ngay lúc đó, tôi có cảm giác như bị một cơn mệt mỏi nhẹ ập đến... nhưng nó đã hồi phục ngay lập tức, có lẽ chỉ là ảo giác?

《体調は万全ですし、問題ないかと》

“Thể trạng của ngài hoàn toàn ổn, chắc không có vấn đề gì đâu ạ”.

そうだよね?

Đúng không?

俺の感覚的には、名付けの疲労感に似ていたような気がするけど、愛剣に名付けたのが影響するはずないしな。シエルさんも問題ないと言っているし、多分勘違いなのだろう。

Theo cảm giác của tôi thì nó giống như sự mệt mỏi khi đặt tên, nhưng việc đặt tên cho thanh kiếm yêu quý của mình không thể nào có ảnh hưởng được. Ciel-san cũng nói không có vấn đề gì, nên chắc là tôi nhầm.

ともかく、俺の剣の名前は〝希望(エルピス)〟に決まった。

Dù sao đi nữa, tên thanh kiếm của tôi đã được quyết định là “Hi Vọng (Elpis)”.

世界は滅ばないという希望──というよりは、全て上手くいくはず、という欲望や願望も込みの希望だね。

Hi vọng rằng thế giới sẽ không bị hủy diệt... hay đúng hơn là hi vọng bao gồm cả lòng tham và mong muốn rằng mọi chuyện sẽ diễn ra suôn sẻ.

俺は欲張りだからね。この〝希望(エルピス)〟という名前にも、色々な意味を込めさせてもらった。

Tôi là một kẻ tham lam mà. Trong cái tên “Hi Vọng (Elpis)” này, tôi đã gửi gắm rất nhiều ý nghĩa.

「ふーん、〝希望(エルピス)〟ね。いい名前じゃないか」

"Hừm, “Hi Vọng (Elpis)” à. Tên hay đấy chứ".

「そりゃ、どうも」

"Cảm ơn nhiều".

俺がそう応じると、ヴェルダナーヴァは軽く笑った。

Khi tôi đáp lại, Verudanava khẽ cười.

そして、スッと目を細めて告げたのだ。

Và rồi, ngài nheo mắt và nói.

「それでは、早速。神が定めた摂理にどこまでついてこられるのか、試してみるとしようか」

"Vậy thì, ngay bây giờ. Hãy xem ngươi có thể theo kịp đến đâu với quy luật do Thần định ra".

その言葉が合図となった。

Lời nói đó chính là tín hiệu.

始まるのは、剣の舞だ。

Bắt đầu là vũ điệu của những thanh kiếm.

俺とヴェルダナーヴァの剣(けん)戟(げき)により、周囲に触れるモノを切り裂く断絶空間が形成された。

Những đường kiếm kích của tôi và Verudanava đã tạo ra một không gian chia cắt, xé toạc mọi thứ xung quanh.

「退避、退避だぁーーーーっ!!」

"Lui lại, lui lại ngay...!!"

「近寄るな、死ぬぞ!!」

"Đừng đến gần, chết đấy!!"

死んでもルミナスが生き返らせてくれる、などと楽観視する者はいない。

Không một ai lạc quan nghĩ rằng dù có chết thì Luminous cũng sẽ hồi sinh cho mình.

誰もが俺達から距離を置き、自分の身を守っていた。

Mọi người đều giữ khoảng cách với chúng tôi và tự bảo vệ mình.

それでいいと、俺は思った。

Tôi nghĩ như vậy là tốt rồi.

ベニマルでさえ、少し距離を取ったほどなのだ。一般人が──この場にいるのは全員が英雄クラスだとしても──巻き込まれたら、即死以外の結末は存在しないと思われた。

Ngay cả Benimaru cũng phải lùi lại một chút. Nếu một người bình thường... dù tất cả những người ở đây đều là cấp anh hùng... bị cuốn vào, thì có lẽ không có kết cục nào khác ngoài cái chết tức thì.

他者の介在する余地もない二人だけの死地にて、お互いの『結界』をも一撃で切り裂くであろう必殺の剣に全ての思いを込めて、俺はヴェルダナーヴァと斬り結ぶのだった。

Tại vùng đất chết chỉ dành cho hai người, không có chỗ cho sự can thiệp của người khác, tôi dồn hết tâm tư vào thanh kiếm tất sát có thể chém tan cả “Kết Giới” của đối phương chỉ bằng một nhát, và giao chiến với Verudanava.

イヴァラージェは、様々な感情の本流に呑み込まれながら、ゆらゆらと立ち上がった。

Ivalage, bị nuốt chửng bởi dòng chảy của vô số cảm xúc, lảo đảo đứng dậy.

ギィは、油断なく身構える。

Guy cảnh giác thủ thế.

この世界で頂点だと自他共に認める者達が、各々が誇る最大最強の攻撃を繰り出した。その直撃を浴びたイヴァラージェは、生きているだけでも不思議なのだ。

Những kẻ được cả người và mình công nhận là đỉnh cao của thế giới này đã tung ra những đòn tấn công mạnh nhất mà họ tự hào. Ivalage, kẻ đã hứng chịu trực diện những đòn đó, việc còn sống sót đã là một điều kì diệu.

それなのに、まだ平然と立ち上がるのだから恐ろしい。

Vậy mà nó vẫn bình thản đứng dậy, thật đáng sợ.

それどころではなかった。

Không chỉ có thế.

「きゃはははははははぁーーーーっ!!」

"Kyahahahahahahaha...!!"

イヴァラージェが、全方位に向けて光を放った。

Ivalage bắn ra những tia sáng về mọi phía.

一見すると、ヤケクソな攻撃だ。

Thoạt nhìn, đó là một đòn tấn công liều mạng.

しかし、違う。

Nhưng không phải.

今までとは比較にならないほど、それは強力な破壊光線だった。

So với trước đây, đó là những tia sáng hủy diệt mạnh mẽ hơn rất nhiều.

その証拠に、〝天通閣〟の地上階部分の外壁が砕け落ちている。

Bằng chứng là bức tường bên ngoài của tầng trệt “Thiên Thông Các” đã vỡ vụn.

ギィの〝崩滅虚触獄(カタストロフィアイクリプス)〟によって、不壊属性に異変が生じていたのも理由だろうが、それは常識を覆すほどの衝撃となって、見る者の心を震え上がらせた。

Có lẽ một phần là do thuộc tính bất hoại đã bị ảnh hưởng bởi “Băng Hoại Hư Vô Ngục (Catastrophe Eclipse)” của Guy, nhưng đó là một cú sốc đảo lộn mọi lẽ thường, khiến người xem phải rùng mình kinh hãi.

〝天通閣〟が、地上数階分消失したのだ。

“Thiên Thông Các” đã biến mất vài tầng trệt.

上層部分は天空に繋がっているので、空からぶら下がっているように見える。

Phần trên của nó nối liền với bầu trời, nên trông như đang lơ lửng trên không.

そんな〝天通閣〟を茫然と見上げるのは、その地に住んでいた巨人族(ジャイアント)達だった。

Những người ngơ ngác nhìn lên “Thiên Thông Các” đó là tộc Cự nhân (Giant) sống ở nơi đây.

「俺達が守るべき塔が……」

"Tòa tháp mà chúng ta phải bảo vệ..."

「古来より不滅の象徴だった〝天通閣〟が、崩壊したのか……」

"“Thiên Thông Các”, biểu tượng của sự bất diệt từ xa xưa, đã sụp đổ sao..."

信じられない、信じたくない、という心境で、空を見上げている。

Họ nhìn lên trời với tâm trạng không thể tin, không muốn tin.

ギィ達は、それどころではない。

Guy và những người khác thì không có thời gian để làm vậy.

〝天通閣〟を崩すほどの威力を秘めたイヴァラージェの破壊光線を浴びたのだから、茫然としているような余裕などある訳がないのだ。

Họ đã hứng chịu tia sáng hủy diệt của Ivalage có sức mạnh đủ để phá hủy “Thiên Thông Các”, nên không có thời gian để mà ngơ ngác.

と言うか──

Hay nói đúng hơn...

茫然というより、殺伐としていた。

Thay vì ngơ ngác, họ đang rất căng thẳng.

「テメエ、もっと真面目にやれや!」

"Ngươi, làm cho nghiêm túc vào!"

「わ、我は頑張っておるではないか!」

"T-Ta đang cố gắng mà!"

ギィがヴェルドラに怒鳴った。

Guy gầm lên với Verudora.

ヴェルドラは攻撃面は優秀なのだが、防御面は得意ではない。

Verudora giỏi tấn công, nhưng không giỏi phòng thủ.

そもそも、大半の攻撃など通用しない強靭な肉体を有しているので、防御を気にする必要がなかったからだ。

Vốn dĩ, cơ thể của cậu ta quá mạnh mẽ đến mức hầu hết các đòn tấn công đều vô hiệu, nên không cần phải lo lắng về việc phòng thủ.

そんな訳で、自分は頑張っているのだ、と主張しようとしたヴェルドラだったが──

Vì vậy, Verudora đã cố gắng khẳng định rằng mình đang cố gắng, nhưng...

「ヴェルドラちゃん、ギィに逆らう気?」

"Verudora-chan, em định chống lại Guy à?"

「姉上は贔(ひい)屓(き)し過ぎでは──」

"Chị thiên vị quá rồi đấy..."

「何か問題でもあるの?」

"Có vấn đề gì sao?"

「いえ、何も……」

"Không, không có gì ạ..."

──ヴェルザードから突っ込まれて、沈黙した。

...bị Veruzado vặn lại, cậu ta im bặt.

姉に逆らえる弟などいないとばかりに、悲しいまでの力関係が成立してしまっていたのだった。

Như thể không có người em trai nào có thể chống lại chị gái, một mối quan hệ quyền lực đáng buồn đã được thiết lập.

ちなみに、ヴェルグリンドなどサッと諦めて『別(べつ)身(しん)体(たい)』を解除し、本体と合流してしまっている。その鮮やかな立ち回りは、教科書に載せてもいいほど見事だった。

Nhân tiện, Verugrynd đã nhanh chóng từ bỏ và giải trừ “Cơ thể khác”, hợp nhất với bản thể chính. Cách xử lí tình huống tài tình đó thật đáng ngưỡng mộ, đến mức có thể đưa vào sách giáo khoa.

姉二人から責められずに済んで、ヴェルドラにとってはまだマシだったのかも知れない。

Không bị hai chị gái trách mắng, có lẽ đối với Verudora vẫn còn tốt chán.

それでも、ヴェルドラが可哀そうな感じになっているのは確かだった。

Dù vậy, chắc chắn là Verudora đang trông rất đáng thương.

そんなヴェルドラは悩み、攻撃の方向を変える事にした。

Verudora phân vân, rồi quyết định thay đổi hướng tấn công.

「我はともかく、ミリムも本気を出していないのではないか?」

"Ta thì không nói, nhưng Millim cũng chưa dốc toàn lực phải không?"

自分を棚上げして、ミリムに矛先を向けようとしたのだ。

Cậu ta gạt chuyện của mình sang một bên và cố gắng chĩa mũi dùi vào Millim.

これにミリムが反論した。

Millim phản bác lại.

「何を言うのだ! ワタシは常に全力なのだぞ!!」

"Ngươi nói gì vậy! Ta luôn dốc toàn lực đấy!!"

「何を言う! 我が止めようとしておった貴様は、もっともっと狂暴で強烈だったではないか!!」

"Ngươi nói gì thế! Khi ta cố gắng ngăn cản, ngươi còn hung bạo và mãnh liệt hơn nhiều mà!!"

まあ、事実であった。

Mà, đó là sự thật.

「手を抜いてなどおらぬぞ!?」

"Ta không hề nương tay đâu!?"

心外だとばかりにミリムが主張するのだが、ヴェルドラの言うように『狂化暴走(スタンピート)』していた状態に比べると、圧倒的に力不足なのは間違いないのだ。

Millim khẳng định như thể bị xúc phạm, nhưng như Verudora đã nói, so với trạng thái “Cuồng Hóa Bạo Loạn (Stampede)”, sức mạnh của cô rõ ràng là yếu hơn rất nhiều.

「それはな、ミリムが『憤怒之王(サタナエル)』を使ってねーからだな」

"Đó là vì Millim không sử dụng “Phẫn Nộ Vương (Satanael)” đấy".

ギィがそう指摘する。

Guy chỉ ra.

「むっ!?」

"Hự!?"

ミリムは動揺して、視線を泳がせた。

Millim bối rối, ánh mắt đảo quanh.

暴走時は理性を失い、怒りのままに『憤怒之王(サタナエル)』をフル稼働させていた。しかし今、冷静になってみると、世界を滅ぼしかねない力を気軽に使おうなどという気にはなれないのだ。

Khi bạo loạn, cô đã mất đi lí trí và vận hành hết công suất “Phẫn Nộ Vương (Satanael)” theo cơn giận. Nhưng bây giờ, khi đã bình tĩnh lại, cô không còn muốn tùy tiện sử dụng một sức mạnh có thể hủy diệt thế giới nữa.

「そ、そもそもだな、あの力は危険過ぎるから、ワタシでも制御出来ぬやも知れぬのだ──」

"V-Vốn dĩ, sức mạnh đó quá nguy hiểm, có lẽ ngay cả ta cũng không thể kiểm soát được..."

それを聞いて、ヴェルドラも困り顔だ。

Nghe vậy, Verudora cũng tỏ ra bối rối.

藪をつついて蛇を出すようなもので、ミリムが再び暴走を始めたらたまったものではない。

Đó chẳng khác nào chọc vào tổ ong, nếu Millim lại bắt đầu bạo loạn thì không thể chịu nổi.

それは困るな、とヴェルドラは思った。

Thật phiền phức, Verudora nghĩ.

ところが、ギィの考えは違っていた。

Thế nhưng, suy nghĩ của Guy lại khác.

ミリムならば、自分の権能くらい制御してのけると信じているのだ。

Anh tin rằng Millim có thể kiểm soát được quyền năng của chính mình.

ギィの場合、ミリムの『憤怒之王(サタナエル)』を自身の『傲慢之王(ルシファー)』で再現した際、常時安全稼働させるには出力を四十%程度に抑えておく必要があった。

Trường hợp của Guy, khi tái tạo “Phẫn Nộ Vương (Satanael)” của Millim bằng “Ngạo Mạn Vương (Lucifer)” của mình, anh phải giữ công suất ở mức khoảng bốn mươi phần trăm để vận hành an toàn liên tục.

ミリムの『憤怒之王(サタナエル)』が、余りにも強力過ぎた為である。

Đó là vì “Phẫn Nộ Vương (Satanael)” của Millim quá mạnh.

今ならば──究極能力(アルティメットスキル)『深淵之神(ノーデンス)』ならば、九十%までは安全に運用可能になっていた。

Còn bây giờ... với Kĩ năng Tối thượng “Thâm Uyên Thần (Noden)”, anh có thể vận hành an toàn đến chín mươi phần trăm.

だが、ミリムなら──

Nhưng, nếu là Millim...

「ビビッてんじゃねーよ! いいから、やれ。また暴走するようなら、オレ達が止めてやるさ」

"Đừng có nhát gan thế! Cứ làm đi. Nếu lại bạo loạn, bọn ta sẽ ngăn ngươi lại".

自分の願望が生み出した権能くらい、己の意思で制御してみせやがれ──と、ギィはミリムに期待しているのだ。

Hãy dùng ý chí của mình để kiểm soát quyền năng do chính mong muốn của ngươi tạo ra... Guy đang đặt kì vọng vào Millim.

この信頼を感じ取れないミリムではない。

Millim không phải là người không cảm nhận được sự tin tưởng này.

まだ暴走への恐れはあるし、心の中では激しい葛藤があるものの、ここが頑張り時だと奮起する。

Dù vẫn còn nỗi sợ hãi về việc bạo loạn và trong lòng đang có một cuộc đấu tranh dữ dội, nhưng cô tự nhủ rằng đây là lúc phải cố gắng.

「よし、わかったのだ! 暴走しないように頑張るが、失敗した時は任せたのだぞ!!」

"Được rồi, ta hiểu rồi! Ta sẽ cố gắng không bạo loạn, nhưng nếu thất bại thì nhờ cả vào các ngươi đấy!!"

ミリムは覚悟を決めて、再び『憤怒之王(サタナエル)』を稼働させた。

Millim đã quyết tâm và khởi động lại “Phẫn Nộ Vương (Satanael)”.

ただでさえ膨大な魔素(エネルギー)量を有しているミリムが、大きく力を増していく。

Millim, người vốn đã sở hữu một lượng ma tố (năng lượng) khổng lồ, sức mạnh của cô lại càng tăng lên.

それを見て、ヴェルドラは思うのだ。

Nhìn thấy điều đó, Verudora nghĩ.

もしも暴走したら、また大変な目に遭うのだろうな、と。

Nếu cô ấy bạo loạn, chắc chắn mình sẽ lại gặp chuyện phiền phức đây.

オレ達が止めてやるというギィの言葉には、当然のようにヴェルドラも含まれているのだろうな、と。

Trong những lời nói của Guy rằng "bọn ta sẽ ngăn lại", dĩ nhiên cũng bao gồm cả Verudora.

そして何より、またもミリムが暴走したら、リムルからクッソ怒られるのだろうな、と。

Và trên hết, nếu Millim lại bạo loạn, chắc chắn sẽ bị Rimuru mắng cho một trận tơi bời.

自分だけが悪い訳ではないどころか、ヴェルドラに責任のない話であるはずなのだ。それなのに、何故か全責任を押し付けられる未来が視えた。

Không chỉ là không phải lỗi của một mình mình, mà đáng lẽ đây là chuyện Verudora hoàn toàn không có trách nhiệm. Vậy mà, không hiểu sao cậu lại nhìn thấy một tương lai mà mình bị đổ hết mọi tội lỗi.

それでも、それを言葉にするほど愚かではなかった。

Dù vậy, cậu không ngốc đến mức nói ra điều đó.

ここにはヴェルザードがいるので、話を聞いてもらえるハズがない、と理解しているのだ。

Cậu hiểu rằng có Veruzado ở đây, nên chắc chắn sẽ không ai lắng nghe mình.

(フッ、我ってば未来視まで獲得しちゃったか)

(Hừ, ta thậm chí còn có được cả “Tầm Nhìn Tương Lai” rồi à).

などと強がってみても、悲しい気分は拭えぬヴェルドラなのだった。

Dù cố tỏ ra mạnh mẽ như vậy, nhưng Verudora vẫn không thể xua đi cảm giác buồn bã.

そんなこんなで、ギィ達は態勢を立て直した。

Và thế là, nhóm của Guy đã chỉnh đốn lại đội hình.

ヴェルグリンドが抜けたが、ここには最強の四名が残っている。

Dù Verugrynd đã rời đi, nhưng ở đây vẫn còn bốn người mạnh nhất.

ミリムの力も増大中だし、まだまだ戦いはこれからなのだ。

Sức mạnh của Millim cũng đang tăng lên, và trận chiến vẫn còn ở phía trước.

気合を入れ直すギィ、ヴェルザード、ミリム、ヴェルドラ。

Guy, Veruzado, Millim và Verudora lấy lại tinh thần.

ところが、イヴァラージェの様子がおかしかった。

Thế nhưng, bộ dạng của Ivalage lại rất lạ.

〝天通閣〟の崩れた壁の向こう側に視線を向けて、微動だにせず立ち尽くしていたのである。

Nó hướng ánh mắt về phía bức tường đổ nát của “Thiên Thông Các” và đứng bất động.

ギィ達にとっては、追撃が来なくてラッキーというものだったのだが、今となっては不気味に思えた。

Đối với nhóm của Guy, việc không bị truy kích là một điều may mắn, nhưng bây giờ lại cảm thấy thật kì lạ.

「アイツ、何を見て……」

"Tên đó, đang nhìn gì vậy..."

ギィはイヴァラージェの視線を追う。

Guy nhìn theo ánh mắt của Ivalage.

そこには、空から舞い降りて地上に降り立ったヴェルダナーヴァがいた。敵味方の識別も何も関係なく、聖浄化結界(ホーリーフィールド)を完全に無視している。

Ở đó, Verudanava đã từ trên trời đáp xuống mặt đất. Hoàn toàn phớt lờ “Kết Giới Thanh Lọc (Holy Field)”, không cần phân biệt địch ta.

そんなヴェルダナーヴァに対応しているのはリムルで、周囲に誰も寄せ付けないような勢いで、凄まじいばかりの激闘を演じていた。

Người đang đối phó với Verudanava là Rimuru, và họ đang có một trận chiến vô cùng ác liệt, với khí thế không cho phép bất kì ai đến gần.

「──半身。私の、片割れ」

"...Nửa kia. Nửa còn lại của ta".

そう呟き、イヴァラージェがフワリと宙に浮かんだ。

Thì thầm như vậy, Ivalage nhẹ nhàng lơ lửng trên không.

その直後、飛翔を開始する。

Ngay sau đó, nó bắt đầu bay.

「チッ、オレ達は眼中にないってか?」

"Chậc, không coi chúng ta ra gì à?"

「そうねえ、舐めてるわね」

"Đúng vậy, coi thường chúng ta quá".

「屈辱なのだ。ワタシの怒りをぶつけてやるのだぞ!!」

"Thật là một sự sỉ nhục. Ta sẽ trút cơn giận này lên ngươi!!"

「そうよな。リムルの邪魔をすれば嫌味を言われるであろうし、サッサと追いかけて止めるとしよう!」

"Đúng thế. Nếu cản trở Rimuru thì chắc chắn sẽ bị cậu ấy mỉa mai, nên hãy nhanh chóng đuổi theo và ngăn nó lại!"

そうして、ギィ達もイヴァラージェを追って動き出すのだった。

Và thế là, nhóm của Guy cũng bắt đầu di chuyển để đuổi theo Ivalage.

ここ、東方面は、イヴァラージェの攻撃によって更地と化していた。

Phía đông này, đã biến thành một vùng đất trống do các đòn tấn công của Ivalage.

聖浄化結界(ホーリーフィールド)の一角を担うニコラウスは、何度も危険な攻撃に晒されつつも、皆が必死に守っていたお陰で無事である。

Nicolaus, người chịu trách nhiệm một góc của “Kết Giới Thanh Lọc (Holy Field)”, dù đã nhiều lần đối mặt với những đòn tấn công nguy hiểm, nhưng nhờ sự bảo vệ hết mình của mọi người nên vẫn an toàn.

上空部分を担当しているアルノーも、〝天通閣〟に張り付くようにして耐えていた。

Arnaud, người phụ trách phần trên không, cũng đang bám trụ vào “Thiên Thông Các” để cầm cự.

こちらは気配を消して、なるべく目立たないように頑張っている感じだね。

Anh ta có vẻ đang cố gắng xóa đi khí tức của mình để không bị chú ý.

それも仕方ない。

Điều đó cũng dễ hiểu.

これだけ激しい戦闘に巻き込まれでもしたら、『結界』を維持するどころではなくなってしまうからだ。

Nếu bị cuốn vào một trận chiến dữ dội như thế này, thì việc duy trì “Kết Giới” sẽ trở nên bất khả thi.

そんな感じで逃げられない状況なのに、俺とヴェルダナーヴァの攻防の余波に巻き込んでしまっていた。頑張って被害が出ないようにしているのだが、こればかりは不可抗力というものであった。

Trong tình huống không thể trốn thoát như vậy, họ lại bị cuốn vào dư chấn từ cuộc chiến của tôi và Verudanava. Dù tôi đã cố gắng để không gây ra thiệt hại, nhưng đây là điều bất khả kháng.

それほどまでに、俺とヴェルダナーヴァとの剣戟は、周囲への被害が甚大だったのだ。

Kiếm kích giữa tôi và Verudanava gây ra thiệt hại lớn đến mức đó cho xung quanh.

剣が宿すエネルギーが凄まじいので、打ち合った瞬間に衝撃波が発せられてしまう。

Năng lượng chứa trong những thanh kiếm quá khủng khiếp, nên mỗi khi chúng va chạm, một sóng xung kích lại được tạo ra.

というか、爆発だな。

Hay nói đúng hơn là một vụ nổ.

大気が爆(は)ぜる、という表現が適している。

Diễn tả rằng không khí bị nổ tung là thích hợp nhất.

熱線が出ないだけで、大規模破壊が生じてしまうのだ。

Chỉ là không có tia nhiệt, nhưng sự hủy diệt quy mô lớn vẫn xảy ra.

流石に危険過ぎるので、俺は剣で受けるより回避を選択している。

Quá nguy hiểm, nên tôi chọn cách né tránh thay vì dùng kiếm đỡ đòn.

ところが、それはそれで問題なのだ。

Thế nhưng, điều đó lại nảy sinh vấn đề khác.

ヴェルダナーヴァの剣筋は、見てから回避とか不可能なレベルで鋭かったのである。

Những đường kiếm của Verudanava sắc bén đến mức không thể nào nhìn thấy rồi mới né được.

全力で張り巡らせていた『多重結界』が、たった一撃で砕かれてしまうのだ。けれど、それがなければダメージ大なので、壊される度に張り直しであった。

“Đa Trùng Kết Giới” mà tôi đã dốc toàn lực triển khai bị phá vỡ chỉ bằng một đòn. Nhưng nếu không có nó thì sẽ bị thương nặng, nên mỗi lần bị phá, tôi lại phải dựng lại.

俺の『未来攻撃予測』も頼りにならない。

“Dự Tính Công Kích Tương Lai” của tôi cũng không đáng tin cậy.

ヴェルダナーヴァが、速過ぎるのである。

Verudanava quá nhanh.

しかし、ここで思わぬ救世主が現れた。

Thế nhưng, một vị cứu tinh bất ngờ đã xuất hiện.

『リムルさん! 右に避けて』

“Rimuru-san! Né sang phải đi”.

クロエからの『思念伝達』であった。

Đó là “Truyền Đạt Tư Niệm” từ Chloe.

俺は迷いも疑いもせず、その言葉に従う。

Tôi không chút do dự hay nghi ngờ, tuân theo lời cô ấy.

結果は当然、華麗なる回避成功であった。

Kết quả dĩ nhiên là né tránh thành công một cách ngoạn mục.

「──む?」

"...Hửm?"

ヴェルダナーヴァが不審そうな表情を浮かべたが、知った事ではない。

Verudanava lộ vẻ mặt nghi ngờ, nhưng tôi không quan tâm.

俺は『自分の実力ですよ』という態度で、平然とした表情を保っておいた。

Tôi giữ vẻ mặt bình thản như thể “đó là thực lực của tôi đấy”.

ヴェルダナーヴァの猛攻が繰り広げられたが、クロエからの助言によって安全確実に対処出来るようになった。

Những đòn tấn công dữ dội của Verudanava được tung ra, nhưng nhờ lời khuyên của Chloe, tôi đã có thể đối phó một cách an toàn và chắc chắn.

余裕があるから、剣でも受け流しやすい。

Vì có thừa thời gian, nên việc dùng kiếm gạt đòn cũng trở nên dễ dàng hơn.

正面から受け止めれば衝撃波が発生するが、受け流すように合わせれば、余計なエネルギーが暴発する事もないのである。

Nếu đỡ trực diện sẽ tạo ra sóng xung kích, nhưng nếu gạt đòn theo đà thì năng lượng thừa sẽ không bị bộc phát.

素晴らしい。このまま何事もなく、完封したいものである。

Tuyệt vời. Cứ thế này mà không có chuyện gì xảy ra, tôi muốn áp đảo hoàn toàn.

そう思っていたのだが、それは甘過ぎる考えだったようだ。

Tôi đã nghĩ vậy, nhưng có vẻ đó là một suy nghĩ quá ngây thơ.

まあ、いつもの事だ。

Mà, cũng là chuyện thường ngày thôi.

楽しようとか、そんなふうに考えたらダメなのである。

Nghĩ đến chuyện nhàn hạ là không được.

先ず想定外だったのが、戦場に轟(ごう)音(おん)が鳴り響いた直後に〝天通閣〟の地上数階分が崩落した事だった。

Điều bất ngờ đầu tiên là ngay sau khi một tiếng gầm vang vọng trên chiến trường, vài tầng trệt của “Thiên Thông Các” đã sụp đổ.

アルノーがビックリして、外壁から落ちそうになっていた。もう少し下の位置だったら、今の崩落に巻き込まれて聖浄化結界(ホーリーフィールド)が解除されていたかも知れない。そういう意味では、まだ最悪ではなかった。むしろ無事だったのだから、辛うじて幸運だったと言えそうだ。

Arnaud giật mình, suýt nữa rơi khỏi bức tường. Nếu ở vị trí thấp hơn một chút, có lẽ anh ta đã bị cuốn vào vụ sụp đổ và “Kết Giới Thanh Lọc (Holy Field)” đã bị giải trừ. Theo nghĩa đó, vẫn chưa phải là tồi tệ nhất. Ngược lại, vì anh ta vẫn an toàn, nên có thể nói là may mắn.

それにしても〝天通閣〟の頑丈さは、俺も体験したから知っている。アレが崩れるとか、とんでもない事態なのは間違いなかった。

Dù vậy, tôi cũng đã trải nghiệm và biết được sự vững chắc của “Thiên Thông Các”. Việc nó sụp đổ chắc chắn là một tình huống không thể tin được.

何があったのかは不明だが、それを気にしている場合ではなかった。

Không rõ đã có chuyện gì xảy ra, nhưng đây không phải lúc để bận tâm về điều đó.

崩れた先から、美女が飛び出してきた。ミリムの母であるルシアの姿をしたイヴァラージェが、俺達目掛けて向かって来たのである。

Từ đống đổ nát, một mỹ nữ bay ra. Đó là Ivalage mang hình dạng của Lucia, mẹ của Millim, đang lao về phía chúng tôi.

狙いは俺なのか、それともヴェルダナーヴァなのか?

Mục tiêu là tôi, hay là Verudanava?

『ヴェルダナーヴァだったみたい。でも……これは、最悪ね』

“Có vẻ là Verudanava. Nhưng... thế này thì tệ nhất rồi”.

俺じゃないのなら安心──と思ったら、クロエが不吉な発言をした。

Không phải mình thì yên tâm rồi... tôi vừa nghĩ vậy thì Chloe lại nói những lời không hay.

というか、確定した未来の出来事みたいなので、不吉どころの話ではないのだ。

Hơn nữa, có vẻ như đó là một sự kiện đã được định sẵn trong tương lai, nên không chỉ đơn giản là điềm gở.

何が起きるのかと身構えたら、その答えは直ぐに判明する。

Tôi đang chuẩn bị tinh thần xem chuyện gì sẽ xảy ra thì câu trả lời đã có ngay.

「きゃは! オマエは、私のモノ!!」

"Kya ha! Ngươi là của ta!!"

そんなふうに叫びながら飛び込んで来たイヴァラージェの胸に、ヴェルダナーヴァが剣を突き刺したのである。そしてそのまま、地面に縫い付けるように振り下ろした。

Verudanava đã đâm thanh kiếm vào ngực Ivalage, kẻ đang hét lên như vậy và lao tới. Và cứ thế, ngài vung kiếm xuống như thể muốn ghim nó xuống đất.

〝竜種〟に匹敵しそうなほどの絶大なエネルギーを秘めた剣が、イヴァラージェの動きを止めたのだ。

Thanh kiếm chứa đựng năng lượng khổng lồ có thể so sánh với “Long chủng” đã ngăn chặn chuyển động của Ivalage.

唖然となる俺だが、それが攻撃とは毛色が違う事に気付いていた。

Tôi sững sờ, nhưng nhận ra rằng đó không giống một đòn tấn công thông thường.

《──なるほど。あの〝記憶(メモリー)〟という剣は、対象に過去の記憶を植え付ける効果があるようです》

“...Ra là vậy. Thanh kiếm tên “Kí Ức (Memory)” đó có vẻ có tác dụng cấy ghép kí ức quá khứ vào đối tượng”.

この場合、イヴァラージェに記憶を移植している訳だね。

Trong trường hợp này, là đang cấy ghép kí ức vào Ivalage nhỉ.

その記憶というのは──

Kí ức đó là...

「テメエ、ルシアの記憶をイヴァラージェに植え付ける気かよ?」

"Ngươi, định cấy ghép kí ức của Lucia vào Ivalage à?"

俺が指摘するより先に、イヴァラージェを追って来たギィが口を挟んだ。

Trước khi tôi kịp chỉ ra, Guy, người đang đuổi theo Ivalage, đã xen vào.

俺は答えを聞いて知っていたが、ギィも今の状況を見ただけで、それを導き出したようである。そしてここまで来ると、ヴェルダナーヴァの目的も察しているのだろう。

Tôi đã nghe câu trả lời và biết, nhưng Guy dường như cũng đã suy ra được điều đó chỉ bằng cách nhìn vào tình hình hiện tại. Và đến nước này, có lẽ anh ta cũng đã đoán được mục đích của Verudanava.

「イヴァラージェをルシアとして創り直すとか、どう考えても不可能だと思っていたけど……」

"Việc tái tạo Ivalage thành Lucia, dù nghĩ thế nào cũng thấy không thể, nhưng..."

「ああん? もしかして、死んだヤツを生き返らせられなかったから、再び創り出すつもりなのかよ」

"Hả? Chẳng lẽ vì không thể hồi sinh người đã chết, nên định tạo ra lại một lần nữa à?"

「ああ。この世に散らばった〝情報子〟を全て回収する為に、この世界を滅ぼすつもりなんだってさ」

"Ừ. Ngài ấy định hủy diệt thế giới này để thu thập tất cả các “hạt thông tin” rải rác khắp nơi".

「……無茶だろ。バカな野郎だとは思っていたが、生き返ってもバカなままだったのかよ」

"...Vô lí. Ta đã nghĩ hắn là một tên ngốc, nhưng sống lại rồi vẫn ngốc như vậy à".

ギィが辛辣に告げた。

Guy nói một cách cay nghiệt.

〝竜種〟ってのは、我儘なだけじゃなくバカばかりだな──などと、続けて文句を言っている。

“Long chủng” không chỉ ích kỉ mà toàn là đồ ngốc... anh ta tiếp tục phàn nàn.

これには、遅れてやって来たヴェルザードとヴェルドラも苦い顔であった。

Nghe vậy, Veruzado và Verudora đến sau cũng lộ vẻ mặt cay đắng.

「まったくなのだ! ワタシは賢いのに、血縁者として情けないのだぞ!!」

"Đúng là hết nói nổi! Ta thông minh thế này mà, với tư cách là người thân, thật đáng xấu hổ!!"

いやいや、一番ワガママなのはミリムだと思うよ?

Không không, tôi nghĩ người ích kỉ nhất là Millim đấy?

「テメエも一緒だよ!」

"Ngươi cũng thế thôi!"

俺が指摘するまでもなく、ギィが断言した。

Không cần tôi phải chỉ ra, Guy đã khẳng định chắc nịch.

俺が口にしなかったのは、ヴェルドラとどちらがワガママか悩んだからだ。

Tôi không nói ra là vì tôi phân vân không biết giữa Verudora và cô ấy ai ích kỉ hơn.

どっちもどっちなので、ギィの発言が正解である。

Cả hai đều như nhau, nên lời nói của Guy là đúng.

俺は大きく頷き、同意を示したのだった。

Tôi gật đầu mạnh, tỏ vẻ đồng ý.

さてさて、イヴァラージェは動けなくなっている。

Nào, Ivalage đã không thể cử động được nữa.

〝記憶(メモリー)〟から情報が流れ込んでいる為か、全身から力が抜けたようになって微動だにしていない。

Có lẽ do thông tin từ “Kí Ức (Memory)” đang chảy vào, nên toàn thân nó như mất hết sức lực, không hề nhúc nhích.

復帰後がどうなるのかは不明だが、それまでは時間がかかるだろう。

Không rõ sau khi hồi phục nó sẽ ra sao, nhưng chắc sẽ mất một thời gian.

そうなると、イヴァラージェが復帰する前にヴェルダナーヴァを止めるのが吉だね。

Vậy thì, tốt nhất là nên ngăn chặn Verudanava trước khi Ivalage hồi phục.

「今の内に、全員で挑もう!」

"Nhân lúc này, tất cả cùng xông lên!"

俺はそう提案した。

Tôi đã đề nghị như vậy.

これを聞いて、ヴェルダナーヴァは笑みを浮かべた。

Nghe vậy, Verudanava mỉm cười.

「やれれ。全員揃って、ボクに敵対するつもりなのかな?」

"Chà. Tất cả các ngươi đều định chống lại ta sao?"

その発言で、空気が凍る。

Lời nói đó khiến không khí như đóng băng.

ギィでさえも緊張していたが、一瞬で気持ちを切り替えたのか覚悟を示した。

Ngay cả Guy cũng căng thẳng, nhưng có vẻ anh ta đã ngay lập tức lấy lại tinh thần và thể hiện sự quyết tâm.

「しゃーねえだろう。テメエを止めてやるのが、友だった者としての義務ってヤツだぜ」

"Biết sao được. Ngăn cản ngươi là nghĩa vụ của một người từng là bạn".

これに続いて、ヴェルザードが微笑む。

Tiếp theo, Veruzado mỉm cười.

「そうねえ、ただ従うだけではダメなのだと、ギィに教えてもらったもの。もう間違ったりしないわ」

"Đúng vậy, Guy đã dạy cho ta rằng chỉ tuân theo thôi là không đủ. Ta sẽ không mắc sai lầm nữa".

私のやり方では、お兄様の孤独を癒せなかった──と、ヴェルザードも後悔している様子であった。〝竜種〟の感覚はズレているので安心は出来ないが、もうぶっ飛んだ行動に出たりはしないハズだ。

Cách làm của tôi không thể xoa dịu nỗi cô đơn của anh trai... Veruzado có vẻ cũng đang hối hận. Cảm giác của “Long chủng” có hơi khác thường nên không thể yên tâm hoàn toàn, nhưng chắc chắn cô ấy sẽ không hành động điên rồ nữa.

ヴェルドラは最初から今に至るまで、行動にブレはない。

Verudora thì từ đầu đến giờ, hành động vẫn không hề thay đổi.

「我はリムルを信じておるよ!」

"Ta tin tưởng Rimuru!"

と、頼もしいままである。

Vẫn đáng tin cậy như mọi khi.

ちなみに、兄に対しては姉達に対してほど怯えている様子がない。それもまた、思い入れの差なのかも知れなかった。

Nhân tiện, so với hai chị gái, cậu ta không tỏ ra sợ hãi anh trai mình nhiều đến thế. Có lẽ đó cũng là sự khác biệt trong tình cảm.

ミリムもまた、ヴェルダナーヴァへの敵対の意思を明確にしている。

Millim cũng đã thể hiện rõ ý định chống đối Verudanava.

「自分勝手が過ぎるのだ! 親しい者に生き返って欲しいという気持ちはワタシにもあるが、その為に他の者達を犠牲にするというのは、理解に苦しむのだぞ!!」

"Ngài quá ích kỉ rồi! Ta cũng có mong muốn người thân của mình được sống lại, nhưng vì điều đó mà hi sinh những người khác thì ta không thể hiểu được!!"

ミリムの発言は、実にまともな意見だった。

Lời nói của Millim quả thực rất hợp lí.

だが、しかし。

Nhưng, tuy nhiên.

娘に諭されたというのに、ヴェルダナーヴァの心には響かない。悲しそうな表情を浮かべはしたが、自分の気持ちのみを優先して発言する。

Dù bị con gái khuyên răn, nhưng nó không hề chạm đến trái tim Verudanava. Ngài có thoáng lộ vẻ mặt buồn bã, nhưng vẫn ưu tiên cảm xúc của mình và nói.

「何も、全員を消さなくてもいいんだけどね。少なくとも、ルシアが死ぬ前から生きていた者達には、彼女の欠片が混ざっている可能性は皆無なんだ。見逃してもいいんだよ」

"Không cần phải xóa sổ tất cả đâu. Ít nhất, những kẻ đã sống từ trước khi Lucia chết thì không thể nào có mảnh vỡ của cô ấy trong mình được. Ta có thể bỏ qua cho chúng".

つまりは、この場にいるギィ達だけなら、ヴェルダナーヴァが創世するであろう新世界に連れていってあげる、という話だった。

Nói cách khác, chỉ cần là những người như Guy ở đây, thì ngài sẽ đưa họ đến thế giới mới mà Verudanava sẽ tạo ra.

しかし、これに頷く者などいない。

Thế nhưng, không một ai gật đầu đồng ý.

特に、ヴェルザードが怒りの表情になってヴェルダナーヴァに問いかける。

Đặc biệt, Veruzado lộ vẻ mặt tức giận và hỏi Verudanava.

「お兄様は、私に時間的猶予をくれましたよね? 私が凍らせた者達は、次の世界に連れて行ってくれる、と。そう約束してくれましたよね? あれは嘘だったのですか?」

"Anh trai, anh đã cho em thời gian mà, đúng không? Rằng những người bị em đóng băng, anh sẽ đưa họ đến thế giới tiếp theo. Anh đã hứa như vậy, đúng không? Lời hứa đó là giả dối sao?"

ミリムの配下だけでなく、本当ならもっと大勢の人々を凍らせるつもりだったのだと、ヴェルザードの言葉から推測された。そしてその理由こそ、犠牲者を減らそうというヴェルザードなりの優しさだった、と。

Không chỉ là thuộc hạ của Millim, mà từ lời nói của Veruzado có thể suy ra rằng cô ấy thực sự định đóng băng nhiều người hơn nữa. Và lí do chính là lòng tốt theo cách của Veruzado để giảm bớt số người hi sinh.

報告・連絡・相談(ホウレンソウ)さえちゃんと出来ていれば──と思わされる話なのだが、もう終わった話なので、次に活かす事にする。

Nếu như họ báo cáo, liên lạc và thảo luận với nhau một cách đàng hoàng... tôi đã nghĩ vậy, nhưng chuyện đã qua rồi, nên sẽ rút kinh nghiệm cho lần sau.

それよりも、その問いに対するヴェルダナーヴァの答えの方が大事だ。

Quan trọng hơn là câu trả lời của Verudanava cho câu hỏi đó.

まあ、ある程度は予想がつくけどね……。

Mà, tôi cũng đoán được phần nào rồi...

「ルシアが無事に復活すれば、殺さなかったさ」

"Nếu Lucia hồi sinh một cách an toàn, ta đã không giết".

それはつまり、ルシアを構成していた因子の欠片を宿していた者がいたら、何の容赦もなく消滅させて〝情報子〟を回収する気だった、という事だろうね。

Điều đó có nghĩa là, nếu có ai mang trong mình mảnh vỡ nhân tố cấu thành nên Lucia, ngài sẽ không chút do dự mà tiêu diệt họ để thu thập “hạt thông tin”.

フェルドウェイもそうだったが、どうしてこうも無茶な行動に走るのやら。

Feldway cũng vậy, tại sao họ lại có những hành động điên rồ như thế.

「お兄様は、壊れているわ」

"Anh trai, anh đã bị hỏng rồi".

「そうかな?」

"Vậy sao?"

「そうよ。だから私も、全力で抗う事にします」

"Đúng vậy. Vì thế, em cũng sẽ chống lại bằng toàn bộ sức lực".

ヴェルザードは、ヴェルダナーヴァにもっとも近しい者だった。

Veruzado là người thân cận nhất với Verudanava.

そんなヴェルザードが、肉親だった者としての絶縁宣言を行ったのだ。

Veruzado đó, đã tuyên bố cắt đứt quan hệ với tư cách là người thân.

それを聞いて、俺も複雑な心境になる。

Nghe vậy, tôi cũng có một cảm xúc phức tạp.

ここまで言われたのなら、少しは自省してくれないものか?

Bị nói đến mức này rồi, sao ngài không tự kiểm điểm lại một chút đi?

そう願ったが、ヴェルダナーヴァは悪い意味でブレなかった。

Tôi đã mong như vậy, nhưng Verudanava vẫn kiên định theo một hướng xấu.

「残念だよ」

"Thật đáng tiếc".

と、ヴェルダナーヴァは肩を竦めた。

Verudanava nhún vai nói.

先程見せた悲し気な表情など、一瞬にして消し去っている。

Vẻ mặt buồn bã lúc nãy đã biến mất trong chốc lát.

多分、本当に壊れているのだ。

Có lẽ, ngài ấy thật sự đã bị hỏng.

〝ルシア〟以外の事など、本気で眼中にないのだろう。

Ngoài “Lucia”, có lẽ ngài không thực sự quan tâm đến bất cứ điều gì khác.

どんどんと、ヤバい気配が濃厚になっていた。

Khí tức nguy hiểm ngày càng trở nên đậm đặc.

それを感じているのは俺だけではなく、全員の顔に緊張の色が浮かんでいる。

Không chỉ mình tôi cảm nhận được điều đó, mà trên khuôn mặt của mọi người đều hiện lên vẻ căng thẳng.

どうやら、戦いは避けられそうになかった。

Xem ra, trận chiến là không thể tránh khỏi.

「さて、リムルと言ったね。君がボクに対抗出来たのは、そこに隠れている者が助言していたからだろう? でも、そんな小細工はもうお終いだ」

"Nào, Rimuru đúng không. Ngươi có thể chống lại ta là nhờ kẻ đang ẩn nấp ở đó chỉ dẫn, phải không? Nhưng những trò tiểu xảo đó đến đây là hết rồi".

ヴェルダナーヴァが無表情に指を鳴らすと、空間が裂けてクロエが転がるように飛び出て来た。その全身には切り傷があり、脇腹の辺りが大きく裂けている。

Verudanava búng tay một cách vô cảm, không gian bị xé toạc và Chloe lăn ra ngoài. Toàn thân cô có những vết cắt, và vùng hông bị rách một mảng lớn.

無手だった上に、何らかの権能を発動させた気配すらないのに、とんでもない技だ。空気を振動させる事で刃に転じさせて、クロエを四方八方から狙ったのである。

Dù không dùng tay, cũng không có dấu hiệu kích hoạt bất kì quyền năng nào, nhưng đó là một kĩ thuật đáng kinh ngạc. Ngài đã làm rung động không khí để biến nó thành những lưỡi dao và tấn công Chloe từ mọi phía.

クロエは咄嗟に反応して致命傷は免れたようだが、大怪我だった。瞬時に危険を察知して回避したのに、ヴェルダナーヴァの攻撃速度が上回っていたようである。

Chloe đã phản ứng ngay lập tức và có vẻ đã tránh được vết thương chí mạng, nhưng cô đã bị thương nặng. Dù đã nhận ra nguy hiểm và né tránh ngay tức khắc, nhưng tốc độ tấn công của Verudanava dường như đã vượt trội hơn.

そこにあるのは、埋められないほどの絶対的な実力差だった。

Đó là một sự chênh lệch thực lực tuyệt đối không thể nào san lấp được.

「ごめんなさい、リムルさん。バレちゃったから、もう助言は無理みたい」

"Em xin lỗi, Rimuru-san. Bị phát hiện rồi, nên có lẽ không thể chỉ dẫn được nữa".

「それよりも、お前が無事ならそれでいいさ」

"Quan trọng hơn là em không sao thì tốt rồi".

クロエの怪我だが、こちらの動向を把握していたルミナスが、何も言わずに治癒している。

Về vết thương của Chloe, Luminous, người đã nắm bắt được tình hình của chúng tôi, đã âm thầm chữa trị mà không nói một lời.

万全のバックアップだったのに完治するまで時間がかかっているあたり、かなりの深手だったのだ。

Dù đã được hỗ trợ hết mình, nhưng việc mất thời gian để chữa lành hoàn toàn cho thấy vết thương rất nặng.

本当に、クロエが無事で何よりだった。

Thật sự, Chloe không sao là điều may mắn nhất.

そんなふうに安堵している場合ではなかった。

Nhưng đây không phải lúc để thở phào nhẹ nhõm.

次の瞬間、世界が停止していた。

Khoảnh khắc tiếp theo, thế giới đã ngưng đọng.

ヴェルダナーヴァが時間を支配したのだと、動ける者達全員が察する。

Tất cả những người có thể cử động đều nhận ra rằng Verudanava đã chi phối thời gian.

それはつまり、戦いが高次元のステージに移行したのを意味していた。

Điều đó có nghĩa là trận chiến đã chuyển sang một giai đoạn ở một chiều không gian cao hơn.

ヴェルダナーヴァが言う。

Verudanava nói.

「その者は、未来の記憶を思い出せるようだね。器用な真似をするものだと感心したが、時間を停めてしまえば意味がなくなる」

"Kẻ đó có vẻ có thể nhớ lại kí ức tương lai. Ta đã rất ấn tượng với kĩ năng khéo léo đó, nhưng nếu dừng thời gian lại thì nó sẽ trở nên vô nghĩa".

俺達は〝停止世界〟でも動けるので、本当であれば時間停止する意味はない。けれどクロエの権能を無効化するには、この方法が最適だったのだ。

Chúng tôi có thể cử động ngay cả trong “Thế Giới Ngưng Đọng”, nên thực ra việc dừng thời gian không có ý nghĩa. Nhưng để vô hiệu hóa quyền năng của Chloe, đây là phương pháp tối ưu nhất.

しかも厄介な事に、ヴェルダナーヴァが再生したジャヒル、コルヌ、ヴェガの三名も、この〝停止世界〟の中でも普通に暴れていた。

Phiền phức hơn nữa là ba kẻ mà Verudanava đã hồi sinh, Jahil, Cornu và Vega, cũng đang quậy phá bình thường trong “Thế Giới Ngưng Đọng” này.

こっちとしては戦力激減だが……考えようによっては、余計な被害者を出さなくて済むという面もある。

Về phía chúng tôi thì chiến lực giảm sút nghiêm trọng... nhưng nếu nghĩ theo hướng khác, cũng có mặt lợi là không gây ra thêm nạn nhân.

飽く迄も、この〝停止世界〟で動けない者達に影響しないように、上手く立ち回りを考えられれば、の話であったが、それでも悪い面ばかりではないと思われた。

Đó là nếu có thể nghĩ ra cách di chuyển khéo léo để không ảnh hưởng đến những người không thể cử động trong “Thế Giới Ngưng Đọng” này, nhưng dù vậy, tôi nghĩ không phải chỉ toàn mặt xấu.

そう思わないと、気分が落ち込みそうだしな。

Nếu không nghĩ vậy, tinh thần có lẽ sẽ suy sụp mất.

ミリムだって、気分を高めるためか、クロエと何か会話している。

Ngay cả Millim, có lẽ để lên tinh thần, cũng đang nói chuyện gì đó với Chloe.

「クロエよ、ワタシの時は小マメに助言してくれなかったのに、リムルには剣筋の確定まで教えていたのか? 贔屓が過ぎるではないか!」

"Chloe, lúc của ta thì ngươi không chịu khó chỉ dẫn, vậy mà với Rimuru ngươi lại chỉ cả đường kiếm chính xác sao? Thiên vị quá rồi đấy!"

「そういう作戦だったでしょ? それにそもそも、貴女に恩なんてないもの。そこまで優しくしてあげる気にはなれないかな」

"Đó là chiến thuật mà, đúng không? Hơn nữa, vốn dĩ tôi cũng không nợ nần gì cô. Nên không có ý định đối xử tốt đến thế đâu".

「ズルい、ズルいのだ!」

"Gian lận, gian lận mà!"

「ズルくない。リムルさんは大切だから、これが当然の対応よ」

"Không gian lận. Rimuru-san rất quan trọng, nên đây là cách đối xử đương nhiên thôi".

……。

...

聞くんじゃなかった。

Đáng lẽ không nên nghe.

ミリムよ、文句を言いたくなる気持ちは理解するが、時と場合を選んでくれ。

Millim à, ta hiểu cảm giác muốn phàn nàn của ngươi, nhưng hãy chọn đúng lúc đúng chỗ chứ.

そしてクロエよ、大怪我を負った直後に口喧嘩とか、元気なのは喜ばしいんだけどね、もっと大人な対応をして欲しかった……。

Và Chloe, cãi nhau ngay sau khi bị thương nặng, khỏe mạnh thì cũng vui đấy, nhưng tôi mong cô có thể ứng xử trưởng thành hơn một chút...

俺の時は感覚まで共有して、クロエが視た未来を追体験するようにして、一太刀ごとに未来の攻撃を教えてくれていたからね。そのお陰で、ヴェルダナーヴァの攻撃であろうが完璧に対応出来ていた訳だ。

Lúc của tôi, cô ấy còn chia sẻ cả cảm giác, giúp tôi trải nghiệm lại tương lai mà Chloe đã thấy, và chỉ cho tôi từng đòn tấn công trong tương lai. Nhờ vậy, dù là đòn tấn công của Verudanava, tôi cũng có thể đối phó một cách hoàn hảo.

ミリムの時は、違ったんだね。

Lúc của Millim thì khác nhỉ.

まあ、やり過ぎたからバレたのかもだけど、そんな事を言っていても仕方ない。

Mà, có lẽ do làm quá nên mới bị phát hiện, nhưng nói vậy cũng vô ích.

こうなったら、実力で戦うしかないのだ。

Đến nước này, chỉ còn cách chiến đấu bằng thực lực thôi.

そんなふうに思っていると、ヴェルダナーヴァがイヴァラージェの傍に落ちていた剣に手を向けた。その途端、〝記憶(メモリー)〟とは違うが似たような存在感を放っている剣が、それが当然という感じにヴェルダナーヴァの手に収まっていた。

Trong khi tôi đang nghĩ vậy, Verudanava hướng tay về phía thanh kiếm rơi gần Ivalage. Ngay lập tức, một thanh kiếm tỏa ra sự hiện diện tương tự nhưng khác với “Kí Ức (Memory)”, đã nằm gọn trong tay Verudanava như thể đó là điều hiển nhiên.

止まった世界の中でも、やりたい放題だな。

Ngay cả trong thế giới ngưng đọng, ngài cũng làm gì tùy thích nhỉ.

魔法さえ使用不可能なハズなんだけど、ヴェルダナーヴァを常識で測ろうとするのが間違っているのだ。

Đáng lẽ ngay cả ma pháp cũng không thể sử dụng, nhưng việc cố gắng đo lường Verudanava bằng lẽ thường đã là sai lầm.

俺は気を引き締めた。

Tôi siết chặt tinh thần.

だが、しかし。

Nhưng, tuy nhiên.

それだけでは全然足りなかったのだと、この直後に思い知る事になる。

Ngay sau đó, tôi đã nhận ra rằng chừng đó là hoàn toàn không đủ.

「さて、そろそろいいかな? どうしてもボクの邪魔をすると言うのなら、排除させてもらうよ」

"Nào, sắp được chưa nhỉ? Nếu các ngươi nhất quyết cản đường ta, thì ta sẽ loại bỏ các ngươi".

「それはこっちの──」

"Đó là lời của..."

言い返そうとしたが、その言葉は最後まで言えなかった。

Tôi định đáp trả, nhưng không thể nói hết câu.

ヴェルダナーヴァが、鋭く剣を打ち込んで来た。それを受け止めた瞬間──

Verudanava vung kiếm chém tới một cách sắc bén. Ngay khoảnh khắc tôi đỡ đòn...

『魂(こん)魄(ぱく)掌(しょう)握(あく)』

“Nắm Giữ Hồn Phách”

──全身を包み込むような、優しい感覚に襲われた。

...một cảm giác dịu dàng bao trùm lấy toàn thân.

それは、権能なのだろう。

Đó có lẽ là một quyền năng.

上位者権限とか、そんな次元の話ではない。

Không phải là chuyện quyền hạn của người cấp trên hay gì đó.

まるで、それはそうなるのが自然なのだと言わんばかりに、違和感なく行動が始まり終息していた。

Cứ như thể đó là điều tự nhiên phải xảy ra, hành động bắt đầu và kết thúc một cách không hề có chút gượng gạo nào.

俺の意識は途絶えて──

Ý thức của tôi đã mất đi...

リムルが倒れた。

Rimuru đã gục ngã.

そしてそのまま、人の姿を維持出来ずにスライム状態になる。

Và cứ thế, cậu không thể duy trì hình dạng con người và trở về dạng Slime.

それを目撃したのは、ギィ、ヴェルザード、ヴェルドラ、ミリム、クロエ、そして合流したばかりのルミナスに、少し離れて全軍指揮を執っていたベニマルだ。

Người chứng kiến cảnh đó là Guy, Veruzado, Verudora, Millim, Chloe, Luminous vừa mới hợp류, và Benimaru đang chỉ huy toàn quân ở một khoảng cách.

〝停止世界〟の中では、ヒナタでさえも動けない。必然、その領域に達していない者達は、時間が停まっているという現実すら認識出来ずに、何も出来ずに固まっていた。

Trong “Thế Giới Ngưng Đọng”, ngay cả Hinata cũng không thể cử động. Hiển nhiên, những người chưa đạt đến cảnh giới đó thậm chí còn không nhận thức được thực tại rằng thời gian đã dừng lại, chỉ biết đứng bất động.

少し離れた場所では、ジャヒル、コルヌ、ヴェガの三名を相手に、戦陣が組み直されている。そちらはそちらで手一杯なので、ディアブロでさえリムルの異変に気付けずにいた。

Ở một nơi khác, trận tuyến đang được sắp xếp lại để đối phó với ba kẻ Jahil, Cornu và Vega. Phía đó cũng đang rất bận rộn, nên ngay cả Diablo cũng không nhận ra sự bất thường của Rimuru.

ベニマルがリムルに駆け寄り、スライム身体(ボディ)を支えた。

Benimaru chạy đến bên Rimuru và đỡ lấy cơ thể Slime của cậu.

それに遅れてクロエが、そしてミリムも傍に寄り、思念の限り呼びかける。

Chloe đến sau, rồi Millim cũng lại gần, dùng hết sức ý niệm để gọi cậu.

しかし、反応はなかった。

Thế nhưng, không có phản ứng.

ヴェルダナーヴァが何かしたのだろうが、その原理を理解出来た者はいない。

Có lẽ Verudanava đã làm gì đó, nhưng không ai hiểu được nguyên lí.

ギィでさえも、リムルの身体から〝魂〟が消失した事実を認識出来たのみである。

Ngay cả Guy cũng chỉ nhận ra được sự thật rằng “linh hồn” đã biến mất khỏi cơ thể của Rimuru.

「驚いたな。リムルとやらも、ルシアの欠片を保有していたようだ」

"Ngạc nhiên thật. Tên Rimuru đó cũng có vẻ sở hữu mảnh vỡ của Lucia".

ヴェルダナーヴァがそう言った。

Verudanava nói vậy.

その手の上に揺らめき輝くのが、リムルの〝魂〟なのだ。

Thứ đang lấp lánh trên tay ngài chính là “linh hồn” của Rimuru.

ギィはそれを観察する。

Guy quan sát nó.

ディアブロ達を魅了した、強く美しい輝き。

Một ánh sáng mạnh mẽ và tuyệt đẹp đã mê hoặc cả Diablo và những người khác.

しかし今は、どことなく力強さが感じられなかった。

Nhưng bây giờ, lại không cảm nhận được chút sức mạnh nào.

どこまでも冷徹で、静謐な──

Một sự lạnh lùng, tĩnh lặng đến vô tận...

ルミナスが、悔しそうに言う。

Luminous nói với vẻ tiếc nuối.

『時間が流れぬのでは、蘇生魔法どころか魔法そのものが使えぬ。打つ手なしじゃ……』

“Nếu thời gian không trôi, thì đừng nói đến ma pháp phục sinh, ngay cả ma pháp cũng không thể sử dụng. Hết cách rồi...”

時間という概念から解き放たれてしまえば、全ての法則(ルール)が違ってくる。それに則った戦い方に不慣れな者は、何一つとして役立てないのだ。

Khi đã thoát khỏi khái niệm thời gian, mọi quy luật đều thay đổi. Những ai không quen với cách chiến đấu tuân theo quy luật đó sẽ không thể làm được gì.

ルミナスは、それが悔しかった。

Luminous cảm thấy tiếc nuối vì điều đó.

トワイライトの記憶が蘇ろうとも、今のルミナスに出来る事はなかった。

Dù kí ức của Twilight có sống lại, nhưng Luminous hiện tại cũng không thể làm gì được.

それは、ルミナスに限った話ではない。

Đó không chỉ là chuyện của riêng Luminous.

ベニマルも同じだ。

Benimaru cũng vậy.

全体を見通して適切な指示を行うのが、ベニマルの得意分野である。しかし今、その能力は無価値であった。ここ〝停止世界〟の中では、動ける者の方が少数派であったからだ。

Việc bao quát toàn cục và đưa ra chỉ thị thích hợp là sở trường của Benimaru. Nhưng bây giờ, khả năng đó đã trở nên vô giá trị. Bởi vì trong “Thế Giới Ngưng Đọng” này, số người có thể cử động là thiểu số.

『リムル様……』

“Rimuru-sama...”

必死に呼びかけても返事はなく、ベニマルの心に絶望感が滲み出す。

Dù gọi một cách tuyệt vọng nhưng không có hồi âm, một cảm giác tuyệt vọng len lỏi trong lòng Benimaru.

リムルという支柱がなければ、自分達はどこまでも無力なのだ──と、またも痛烈に認識させられていた。

Không có trụ cột là Rimuru, họ chỉ là những kẻ vô dụng... một lần nữa, cậu lại nhận ra điều đó một cách đau đớn.

リムルに頼らなくても済むようにと、常に自らを鍛え抜いていたのだが、このような時に活躍出来なければ意味がないのだ。ベニマルは、無力感に涙した。

Cậu đã luôn rèn luyện bản thân để không phải dựa dẫm vào Rimuru, nhưng nếu không thể phát huy tác dụng trong những lúc như thế này thì chẳng có ý nghĩa gì. Benimaru đã khóc vì cảm giác bất lực.

クロエは剣を握りしめる。

Chloe siết chặt thanh kiếm.

『返してもらう』

“Trả lại đây”.

ここまで来た。

Đã đến được đây rồi.

幸福で理想的な未来は、もう間もなく実現するはずだった。

Một tương lai hạnh phúc và lí tưởng đáng lẽ sắp thành hiện thực.

それなのに、ここでリムルを失う訳にはいかないのだ。

Vậy mà, không thể mất Rimuru ở đây được.

止まった時間の中でも、クロエは戦える。

Ngay cả trong thời gian ngưng đọng, Chloe vẫn có thể chiến đấu.

ここで諦めるような脆弱な精神ではないのが、クロエ・オベールという最強の〝勇者〟なのだ。

Không có một tinh thần yếu đuối đến mức từ bỏ ở đây, đó chính là Dũng giả mạnh nhất, Chloe Aubert.

ヴェルダナーヴァに勝てる気はしなかった。

Cô không nghĩ mình có thể thắng được Verudanava.

一人では、だ。

Nếu chỉ một mình.

『ワタシも許さぬのだぞ!』

“Ta cũng sẽ không tha thứ đâu!”

ミリムも立ち上がって、〝天魔(アスラ)〟を構えた。

Millim cũng đứng dậy, cầm lấy “Thiên Ma (Asura)”.

『協力するわね』

“Ta sẽ hợp tác”.

ヴェルザードも諦めていない。

Veruzado cũng chưa từ bỏ.

そしてまだ、最強の魔王も健在なのだ。

Và Ma vương mạnh nhất vẫn còn đây.

『やれれ、バカな野郎共だな。〝魂〟に直接干渉するなんざ、オレ達にだって禁じられているんだぜ。それを制約もなしに行うなんざ、やり過ぎなんだよ!』

"Chà, đúng là một lũ ngốc. Can thiệp trực tiếp vào “linh hồn” là điều cấm kị ngay cả với bọn ta đấy. Vậy mà lại làm điều đó không chút ràng buộc nào, quá đáng lắm rồi!"

ギィは最初からやる気だった。

Guy đã hăng hái ngay từ đầu.

こうして、クロエ、ミリム、ヴェルザード、ギィ──この四名がヴェルダナーヴァの前に立ち塞がったのだが、そこで場違いな笑い声が轟(とどろ)いた。

Và thế là, Chloe, Millim, Veruzado, Guy... bốn người này đã đứng chắn trước mặt Verudanava, nhưng đúng lúc đó, một tiếng cười lạc lõng vang lên.

『クアーーーッハッハッハ! 狼狽(うろた)えるでないわ!!』

“Kuahahahaha! Đừng có hoảng loạn!!”

ヴェルドラだった。

Đó là Verudora.

皆の怒りがヴェルドラに向かいかけたのだが──その時、誰もが驚愕する出来事が起きたのである。

Cơn giận của mọi người suýt nữa đã hướng về phía Verudora... nhưng đúng lúc đó, một sự kiện khiến tất cả mọi người đều kinh ngạc đã xảy ra.

ベニマルに抱えられていたリムルが、スルッと目覚めたのだ。

Rimuru, đang được Benimaru ôm trong tay, đột nhiên tỉnh dậy.

──しばしの間を置いて、目覚めた。

...sau một lúc, tôi tỉnh dậy.

白昼夢を見たような感じだ。

Cảm giác như vừa có một giấc mơ ban ngày.

というか、色々と悪足掻きしている内に、いつの間にかベニマルに支えられていて、ビックリした。

Hay đúng hơn, trong lúc đang cố gắng vùng vẫy một cách vô vọng, tôi bất ngờ nhận ra mình đang được Benimaru đỡ, và giật cả mình.

意識せぬままスライム状態になっていたので、二度ビックリである。

Tôi đã bất giác trở về dạng Slime, nên lại càng ngạc nhiên hơn.

うーん、と伸びをしつつ、人の姿に戻った。

Ưỡn người một cái, tôi trở lại hình dạng con người.

『……君の〝魂〟を奪ったのに、どうして無事なのかな?』

“...Ta đã cướp đi “linh hồn” của ngươi, tại sao ngươi vẫn bình an?”

お、ヴェルダナーヴァもビックリしたみたいだね。

Ồ, có vẻ Verudanava cũng ngạc nhiên.

よしよし。

Tốt, tốt.

創造神すら驚かせられたのなら、俺的には大金星だ。

Nếu có thể khiến cả Đấng Sáng Tạo ngạc nhiên, thì đối với tôi đó là một chiến thắng lớn.

とは言え、困った事態なのは間違いなかった。

Dù vậy, không thể phủ nhận đây là một tình huống khó khăn.

過去最大級の、危機的状況というヤツである。

Một tình huống nguy cấp lớn nhất từ trước đến nay.

何故なら今、俺の中にシエルさんがいないからだ。

Bởi vì bây giờ, Ciel-san không còn ở trong tôi nữa.

いや、マジで……。

Không, thật đấy...

俺が困惑しているのに話しかけてこないなと思ったら、気配がなくなっていた。

Tôi đang bối rối mà không thấy cô ấy nói gì, thì nhận ra khí tức của cô ấy đã biến mất.

あれ? と思って質問を投げかけてみても、いつものような返事がなかったのである。

Hử? Tôi thử đặt câu hỏi, nhưng không có câu trả lời như mọi khi.

マジで困った。

Thật sự phiền phức rồi.

というか、泣きたい。

Hơn nữa, tôi muốn khóc quá.

こんなに心細くなったのは、転生してから初めての事である。不安になるのも当然なのだ。

Đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy cô đơn đến vậy kể từ khi chuyển sinh. Việc cảm thấy lo lắng cũng là điều đương nhiên.

そもそもの話、俺の権能の大半は、シエルさんが適切に管理してくれていた。シエルさんがいなくなったという事は、それらが扱えなくなったという事を意味するのだ。

Vốn dĩ, phần lớn quyền năng của tôi đều do Ciel-san quản lí một cách thích hợp. Việc Ciel-san biến mất có nghĩa là tôi không thể sử dụng chúng được nữa.

ヴェルダナーヴァという、かつてないほどの敵を前にして、今の俺は無力極まりない存在となってしまった訳だ。

Trước một kẻ thù mạnh chưa từng có là Verudanava, tôi bây giờ đã trở thành một tồn tại vô cùng yếu đuối.

絶望するな、というのが無理な話であった。

Nói là đừng tuyệt vọng, thật là một yêu cầu vô lí.

それに、だ。

Hơn nữa,

今の俺だが、実は偽物疑惑があるのだ。

Tôi hiện tại, thực ra đang bị nghi ngờ là đồ giả.

シエルさんは俺の魂と完全に同化していたので、分離不可能の完全なる一心同体だった。それなのに奪われているという事は、今の俺こそが残りカスである可能性が高いのである。

Ciel-san đã hoàn toàn đồng hóa với linh hồn của tôi, nên chúng tôi là một thể thống nhất không thể tách rời. Vậy mà lại bị cướp đi, có nghĩa là tôi hiện tại rất có khả năng chỉ là phần còn sót lại.

まあ、〝魂〟を奪われたのにこうして自我があるのだから、それだけでも幸運だった訳だけど……無事、とは断言出来ない状況なのだった。

Mà, dù bị cướp đi “linh hồn” mà vẫn còn có ý thức thế này, thì cũng đã là may mắn rồi... nhưng không thể khẳng định là tôi vẫn bình an.

何が起きたのか、それは既に判明して理解している。

Chuyện gì đã xảy ra, tôi đã biết và hiểu rõ.

俺の意識が消えたのは一瞬だけで、直ぐに今の自我が目覚めていたのだ。

Ý thức của tôi chỉ biến mất trong chốc lát, và ngay sau đó, ý thức hiện tại đã tỉnh dậy.

そう、ヴェルドラの中で。

Đúng vậy, bên trong Verudora.

俺とヴェルドラは〝魂の回廊〟で繋がっていて、互いの中にバックアップがある状態だった。今回のヴェルダナーヴァの攻撃は、そうした裏技すら封じるような『多次元連続攻撃』ではあったのだが、ここで奇跡が起きたのである。

Tôi và Verudora được kết nối bằng “hành lang linh hồn”, và chúng tôi có một bản sao lưu bên trong nhau. Đòn tấn công lần này của Verudanava là một “Đòn tấn công đa chiều liên tục” có thể vô hiệu hóa cả những mánh khóe đó, nhưng một phép màu đã xảy ra.

俺の〝魂〟がヴェルドラの中から奪われそうになった瞬間、俺の心核(ココロ)──自我だけが追い出された。そして、ヴェルドラの中に取り残されていた、という訳だ。

Ngay khoảnh khắc “linh hồn” của tôi sắp bị cướp đi từ bên trong Verudora, chỉ có tâm hạch (trái tim)... ý thức của tôi bị đẩy ra ngoài. Và thế là tôi bị bỏ lại bên trong Verudora.

そんな状態では出来る事はなさそうだったし、『さて、どうしたものか?』と悩みかけたのだが、そこで悪足掻きを思いついてしまった。

Trong tình trạng đó, có vẻ như không thể làm được gì, và tôi đã định băn khoăn “Giờ phải làm sao đây?”, nhưng rồi tôi lại nghĩ ra một cách vùng vẫy vô vọng.

そう、『俺には〝擬似魂(ギジコン)〟があるではないか!』と、どこまでも生き抜こうとする図太い思考で思い出したのである。

Đúng vậy, “Mình còn có “Linh hồn giả (Gijikon)” mà!”... tôi đã nhớ ra điều đó với một suy nghĩ gan dạ quyết tâm sống sót đến cùng.

思いついたからには、試すべきだった。

Một khi đã nghĩ ra, thì phải thử.

俺はヴェルドラに協力してもらって、ぐでっとなっていたスライムボディに、〝擬似魂〟を投下。そこに意識を投影する事で、見事、復活を果たしたのだった。

Tôi nhờ Verudora hợp tác, và thả “Linh hồn giả” vào cơ thể Slime đang mềm nhũn của mình. Bằng cách chiếu ý thức vào đó, tôi đã hồi sinh một cách ngoạn mục.

これも全て、俺が情報生命体(デジタルネイチャー)へと至っていたからこそ可能だったのだ。

Tất cả những điều này có thể thực hiện được là nhờ tôi đã trở thành một Thể sống thông tin (Digital nature).

あの咄嗟の間に、シエルさんが俺を助けてくれたのだと、俺は直ぐに察した。

Tôi ngay lập tức nhận ra rằng Ciel-san đã cứu tôi trong khoảnh khắc đó.

そうでなければ、説明出来ないからだ。

Nếu không, thì không thể giải thích được.

それに、最後に何か語り掛けられた気がする。

Hơn nữa, tôi có cảm giác như cô ấy đã nói gì đó với tôi vào phút cuối.

──貴方(マスター)は、最強です──

──Ngài (Master), là người mạnh nhất──

そう言われたと思うのだが、今の俺には重過ぎる信頼だった。

Tôi nghĩ mình đã được nói như vậy, nhưng đó là một sự tin tưởng quá lớn đối với tôi lúc này.

元サラリーマンは、戦闘民族とは違うのである。

Một cựu nhân viên văn phòng thì khác với một dân tộc chiến đấu.

勝てる戦いしかしたくないし、負けそうな状況からは逃げ出したいというのが本音なのだ。

Tôi chỉ muốn tham gia vào những trận chiến mà mình có thể thắng, và muốn trốn khỏi những tình huống có vẻ sẽ thua, đó là lòng thật của tôi.

無茶を言うな──というのが、偽らざる本心だった。

Đừng nói những điều vô lí... đó là suy nghĩ thật lòng không hề giả dối của tôi.

助けてくれた点は感謝しているが、しかしである。

Tôi biết ơn vì cô ấy đã cứu tôi, nhưng...

シエルさんのいない俺なんて、ゴブタと同程度の戦闘能力しかないと思うんだよ。

Một tôi không có Ciel-san, tôi nghĩ chỉ có sức chiến đấu ngang ngửa Gobuta thôi.

そりゃあ、現在進行形で〝停止世界〟の中でも動けているから、ゴブタよりはマシなんだけどさ……。

À thì, hiện tại tôi vẫn có thể cử động trong “Thế Giới Ngưng Đọng”, nên chắc là tốt hơn Gobuta...

権能もまともに扱えない上に、〝魂〟は偽物ときた。

Không chỉ không thể sử dụng quyền năng một cách đàng hoàng, mà “linh hồn” cũng là đồ giả.

自我的には本物だと自負しているのだが、他人から見たら偽物扱いされても不思議ではない。

Về mặt ý thức thì tôi tự tin mình là thật, nhưng người khác nhìn vào mà coi tôi là đồ giả cũng không có gì lạ.

そんな状態の俺に、一体何が出来ると言うのだろう……?

Trong tình trạng này, tôi có thể làm được gì đây...?

なんて、弱気になっていると、ベニマルの視線を感じた。

Trong lúc đang yếu lòng, tôi cảm nhận được ánh mắt của Benimaru.

俺の無事に安堵して、頼りない俺を何の疑いもなく信じている。そんな想いが、その視線から感じ取れた。

Cậu ấy nhẹ nhõm vì tôi vẫn bình an, và tin tưởng tôi một cách không chút nghi ngờ dù tôi trông rất không đáng tin. Tôi có thể cảm nhận được những suy nghĩ đó từ ánh mắt của cậu.

やれれ、だ。

Thật là hết cách.

俺に出来るのなんて、強がりとハッタリくらいなものなのにさ。

Tôi chỉ có thể tỏ ra mạnh mẽ và huênh hoang thôi mà.

それでも、信頼には応えたいじゃないか。

Dù vậy, tôi vẫn muốn đáp lại sự tin tưởng đó.

俺はそう思いながら、再び自分の足で立ち上がったのだった。

Vừa nghĩ vậy, tôi vừa đứng dậy bằng chính đôi chân của mình một lần nữa.

俺は再び剣を構えた。

Tôi lại cầm kiếm lên.

そして、止まった時間の中でもお構いなしに、〝情報子〟に自分の意思を乗せて発する。

Và, dù thời gian đã ngưng đọng, tôi vẫn truyền ý chí của mình vào “hạt thông tin” và phát đi.

『驚いただろ? 何か自信満々だったけど、もう勝った気になっちゃったのかな? 残念だったね。その程度の攻撃では、この俺は倒せないとも』

“Ngạc nhiên chứ? Trông ngài có vẻ tự tin lắm, chắc đã nghĩ mình thắng rồi à? Tiếc thật. Với đòn tấn công cỡ đó thì không thể đánh bại được ta đâu”.

俺はヴェルダナーヴァを煽った。

Tôi khiêu khích Verudanava.

煽って冷静さを失わせれば、ひょっとしたら勝機を見出せるかも知れない。その僅かな可能性に賭けて、今出来る事を全部試すつもりであった。

Nếu khiêu khích khiến ngài ấy mất bình tĩnh, có lẽ tôi sẽ tìm ra được cơ hội chiến thắng. Tôi định sẽ đánh cược vào khả năng nhỏ nhoi đó và thử mọi cách có thể.

『……』

“...”

ヴェルダナーヴァは沈黙している。

Verudanava im lặng.

少しだけ苛立たしそうだが、そこまで感情が揺らいでいるようには見えなかった。

Có vẻ hơi bực bội, nhưng cảm xúc của ngài không có vẻ gì là bị dao động nhiều.

というか、俺から奪った〝魂〟を観察しているようだね。

Hay đúng hơn là ngài đang quan sát “linh hồn” đã cướp từ tôi.

『リムルさん!? 本当に無事なの?』

“Rimuru-san!? Cậu thật sự không sao chứ?”

『リムルよ、無理しているのではないか?』

“Rimuru, ngươi không phải đang cố gắng quá sức đấy chứ?”

クロエとミリムが心配そうに問いかけてきたが、ここは強がるしかない場面だった。

Chloe và Millim hỏi với vẻ lo lắng, nhưng đây là lúc tôi phải tỏ ra mạnh mẽ.

『余裕だっての! それよりお前達、ヴェルダナーヴァの攻撃は〝魂〟への直接干渉みたいだから、防御なんてまるで意味がないぞ。対策としては、距離を置け! 触れられたら終わりだからな』

“Dư sức ấy chứ! Hơn nữa, các ngươi, đòn tấn công của Verudanava có vẻ là can thiệp trực tiếp vào “linh hồn”, nên phòng thủ hoàn toàn vô dụng. Biện pháp đối phó là giữ khoảng cách! Bị chạm vào là xong đời đấy”.

多分、接触するのが発動条件なのだ。

Có lẽ, điều kiện kích hoạt là tiếp xúc.

剣越しであろうと、その攻撃は発動するのだろう。

Dù là qua kiếm, đòn tấn công đó chắc cũng sẽ được kích hoạt.

そもそも〝情報子〟への干渉力次第ではあるが、時間が止まっている中では遠距離攻撃は難しいのである。

Vốn dĩ, dù phụ thuộc vào khả năng can thiệp vào “hạt thông tin”, nhưng tấn công từ xa trong lúc thời gian ngưng đọng là rất khó.

触れられなければ大丈夫と断言出来ないのが悲しいが、意味もわからず負けるよりはマシだと思う。

Dù buồn vì không thể khẳng định là không bị chạm vào sẽ an toàn, nhưng tôi nghĩ vẫn tốt hơn là thua mà không hiểu lí do.

少なくとも、俺にはもう通用しない技だった。

Ít nhất, kĩ thuật đó không còn tác dụng với tôi nữa.

なので、俺が犠牲になって情報収集するのが、この場での最適解なのだよ。

Vì vậy, việc tôi hi sinh để thu thập thông tin là giải pháp tối ưu nhất lúc này.

『──って事で、俺が相手する』

“...Vậy nên, ta sẽ là đối thủ của ngài”.

俺はそう言って、ヴェルダナーヴァの前まで歩み出た。

Tôi nói vậy và bước ra trước mặt Verudanava.

『クアーーーッハッハッハ!! リムルに任せておけば、もう勝ったも同然だな!!』

“Kuahahahaha!! Cứ giao cho Rimuru thì coi như đã thắng rồi!!”

んな訳あるかい!

Làm gì có chuyện đó!

昔からヴェルドラは、俺に対する信頼が厚すぎるんだよね。

Từ xưa đến nay, Verudora luôn tin tưởng tôi một cách thái quá.

ミリムもそうだけど、俺が負けるとか欠片も思わないみたい。

Millim cũng vậy, có vẻ họ không hề nghĩ đến chuyện tôi sẽ thua.

特にヴェルドラなんて、俺が偽物だって気付いているハズなのにさ……。

Đặc biệt là Verudora, đáng lẽ cậu ta phải nhận ra tôi là đồ giả chứ...

まあ、意地でも強がる俺サイドにも、悪い面はあるんだけど。

Mà, về phía tôi, việc cố chấp tỏ ra mạnh mẽ cũng có mặt không tốt.

『ははは、任せとけって!』

“Hahaha, cứ để đó cho ta!”

今もまた、笑って応じてしまった。

Lần này, tôi lại cười và đáp lại như vậy.

ただし、念を押すのも忘れてはいけない。

Tuy nhiên, cũng không được quên dặn dò.

『ヴェルドラ君』

“Verudora-kun”.

『うむ。何かな?』

“Ừm. Có chuyện gì sao?”

『俺が負けたら、後は頼んだぞ!』

“Nếu ta thua, phần còn lại nhờ cậu đấy!”

『クアハハハハ! 面白い冗談だな!!』

“Kuahahahaha! Trò đùa thú vị đấy!!”

ヴェルドラは、そう言って笑った。

Verudora vừa nói vừa cười.

そして、俺だけに聞こえるように『思念伝達』を切り替えて、重要な話を伝えてきた。

Và rồi, cậu ta chuyển sang “Truyền Đạt Tư Niệm” chỉ để mình tôi nghe thấy và truyền đạt một thông tin quan trọng.

『リムルよ! 〝魂〟がなくても動けるお前以外、我が兄は倒せぬ。故に! 貴様が勝たねば、我らも負けるという事になるな』

“Rimuru! Ngoài ngươi, người có thể cử động mà không cần “linh hồn”, không ai có thể đánh bại được anh trai ta. Vì vậy! Nếu ngươi không thắng, thì chúng ta cũng sẽ thua”.

無茶を言うなよ……。

Đừng có nói những điều vô lí như vậy chứ...

俺なんてシエルさんがいなければ何も出来ない、元サラリーマンのおっさんなんだぞ……。

Một tôi không có Ciel-san thì chẳng làm được gì, chỉ là một ông chú cựu nhân viên văn phòng thôi mà...

俺の心には、不安が渦巻いていた。

Trong lòng tôi, sự lo lắng đang cuộn trào.

しかし、それを表に見せる訳にはいかない。

Nhưng tôi không thể để lộ điều đó ra ngoài.

リーダーが弱気になったら、後に続く者達も混乱してしまうからだ。

Bởi vì nếu người lãnh đạo tỏ ra yếu đuối, những người theo sau cũng sẽ hoang mang.

それに、皆の気持ちを裏切りたくなかった。

Hơn nữa, tôi không muốn phản bội lại tình cảm của mọi người.

ヴェルドラはやはり、俺が〝魂〟のない偽物だと気付いていたのだ。それなのに絶大な信頼を置いてくれるなんて、どれだけ俺の事を過大評価しているのやら。

Verudora quả nhiên đã nhận ra tôi là đồ giả không có “linh hồn”. Vậy mà vẫn đặt niềm tin tuyệt đối vào tôi, không biết cậu ta đã đánh giá tôi cao đến mức nào.

今の俺には、それが嬉しくもあるが重荷でもあった。

Đối với tôi lúc này, điều đó vừa vui mừng lại vừa là gánh nặng.

ギィとヴェルザードは、何も言わずに俺の動向を見守る構えだ。

Guy và Veruzado không nói gì, chỉ đứng quan sát hành động của tôi.

しかし、ヴェルダナーヴァの攻撃への対抗手段がない以上、ヴェルドラの言う通りだと考えているのだろう。

Nhưng, vì không có cách nào chống lại đòn tấn công của Verudanava, nên có lẽ họ cũng nghĩ rằng những gì Verudora nói là đúng.

厄介な話であった。

Thật là một câu chuyện phiền phức.

今まで何度もあったけど、今回ばかりは俺一人なのだ。

Đã có nhiều lần như vậy, nhưng lần này chỉ có một mình tôi.

頼れる相棒だったシエルさんもいないまま、孤独な戦いに挑まねばならないのである。

Không có người bạn đồng hành đáng tin cậy là Ciel-san, tôi phải đối mặt với một cuộc chiến đơn độc.

正直言って、かなり憂鬱だった。

Thành thật mà nói, tôi khá là chán nản.

逃げ出したいけど、逃げても意味はない。

Muốn bỏ chạy, nhưng chạy cũng vô ích.

やるしかない以上、俺は最後まで強気の姿勢を崩さない。

Vì không còn cách nào khác, tôi sẽ không từ bỏ thái độ mạnh mẽ cho đến cuối cùng.

それが俺なりの誇りであり、生き様だからね。

Đó là niềm kiêu hãnh và là cách sống của tôi.

『まあ、頑張ってみるさ』

“Mà, ta sẽ cố gắng xem sao”.

俺は苦笑を浮かべつつ、ヴェルダナーヴァに剣を向けた。

Tôi vừa cười khổ vừa hướng kiếm về phía Verudanava.

その時だ。

Đúng lúc đó.

『リムル様、無理はしなくていいんですよ』

“Rimuru-sama, ngài không cần phải cố gắng quá sức đâu ạ”.

それは、俺を心配するベニマルの言葉だった。

Đó là lời nói của Benimaru, lo lắng cho tôi.

それを聞いた俺は、ちょっとドキッとしてしまった。

Nghe vậy, tôi có chút giật mình.

せっかく恰好をつけているのに、見抜かれていた気分だ。

Mình đã cố tỏ ra ngầu như vậy, mà lại có cảm giác như bị nhìn thấu.

ベニマルが続けて言う。

Benimaru nói tiếp.

『今のリムル様は、豚頭帝(オークロード)に特攻しようとしていた頃の自分を思い出させます。絶対に勝てない相手に、無理を承知で挑もうとしていた愚かな自分をね』

“Rimuru-sama hiện tại làm tôi nhớ lại bản thân mình ngày xưa, khi định lao vào tấn công Trư đầu đế (Orc Lord). Một bản thân ngu ngốc đã cố gắng thách thức một đối thủ chắc chắn không thể thắng, dù biết là vô ích”.

『ベニマル……』

“Benimaru...”

『強がらなくても大丈夫ですって! 俺達は、貴方に全てを背負わせる気なんてありませんよ。ダメならダメで、恨んだりしませんって!』

“Không cần phải tỏ ra mạnh mẽ đâu ạ! Chúng tôi không có ý định để ngài gánh vác tất cả đâu. Nếu không được thì thôi, chúng tôi cũng không oán trách gì đâu ạ!”

俺はベニマルを振り返って、照れ隠しに笑う。

Tôi quay lại nhìn Benimaru và cười để che đi sự ngượng ngùng.

『フフッ、バレてた?』

“Hehe, bị phát hiện rồi à?”

『当然でしょ? あの頃は俺も、次期頭領として精一杯背伸びしてましたからね。リムル様の気持ちも、少しくらいは理解出来るってものですよ!』

“Dĩ nhiên rồi ạ. Hồi đó tôi cũng đã cố gắng hết sức để tỏ ra chững chạc với tư cách là thủ lĩnh kế nhiệm mà. Nên tôi cũng hiểu được phần nào cảm xúc của Rimuru-sama!”

俺は、気分が軽くなるような思いだった。

Tôi cảm thấy tâm trạng nhẹ nhõm hơn.

やはり、自分を理解してくれる者がいるというのは、それだけで心が満たされるものなのだ。

Quả nhiên, có người hiểu mình, chỉ điều đó thôi cũng đã đủ để làm lòng mình mãn nguyện.

上に立つ者は、時に孤独である。

Người đứng đầu, đôi khi rất cô đơn.

けれど、信頼出来る仲間が居たならば──

Nhưng, nếu có những người đồng đội đáng tin cậy...

もう、一人だとは思わない。

Tôi không còn nghĩ mình đơn độc nữa.

シエルさんという相棒がいなくても、俺は孤独ではないのだと信じられた。

Dù không có người bạn đồng hành là Ciel-san, tôi tin rằng mình không cô đơn.

俺はベニマルとの会話に背を押され、勇気を取り戻したのだ。

Cuộc trò chuyện với Benimaru đã tiếp thêm động lực cho tôi, giúp tôi lấy lại dũng khí.

この勢いのままヴェルダナーヴァを──と意気込んだのだが……。

Cứ thế này mà xông vào Verudanava... tôi đã hăng hái như vậy, nhưng...

──不幸は、突然やって来る──

...Bất hạnh luôn đến một cách đột ngột...

『危ない!!』

“Nguy hiểm!!”

『避けるのだ、リムル!!』

“Né đi, Rimuru!!”

クロエとミリムが発した『思念伝達』が届くより先に、ベニマルが動いていた。

Trước khi “Truyền Đạt Tư Niệm” của Chloe và Millim đến được, Benimaru đã hành động.

音もなく、気配すらなく、飛来した剣。

Thanh kiếm bay tới không một tiếng động, không một chút khí tức.

その脅威から守るように、ベニマルが俺を庇って前に出た。その剣を愛刀〝紅(ぐ)蓮(れん)〟で受け止めたのだが、創世級(ジェネシス)が相手では力不足もいいところだった。

Để bảo vệ tôi khỏi mối đe dọa đó, Benimaru đã lao ra che chắn. Cậu ta đã dùng thanh kiếm yêu quý “Hồng Liên” để đỡ đòn, nhưng đối thủ là Cấp Sáng Thế (Genesis) thì sức mạnh của cậu còn quá yếu.

〝紅(ぐ)蓮(れん)〟は瞬時に折れ砕け、ヴェルダナーヴァの剣がベニマルの胸に突き刺さってしまったのである。

“Hồng Liên” vỡ tan ngay lập tức, và thanh kiếm của Verudanava đã đâm vào ngực Benimaru.

完全に油断していた。

Tôi đã hoàn toàn lơ là cảnh giác.

その結果が、コレである。

Và kết quả là đây.

『……ベニマル?』

“...Benimaru?”

『フッ、だ、大丈夫、ですって……』

“Hừ, không... không sao đâu ạ...”

いやいや、全然大丈夫じゃないだろ!!

Không không, hoàn toàn không ổn chút nào!!

『チッ、やはり無理じゃな。この状況下で扱える魔法を持たぬ妾(わらわ)では、この者を救う手立てはない』

“Chậc, quả nhiên là không thể. Trong tình huống này, với một thiếp không có ma pháp nào có thể sử dụng, không có cách nào cứu được người này”.

ルミナスが残酷に告げた。

Luminous nói một cách tàn nhẫn.

ベニマルの熱量がどんどん低下している。

Nhiệt lượng của Benimaru đang giảm dần.

時間が停止しているはずなのに、エネルギーの流出が止まらないのだ。

Dù thời gian đáng lẽ đã ngưng đọng, nhưng dòng năng lượng vẫn không ngừng tuôn ra.

『そ、そんな顔、しないでくださいよ。リムル様を、守るのが、俺の──』

“Đ-Đừng làm vẻ mặt đó chứ. Bảo vệ Rimuru-sama, là của tôi...”

ヴェルダナーヴァの攻撃は、〝魂〟を侵食破壊する一撃だった。

Đòn tấn công của Verudanava là một nhát chém xâm thực và hủy diệt “linh hồn”.

ベニマルの〝魂〟は、粉々に砕かれて散り行くのを待つ状態だ。ヴェルダナーヴァの権能を解除しない限り、〝情報子〟が消去されてベニマルという存在そのものが無に帰すだろう。

“Linh hồn” của Benimaru đã vỡ vụn và đang chờ tan biến. Nếu không giải trừ quyền năng của Verudanava, “hạt thông tin” sẽ bị xóa sổ và sự tồn tại của Benimaru sẽ trở về với hư vô.

『〝魂〟のない自動人形のくせに、慕われているんだね。それとも、君が偽物だって気付いていなかったのかな?』

“Dù chỉ là một con rối tự động không có “linh hồn”, mà lại được ngưỡng mộ đến vậy nhỉ. Hay là chúng không nhận ra ngươi là đồ giả?”

遠くでヴェルダナーヴァが語っていたが、その言葉に耳を傾ける余裕なんてなかった。

Verudanava đang nói gì đó ở phía xa, nhưng tôi không có thời gian để lắng nghe.

ベニマルの方が重要なのだ。

Benimaru quan trọng hơn.

『フッ……神と、やらも……何もわかっちゃ……いないらしい、な。リムル様は……リムル、様……だ!』

“Hừ... cái gọi là... Thần... cũng chẳng hiểu... gì cả. Rimuru-sama... là... Rimuru... sama!”

ベニマルが、もう消えかけようとしているベニマルが、熱く反論してくれた。

Benimaru, Benimaru sắp tan biến, đã phản bác một cách nhiệt thành.

俺自身でさえ、自分の事なんて信じていないのに、だ。

Ngay cả bản thân tôi cũng không tin vào chính mình.

『ベニマル……』

“Benimaru...”

『リムル様は、希望……なん、です。負けたと……思わなければ──────』

“Rimuru-sama, là hi vọng... đấy ạ. Nếu không nghĩ... rằng mình đã thua...”

負けたと思わなければ、それは敗北ではない。

Nếu không nghĩ rằng mình đã thua, thì đó không phải là thất bại.

次策、はたまた次々策を考えて、勝利するまで挑み続けるのみ。

Nghĩ ra kế sách tiếp theo, rồi lại kế sách tiếp theo nữa, và cứ thế thách thức cho đến khi chiến thắng.

正義とは、勝たねば意味がない。

Chính nghĩa, nếu không thắng thì chẳng có ý nghĩa gì.

最後に勝てば、それが正義となるのだから。

Bởi vì nếu cuối cùng chiến thắng, thì đó sẽ trở thành chính nghĩa.

ベニマルの言葉で、俺はその真理を思い出した。

Lời nói của Benimaru đã khiến tôi nhớ lại chân lí đó.

『もう喋らなくていい。ベニマル、お前は回復に専念しろ』

“Không cần nói nữa. Benimaru, ngươi hãy tập trung hồi phục đi”.

『いや……俺は、もう……』

“Không... tôi, đã...”

『大丈夫だ。生まれてくる子供達だって、お前の帰りを待ってるんだ。弱気になるなよ。命令だ。死ぬな!!』

“Không sao đâu. Những đứa trẻ sắp ra đời cũng đang chờ ngươi trở về. Đừng yếu lòng. Đây là mệnh lệnh. Không được chết!!”

『……』

“...”

皆が俺に無茶ぶりするのなら、俺だって負けてはいられない。

Nếu mọi người đều đặt những yêu cầu vô lí lên tôi, thì tôi cũng không thể thua được.

俺は、死を前にして悟ったようなベニマルでは絶対に守れないような命令を、非情な口調で告げた。

Tôi đã ra một mệnh lệnh mà Benimaru, người dường như đã giác ngộ trước cái chết, chắc chắn không thể tuân theo, bằng một giọng điệu vô tình.

ベニマルが、薄く笑う。

Benimaru mỉm cười nhẹ.

その笑みに応えるように、俺はベニマルの壊れかけた〝魂〟への干渉──治療を開始したのだった。

Đáp lại nụ cười đó, tôi bắt đầu can thiệp... chữa trị cho “linh hồn” đang vỡ nát của Benimaru.

治療と言っても、簡単なものだ。

Nói là chữa trị, nhưng cũng đơn giản thôi.

シエルさんがいないので権能を使いこなせないと諦めていたが、このような緊急事態になった以上、話は違ってくる。出来ませんとか泣き言を言っている場合ではなく、最善を尽くさねばならなかった。

Tôi đã từ bỏ vì không có Ciel-san nên không thể sử dụng quyền năng, nhưng trong tình huống khẩn cấp như thế này thì câu chuyện đã khác. Đây không phải lúc để than vãn rằng không làm được, mà phải dốc hết sức mình.

俺だって何度も何度も、シエルさんが行う奇跡を目の当たりにしている。手順はわかるのだから、難しく考えずに真似するだけだった。

Tôi cũng đã chứng kiến những phép màu mà Ciel-san thực hiện không biết bao nhiêu lần. Tôi biết quy trình, nên chỉ cần bắt chước mà không cần suy nghĩ phức tạp.

正解かどうかはわからないが、何もしなければベニマルは死ぬ。

Tôi không biết đó có phải là cách đúng hay không, nhưng nếu không làm gì, Benimaru sẽ chết.

だったら、試すしかないだろう。

Vậy thì, chỉ còn cách thử thôi.

ヴェルダナーヴァの前で無防備な背中を晒してしまったが、一度や二度の攻撃で死ぬ気はないので問題ない。俺はベニマルに集中して、治療を終わらせるのを優先させた。

Tôi đã để lộ lưng trần trước mặt Verudanava, nhưng tôi không có ý định chết chỉ sau một hai đòn tấn công nên không sao. Tôi tập trung vào Benimaru và ưu tiên hoàn thành việc chữa trị.

大事なのは、〝情報子〟を失わないようにする事だ。

Điều quan trọng là phải đảm bảo không mất đi “hạt thông tin”.

そこで活きてくるのが、俺のスライム細胞という訳だね。

Và đó là lúc các tế bào Slime của tôi phát huy tác dụng.

これは一つ一つに記憶のバックアップを行える為に、一部が残っていれば全体を復元出来るという優れものなのである。

Đây là một thứ tuyệt vời, vì mỗi tế bào đều có thể sao lưu kí ức, nên chỉ cần một phần còn lại là có thể phục hồi toàn bộ.

取り敢えずコレをぶっ込んでおけば、後は何とかなるハズだった。

Tạm thời cứ nhét cái này vào, phần còn lại chắc sẽ ổn thôi.

勿論、それだけではない。

Dĩ nhiên, không chỉ có vậy.

ヴェルダナーヴァの変な権能を、俺の『魂暴喰』で喰らい尽くして、っと。

Dùng “Cắn Nuốt Linh Hồn” của tôi để nuốt chửng quyền năng kì lạ của Verudanava.

これもスライムの本能で使いこなせる技術だったので、何の問題もなく完了した。

Đây cũng là một kĩ thuật có thể sử dụng bằng bản năng của Slime, nên đã hoàn thành mà không có vấn đề gì.

これで後は、ベニマルが目覚めるのを待つだけなのだが──ここで、俺なりの工夫をひとつまみ。失ったエネルギーを補給させる目的で、俺の『虚数空間』から『虚無崩壊』のエネルギーを流入させてみた。

Giờ chỉ còn chờ Benimaru tỉnh lại... nhưng ở đây, tôi đã thêm một chút sáng tạo của riêng mình. Với mục đích bổ sung năng lượng đã mất, tôi đã thử truyền năng lượng của “Hư Vô Băng Hoại” từ “Không Gian Ảo” của mình vào.

ディアブロがやっているのを見て、真似してみたのだ。それなりに上手くいって、ベニマルに移植した俺のスライム細胞が活性化していくのが感じられた。

Tôi đã thấy Diablo làm vậy và bắt chước. Nó đã thành công tương đối, và tôi có thể cảm nhận được các tế bào Slime mà tôi đã cấy vào Benimaru đang được kích hoạt.

しかし、俺に出来たのはここまでだった。

Nhưng tôi chỉ có thể làm được đến đây.

短くも長い主観が経過する。

Một khoảng thời gian ngắn nhưng dài theo cảm nhận của tôi trôi qua.

治療が終わったハズなのに、ベニマルは目覚めない。

Đáng lẽ việc chữa trị đã xong, nhưng Benimaru vẫn không tỉnh lại.

俺の心に焦りが生じる。

Sự sốt ruột nảy sinh trong lòng tôi.

こうなったらもう、ベニマルが目覚めるまで続けるしかない。

Đến nước này, chỉ còn cách tiếp tục cho đến khi Benimaru tỉnh lại.

今は時間が止まっているが、ベニマルは〝停止世界〟でも動けるようになっている。しかし、意識を失った時点で〝停止世界〟に囚われてしまっているから──

Bây giờ thời gian đang ngưng đọng, nhưng Benimaru đã có thể cử động trong “Thế Giới Ngưng Đọng”. Tuy nhiên, ngay khi mất ý thức, cậu ta đã bị giam cầm trong “Thế Giới Ngưng Đọng”...

そうか! と、俺は閃いた。

Ra vậy! Tôi chợt lóe lên một ý nghĩ.

俺のスライム細胞が活性化しているから、意識がなくても身体の再生が行われている状態なのだ。ベニマルは気絶した時点で〝停止世界〟から取り残されたから、時間が流れ始めると目覚めるのだろう。

Vì các tế bào Slime của tôi đang được kích hoạt, nên dù không có ý thức, cơ thể vẫn đang trong quá trình tái tạo. Benimaru đã bị bỏ lại trong “Thế Giới Ngưng Đọng” ngay khi ngất đi, nên có lẽ cậu ta sẽ tỉnh lại khi thời gian bắt đầu trôi.

多分だけど、後はベニマルを信じるしかない。

Có lẽ vậy, phần còn lại chỉ có thể tin tưởng vào Benimaru thôi.

普通の回復魔法は、〝停止世界〟の中では使えないのだ。だから、今の段階でベニマルを目覚めさせる手段など、俺は持ち合わせていないのである。

Ma pháp hồi phục thông thường không thể sử dụng trong “Thế Giới Ngưng Đọng”. Vì vậy, ở giai đoạn này, tôi không có cách nào để đánh thức Benimaru dậy.

そこまで理解した時、ヴェルダナーヴァの呆れたような声が聞こえた。

Khi tôi hiểu ra được đến đó, tôi nghe thấy giọng nói có vẻ cạn lời của Verudanava.

『悪足掻きをするものだ』

“Đúng là một kẻ vùng vẫy vô ích”.

そう言いながら、剣をその手に呼び戻したようだ。

Vừa nói, ngài vừa triệu hồi lại thanh kiếm vào tay.

ヴェルダナーヴァの追撃が来る前に終わらせたかったが、間に合わなかったようだ。

Tôi đã muốn kết thúc trước khi Verudanava truy kích, nhưng có vẻ không kịp.

仕方ないので、一撃は喰らおう──俺はそう覚悟する。

Không còn cách nào khác, đành chịu một đòn vậy... tôi đã chuẩn bị tinh thần.

そして、ヴェルダナーヴァの剣が再び放たれようとした、まさにその瞬間の事──

Và rồi, ngay khoảnh khắc thanh kiếm của Verudanava sắp được tung ra một lần nữa...

『ちょっと待つのよさ!!』

“Chờ một chút đã!!”

そう叫びながら登場したラミリスが、俺とヴェルダナーヴァの間に割り込んだのだった。

Lamrys vừa hét lên vừa xuất hiện, chen vào giữa tôi và Verudanava.

ラミリスが、どうしてここに?

Lamrys, tại sao lại ở đây?

というか、どうやってここまで来たんだ!?

Hay đúng hơn, làm sao cô ấy đến được đây!?

そんなふうに驚いたのは、俺だけではなかったようだ。

Có vẻ không chỉ mình tôi ngạc nhiên như vậy.

『ラミリスじゃねーか。何しに来やがった?』

“Không phải Lamrys sao. Ngươi đến đây làm gì?”

『お前も、時間が止まっても動けるのだな。その点は驚いたが、お前ではこの戦いには役立たぬであろう?』

“Ngươi cũng có thể cử động dù thời gian đã ngưng đọng à. Điểm đó thì ta ngạc nhiên đấy, nhưng với ngươi thì trong trận chiến này cũng chẳng giúp được gì, phải không?”

『っていうか、今更?』

“Hay đúng hơn là, bây giờ mới đến à?”

ギィとミリムが、ラミリスに話しかけている。

Guy và Millim đang nói chuyện với Lamrys.

ずっと見学していただけのディーノも、半分本気でラミリスに問いかけていた。

Dino, người nãy giờ chỉ đứng xem, cũng hỏi Lamrys một cách nửa đùa nửa thật.

そのどれもが旧友に向けるには厳しい言葉だが、誰もがそう思うであろう指摘であった。

Tất cả đều là những lời lẽ gay gắt đối với một người bạn cũ, nhưng đó là những lời chỉ trích mà ai cũng sẽ nghĩ đến.

その答えは、ラミリスの背後に立つ人物にあった。

Câu trả lời nằm ở người đứng sau lưng Lamrys.

ゼギオンだ。

Là Zegion.

『リムル様、御前に参上致しました』

“Rimuru-sama, thần đã đến trước mặt ngài”.

ゼギオンがそう言って、俺の後ろに跪く。

Zegion nói vậy và quỳ xuống sau lưng tôi.

俺は無事にベニマルへの処置を終え、立ち上がった。

Tôi đã hoàn thành việc cứu chữa cho Benimaru và đứng dậy.

ラミリスの登場は、思わぬ幸運だった。

Sự xuất hiện của Lamrys là một may mắn bất ngờ.

そのお陰で、こうして俺も無事なのだ。

Nhờ vậy, tôi cũng đã được an toàn.

俺はゼギオンを見る。

Tôi nhìn Zegion.

これまた、別人の如く強くなっているね。

Cậu ta lại trở nên mạnh mẽ như một người khác vậy.

時間が止まった中でも『空間転移』でここまで来れるあたり、かなりぶっ飛んだ力を手に入れている様子である。

Việc có thể đến đây bằng “Dịch Chuyển Không Gian” ngay cả khi thời gian ngưng đọng cho thấy cậu ta đã có được một sức mạnh phi thường.

コイツが味方で良かったと思うが、それでもヴェルダナーヴァを相手にするには力不足だ。

Tôi nghĩ thật tốt khi cậu ta là đồng minh, nhưng dù vậy vẫn không đủ sức để đối đầu với Verudanava.

〝魂〟への直接干渉は、ゼギオンでも対処不可能だろうと思われた。

Việc can thiệp trực tiếp vào “linh hồn” có lẽ ngay cả Zegion cũng không thể đối phó được.

『ここでベニマルを守ってくれ。俺は──ヤツを倒す』

“Hãy bảo vệ Benimaru ở đây. Ta sẽ... đánh bại hắn”.

俺はゼギオンに、ベニマルの事を託した。

Tôi đã giao phó Benimaru cho Zegion.

ベニマルの治療だが、もう俺に出来る事はない。なので、後はヴェルダナーヴァに集中するのが正解と──

Về việc chữa trị cho Benimaru, tôi không còn làm được gì nữa. Vì vậy, tập trung vào Verudanava là đúng đắn...

『リムル、リムル!』

“Rimuru, Rimuru!”

『ん?』

“Hửm?”

このタイミングで、ラミリスが話しかけてきた。

Đúng lúc này, Lamrys lại nói chuyện với tôi.

『ここはアタシに任せて欲しいワケ!』

“Ở đây cứ giao cho tớ đi!”

『任せてって、お前に何か出来るのか?』

“Giao cho cậu ư, cậu làm được gì chứ?”

『勿論なのよさ! アタシはね、いつでも魔法を使えるの。ベニマルちゃんだって、助けられると思うのよさ!』

“Dĩ nhiên rồi! Tớ ấy nhé, có thể sử dụng ma pháp bất cứ lúc nào. Benimaru-chan cũng có thể cứu được đấy!”

『マジで?』

“Thật à?”

ラミリスを舐めていた。

Tôi đã coi thường Lamrys.

それが本当なら、凄い話だ。

Nếu đó là sự thật, thì thật là một câu chuyện đáng kinh ngạc.

『まあね、まあね! ただ、ちょっとばかり力が足りないから、アンタの力を貸して欲しいって感じ?』

“Mà này, mà này! Chỉ là, sức mạnh hơi thiếu một chút, nên tớ muốn mượn sức mạnh của cậu, được không?”

いやいやいや、急に胡散臭くなったぞ……。

Không không không, tự nhiên lại đáng ngờ thế...

けどまあ、この〝停止世界〟でも動けているし、ラミリスの力の全貌は、未だ謎に包まれていた。ラミリスの固有能力『迷宮創造(チイサナセカイ)』だって、シエルさんでさえ再現不可能だったしな。

Nhưng mà, cô ấy có thể cử động ngay cả trong “Thế Giới Ngưng Đọng” này, và toàn bộ sức mạnh của Lamrys vẫn còn là một bí ẩn. Ngay cả Kĩ năng Độc nhất “Sáng Tạo Mê Cung (Chiisana Sekai)” của Lamrys, ngay cả Ciel-san cũng không thể tái tạo được mà.

力を貸すくらいでベニマルの治療が出来るのなら、いくらでも貸せるって話であった。

Nếu chỉ cần cho mượn sức mạnh mà có thể chữa trị cho Benimaru, thì cho mượn bao nhiêu cũng được.

『俺は何をすればいいんだ?』

“Tôi phải làm gì đây?”

『えっとね、ベニマルちゃんにやってたみたいに、アンタとアタシを〝魂の回廊〟で繋げてもらえる?』

“Ừm thì, giống như cậu đã làm với Benimaru-chan, cậu có thể kết nối tớ và cậu bằng “hành lang linh hồn” được không?”

うーん、シエルさんがいないから自信はないが、さっきやったのと同じ要領で、っと。

Ừm, không có Ciel-san nên tôi không tự tin lắm, nhưng cứ làm theo cách lúc nãy...

『ちょっとアンタ、〝魂〟がないじゃないのよさ!?』

“Này cậu, cậu không có “linh hồn” mà!?”

『気のせいだよ』

“Ảo giác thôi”.

ラミリスが何か騒いでいたが、軽く聞き流して作業終了した。

Lamrys đang la lối gì đó, nhưng tôi lơ đi và hoàn thành công việc.

その瞬間、ラミリスが目に見えて成長したのだ。

Ngay lúc đó, Lamrys đã trưởng thành một cách rõ rệt.

『あれ? お前、大人の姿に──?』

“Hử? Cậu, biến thành hình dạng người lớn...?”

『気のせいなのよさ!』

“Ảo giác thôi!”

ph_slime23_ill006.jpg

絶対に気のせいじゃないが、それを言ったらブーメランになる。ここはラミリスに任せて、俺は俺の為すべき事をしようと、速やかに気持ちを切り替えたのだった。

Chắc chắn không phải là ảo giác, nhưng nếu nói ra thì sẽ thành gậy ông đập lưng ông. Tôi quyết định giao phó cho Lamrys ở đây, và nhanh chóng thay đổi tâm trạng để làm những việc mình cần làm.

ギィは、『ヴェルダナーヴァ相手には、もうオレの出番なんてなさそうだぜ』と思った。

Guy nghĩ: “Đối đầu với Verudanava, có lẽ không còn đất diễn cho mình nữa rồi”.

それはルミナスも同じだったようで、『もはや、この場にて妾(わらわ)に出来る事はなさそうじゃな。向こうが苦戦しておるようじゃし、そちらを手助けするとしようぞ』と言い残し、去って行った。

Luminous dường như cũng có suy nghĩ tương tự. “Ở đây, thiếp dường như không còn làm được gì nữa. Bên kia có vẻ đang gặp khó khăn, nên thiếp sẽ đến giúp họ vậy”, nói rồi nàng rời đi.

それでいいと、ギィは思った。

Guy nghĩ như vậy cũng tốt.

時間停止中には、ルミナスの権能は発動しない。リムルがベニマルを治療してしまったのを見て、自分に出来る事はないと割り切ったのだろう。

Trong lúc thời gian ngưng đọng, quyền năng của Luminous không thể kích hoạt. Thấy Rimuru đã chữa trị cho Benimaru, có lẽ nàng đã quyết định rằng mình không còn việc gì để làm.

というより、自分の力を役立てるならば、ウルティマ達の戦いに参戦する方がいいと判断したのだ。

Hay đúng hơn, nàng đã phán đoán rằng nếu muốn tận dụng sức mạnh của mình, thì tham gia vào trận chiến của Ultima và những người khác sẽ tốt hơn.

それに、人類の精鋭達を癒す必要もなくなっていた。ミザリーやレインが代役に立ったというのもあるが、今の時間停止状態では、動ける者の方が少ないからである。

Hơn nữa, cũng không còn cần phải chữa trị cho những tinh anh của loài người nữa. Một phần là do Misery và Rain đã thay thế, nhưng trong tình trạng thời gian ngưng đọng hiện tại, số người có thể cử động rất ít.

防御力ゼロになった者達を守るよりも、敵を誘(おび)き出して影響範囲外へと連れ出す方がいい。既に聖浄化結界(ホーリーフィールド)すら意味を成さなくなっているので、戦うのは人がいない場所の方がいいのである。

Thay vì bảo vệ những người đã mất hết khả năng phòng ngự, việc dụ kẻ địch ra khỏi phạm vi ảnh hưởng sẽ tốt hơn. “Kết Giới Thanh Lọc (Holy Field)” cũng đã trở nên vô dụng, nên chiến đấu ở những nơi không có người là lựa chọn tốt nhất.

そうした判断を一瞬で下せるあたり、ルミナスもまだ希望を捨ててはいないのだろう。

Việc có thể đưa ra phán đoán như vậy trong chớp mắt cho thấy Luminous vẫn chưa từ bỏ hi vọng.

(流石だな、ルミナス。相変わらず、頼もしいヤツだぜ)

(Quả nhiên là Luminous. Vẫn đáng tin cậy như mọi khi).

と、ギィもルミナスに感謝した。

Guy cũng cảm thấy biết ơn Luminous.

ギィとしても、ヴェルダナーヴァ相手に出来る事は少ない。

Về phần Guy, đối mặt với Verudanava, anh cũng không thể làm được nhiều.

なので、ヴェルダナーヴァよりもイヴァラージェを警戒している。

Vì vậy, anh cảnh giác với Ivalage hơn là Verudanava.

こちらはこちらで、見慣れぬ剣に刺されて不可思議な変化が生じていて、予断を許さぬ状況なのだ。

Về phía Ivalage, nó đã bị một thanh kiếm lạ đâm trúng và đang trải qua một sự biến đổi kì lạ, tình hình không thể lường trước được.

ギィとしては止めたいが、途中で邪魔する方が不吉だと感じ取っていた。

Guy muốn ngăn chặn, nhưng anh cảm nhận được rằng việc can thiệp giữa chừng sẽ mang lại điềm gở.

(経過観察して、適切に対処するのが正解だろうな)

(Quan sát diễn biến và xử lí một cách thích hợp có lẽ là đúng đắn).

と、油断なく見守る構えなのだった。

Anh đã chuẩn bị tinh thần để quan sát một cách cẩn trọng.

それにしても──と、ギィは並行して考える。

Dù vậy... Guy vẫn suy nghĩ song song.

ヴェルダナーヴァが見せた攻撃は、〝魂〟への直接干渉であった。それを見ただけで、疑いようもなくヴェルダナーヴァが本物だと察せられた。

Đòn tấn công mà Verudanava thể hiện là sự can thiệp trực tiếp vào “linh hồn”. Chỉ cần nhìn thấy điều đó, không chút nghi ngờ, anh đã biết Verudanava là thật.

生きている者が有する〝魂〟への直接干渉など、悪魔の王たる〝原初〟達でさえ不可能なのだ。

Việc can thiệp trực tiếp vào “linh hồn” của một sinh vật sống là điều không thể, ngay cả đối với các “Nguyên sơ”, những vị vua của ác ma.

それが可能なら、戦闘行為など成立しない。

Nếu điều đó có thể, thì chiến đấu đã không thể diễn ra.

〝魂〟に干渉しようとするならば、その前に精神体(スピリチュアル・ボディー)や星幽体(アストラル・ボディー)を何とかしなければならない。

Nếu muốn can thiệp vào “linh hồn”, trước đó phải xử lí được Thể tinh thần (Spiritual body) và Thể tinh u (Astral body).

そうでなければ、如何なる攻撃であろうが影響を及ぼせないのでのである。

Nếu không, dù là đòn tấn công nào cũng không thể gây ảnh hưởng.

とんでもなく危険な技だ。

Một kĩ thuật vô cùng nguy hiểm.

ギィでさえも、初見ならば為す術(すべ)もなかったであろう。

Ngay cả Guy, nếu là lần đầu tiên nhìn thấy, chắc cũng sẽ bó tay.

〝魂〟というのは、自己を形成する根幹となる部分である。これに干渉されるのは、生死を掌握されたも同然なのだ。

“Linh hồn” là phần cốt lõi hình thành nên bản ngã. Bị can thiệp vào nó cũng đồng nghĩa với việc sinh tử bị nắm trong tay.

戦いが成立しないというのが、ギィの見立てであった。

Theo đánh giá của Guy, trận chiến sẽ không thể diễn ra.

(権能を駆使すりゃあ、何とか対抗出来るかよ?)

(Nếu vận dụng hết quyền năng, liệu có thể chống lại được không?)

思案するが、試してみなければ不明だ。

Anh suy nghĩ, nhưng nếu không thử thì không thể biết được.

何しろ、自身の〝魂〟を保護したとしても、直接干渉の影響力がどこまで及ぶかわからないからだ。そしてその攻撃は、ヴェルグリンドのように『別(べつ)身(しん)体(たい)』で逃れようとも干渉されるのである。

Bởi vì, dù có bảo vệ “linh hồn” của mình, cũng không biết được sức ảnh hưởng của sự can thiệp trực tiếp sẽ đến đâu. Và đòn tấn công đó, dù có cố gắng né tránh bằng “Cơ thể khác” như Verugrynd, cũng vẫn sẽ bị can thiệp.

対抗するしか手段はなく、それに失敗した時点で敗北確定という、非常に分の悪い賭けになる。ギィとしても、挑みたくないと思わせられる勝負であった。

Chỉ có cách đối đầu, và nếu thất bại thì xem như thua cuộc, đó là một canh bạc vô cùng bất lợi. Ngay cả Guy cũng cảm thấy đây là một trận đấu mà anh không muốn tham gia.

ところが、だ。

Thế nhưng,

リムルは平然としていた。

Rimuru lại rất bình thản.

どう考えても異常である。

Dù nghĩ thế nào cũng thấy bất thường.

ギィの眼には、リムルの体内に輝く〝擬似魂(ギジコン)〟が視えている。魔鋼製の器だったそれは、今ではリムルの魔素を浴びて究極の金属(ヒヒイロカネ)へと進化していた。

Trong mắt Guy, anh có thể nhìn thấy “Linh hồn giả (Gijikon)” đang tỏa sáng bên trong cơ thể Rimuru. Vật chứa bằng Ma cương đó, giờ đây đã hấp thụ ma tố của Rimuru và tiến hóa thành Kim loại Tối thượng (Hihiirokane).

それは〝情報子〟を満たす器として、十分な性能を発揮している様子である。しかしその構造は、本体に宿る〝魂〟と同期する事で、自我を反映させる仕組みになっていた。

Nó đang phát huy đầy đủ hiệu suất với vai trò là một vật chứa đầy “hạt thông tin”. Nhưng cấu trúc của nó lại được thiết kế để đồng bộ với “linh hồn” trú ngụ trong cơ thể chính, từ đó phản ánh bản ngã.

それなのにリムルは、〝魂〟を失くした状態で自我だけを宿しているのである。

Vậy mà Rimuru, lại chỉ mang trong mình bản ngã mà không có “linh hồn”.

(どうやってやがる? というか、どうして動けるんだ?)

(Làm thế nào được nhỉ? Hay đúng hơn là, tại sao lại cử động được?)

ギィでさえも、理屈がわからなかった。

Ngay cả Guy cũng không hiểu được lí do.

ヴェルダナーヴァが自動人形と呼んだが、それもそのはずなのだ。

Verudanava đã gọi nó là con rối tự động, điều đó cũng dễ hiểu.

どう考えても、事前にそれらしくプログラムを組み込んでおいて、相手を欺く目的で動かしているとしか説明出来ないからである。

Bởi vì, dù nghĩ thế nào đi nữa, cũng chỉ có thể giải thích rằng nó đã được lập trình sẵn để hoạt động nhằm mục đích đánh lừa đối phương.

つまりヴェルダナーヴァは、リムルがギミックを仕掛けておいて、自分がやられたのにヴェルダナーヴァを欺こうとしている、と認識している訳だ。

Nói cách khác, Verudanava nhận thức rằng Rimuru đã cài đặt một cơ chế, và dù đã bị đánh bại nhưng vẫn cố gắng đánh lừa Verudanava.

リムルは既に消えており、その命令に従う魔人形(ゴーレム)が、主の真似をしているだけだろう、と。

Rimuru đã biến mất, và con Hình nhân ma lực (Golem) tuân theo mệnh lệnh đó chỉ đang bắt chước chủ nhân của nó mà thôi.

そう考えれば納得出来るのだが、ギィの見立てでは、目の前に立つのはリムル本人にしか見えない。何故ならば、ここまで『リムル本人』を再現するようなプログラムを組む事など不可能だからだ。

Nếu nghĩ như vậy thì cũng hợp lí, nhưng theo đánh giá của Guy, người đang đứng trước mặt anh không ai khác chính là Rimuru. Bởi vì, việc lập trình một chương trình có thể tái tạo “Rimuru bản thân” đến mức này là điều không thể.

それに……。

Hơn nữa...

ベニマルの治療を始めたリムルが、とんでもない真似を仕出かしていた。

Rimuru, người đã bắt đầu chữa trị cho Benimaru, đã làm một việc không thể tin được.

それは、ただのプログラムには絶対に不可能な、ギィでさえ唖然となるような神技だったのだ。

Đó là một thần kĩ mà một chương trình đơn thuần không thể nào làm được, ngay cả Guy cũng phải sững sờ.

(何つーかよう、呆れるより腹が立ってくるよな。あの野郎、権能も使わず、当たり前のように身体改変を行いやがったぞ……?)

(Nói sao nhỉ, còn hơn cả cạn lời, tức điên lên được. Tên đó, không dùng đến quyền năng mà lại thực hiện cải biến cơ thể một cách tự nhiên như vậy...?)

ベニマルが失ったエネルギーを補給しようとしたのだろうが、明らかにヤバい『虚無』をベニマルに適応するエネルギーに変換して、譲渡していた。

Có lẽ là để bổ sung năng lượng đã mất cho Benimaru, nhưng hắn đã biến đổi “Hư Vô” nguy hiểm rõ ràng thành năng lượng thích hợp với Benimaru và truyền cho cậu ta.

それでもベニマルは目覚めなかったのだが、無理もない話だ。身体に過剰なエネルギーが注入されたので、それに適応するまでは動けるはずもないのだ。

Dù vậy Benimaru vẫn chưa tỉnh lại, nhưng cũng dễ hiểu thôi. Vì một lượng năng lượng quá lớn đã được truyền vào cơ thể, nên cậu ta không thể cử động được cho đến khi thích nghi với nó.

おいおい、ふざけるなよ!? というのが、ギィの本音である。

Này này, đừng có đùa chứ!? Đó là lòng thật của Guy.

ふざけるなと文句を言いたかったが、我慢するのに必死だった。理解は出来るが、真似したくないほどヤバい行為だったのだ。

Anh muốn phàn nàn rằng đừng có đùa, nhưng đã phải cố gắng kiềm chế. Anh có thể hiểu, nhưng đó là một hành động nguy hiểm đến mức anh không muốn bắt chước.

しかもここで、ラミリスの登場だ。

Hơn nữa, lúc này Lamrys lại xuất hiện.

何らかの交渉を一瞬で終えるなり、ラミリスが成長した。

Vừa mới kết thúc một cuộc đàm phán nào đó trong chớp mắt, Lamrys đã trưởng thành.

その言葉通り、小さな妖精姿から精霊女王としての大人の姿に変化したのだ。

Đúng như lời nói, cô đã biến đổi từ hình dạng một tiểu yêu tinh thành hình dạng người lớn của một Nữ vương Tinh linh.

こちらはもう、何をやってるんだという話だった。

Về phần này thì đúng là không hiểu đang làm gì nữa.

危険極まりないエネルギーを、誰にでも扱えるような〝力〟に変換するとか、『それが可能ならよう、何でもアリだろうが!!』となる。

Biến đổi một loại năng lượng cực kì nguy hiểm thành một “sức mạnh” mà ai cũng có thể sử dụng được, “Nếu có thể làm được như vậy thì cái gì cũng có thể làm được rồi còn gì!!”

そんな危険で常識はずれな行為の数々を、プログラムされただけの人形が行えるはずがない。ギィがリムルを本物だと断ずる根拠は、これ以上ないほど明確なのだった。

Những hành động nguy hiểm và phi lí như vậy không thể nào được thực hiện bởi một con rối chỉ được lập trình. Bằng chứng để Guy khẳng định Rimuru là thật đã quá rõ ràng.

そんな訳で、目の前に立つのはリムル本人で、そして、かつてなく本気になっているというのが現状だ。

Vì vậy, người đang đứng trước mặt là chính Rimuru, và hiện tại cậu ta đang nghiêm túc hơn bao giờ hết.

いつも飄(ひょう)々(ひょう)としていて、争いごとを忌避している姿しか知らなかったが、今のリムルは自ら戦いを望んでいるように見える。

Tôi chỉ biết đến một Rimuru luôn ung dung, tránh né xung đột, nhưng Rimuru hiện tại lại có vẻ như đang tự mình tìm kiếm một trận chiến.

創造神であり、かつての友だったヴェルダナーヴァ。

Verudanava, Đấng Sáng Tạo và là bạn cũ.

八星魔王(オクタグラム)の一柱(ヒトリ)として、ギィが認めて頼りにしている仲間──リムル。

Rimuru, một thành viên của Bát Tinh Ma Vương (Octagram), là một đồng đội mà Guy công nhận và tin tưởng.

さてさて、どちらの力が上回るのか。

Nào, sức mạnh của ai sẽ vượt trội hơn.

ギィからすれば、興味津々になるのも無理はないのだった。

Đối với Guy, việc cảm thấy vô cùng hứng thú cũng là điều dễ hiểu.

ヴェルザードも、我が目を疑っていた。

Veruzado cũng không tin vào mắt mình.

リムルが凄いのは知っていたし、妹や弟だけでなく、自分自身でさえお世話になっていた。

Cô biết Rimuru rất giỏi, không chỉ em gái và em trai, mà ngay cả bản thân cô cũng đã được cậu giúp đỡ.

だから兄よりも、リムルにつくと決めていた。

Vì vậy, cô đã quyết định theo Rimuru thay vì anh trai mình.

しかしそれでも、勝率は低い。

Nhưng dù vậy, tỉ lệ chiến thắng vẫn rất thấp.

だから勝てないまでも、最後まで諦めずに戦って、自分達の意思を示そうと覚悟していたのだ。

Vì vậy, dù không thể thắng, cô đã quyết tâm sẽ chiến đấu đến cùng mà không từ bỏ để thể hiện ý chí của mình.

ところが、である。

Thế nhưng,

気が付けば、リムルとヴェルダナーヴァが一騎討ちする流れになっていた。

Khi nhận ra, tình thế đã trở thành một cuộc đối đầu một chọi một giữa Rimuru và Verudanava.

しかも、程よく良い勝負が成立しているという、驚きの事態になっている。

Hơn nữa, một trận đấu cân sức đáng ngạc nhiên lại đang diễn ra.

イヴァラージェを倒して合流して、全員の力を束ねて一矢報いて──という具合に考えていたのに、ヴェルザードの構想は、早くも総崩れであった。

Cô đã nghĩ rằng sẽ đánh bại Ivalage rồi hợp류, tập hợp sức mạnh của tất cả mọi người để phản công... nhưng kế hoạch của Veruzado đã sụp đổ ngay từ đầu.

しかし、その均衡はアッサリ傾く。

Thế nhưng, thế cân bằng đó lại nhanh chóng bị phá vỡ.

ヴェルダナーヴァはやはり、紛れもない〝神〟だった。

Verudanava quả nhiên là một “Thần” không thể chối cãi.

ありとあらゆる権能を無視して〝魂〟を直接奪うという、防御不可能な攻撃に転じたのだ。

Ngài đã chuyển sang một đòn tấn công không thể phòng thủ, đó là cướp đoạt trực tiếp “linh hồn” mà bỏ qua mọi quyền năng.

これは多分、〝竜種〟であるヴェルザード達でさえ、一撃で倒される。

Đòn tấn công này, có lẽ ngay cả những “Long chủng” như Veruzado cũng sẽ bị hạ gục chỉ bằng một đòn.

エネルギー量の大小とか、攻撃力や防御力の強弱とかでさえも、ありとあらゆる権能を無視して〝望んだ結果だけを得る〟ヴェルダナーヴァの御業の前には、まるで意味を成さないと思われた。

Lượng năng lượng lớn hay nhỏ, sức tấn công hay phòng thủ mạnh hay yếu, tất cả đều trở nên vô nghĩa trước phép màu của Verudanava, kẻ có thể “đạt được kết quả mong muốn” mà bỏ qua mọi quyền năng.

自我や権能が〝魂〟に宿る以上、これを奪われた時点で試合終了となる。

Một khi bản ngã và quyền năng còn trú ngụ trong “linh hồn”, thì ngay khi nó bị cướp đi, trận đấu sẽ kết thúc.

その証拠に、リムルも一度は倒されたのだ。

Bằng chứng là, Rimuru cũng đã từng bị đánh bại.

(頑張ったけど、やはり無理だったわね──)

(Đã cố gắng rồi, nhưng quả nhiên là không thể...)

と、ヴェルザードが思った瞬間だった。

Đúng lúc Veruzado nghĩ vậy.

何と、リムルが平然として起き上がったのだ。

Thật không ngờ, Rimuru lại bình thản đứng dậy.

〝魂〟もなく、自我だけで動く存在。そんなもの、ヴェルダナーヴァの設計思想から大きく逸脱していた。

Một tồn tại không có “linh hồn”, chỉ cử động bằng ý thức. Điều đó hoàn toàn đi ngược lại với ý tưởng thiết kế của Verudanava.

有り得ない──というのが、ヴェルザードの本音なのだ。

Không thể nào... đó là lòng thật của Veruzado.

そしてリムルは、ヴェルダナーヴァの相手は自分がすると言い出した。

Và rồi Rimuru nói rằng mình sẽ là đối thủ của Verudanava.

もう〝魂〟を奪われてしまった自分ならば、その攻撃が通用しないから。そういう事なのだろう。

Vì bản thân đã bị cướp đi “linh hồn”, nên đòn tấn công đó sẽ không còn tác dụng. Có lẽ là vậy.

他の者には退避するように警告した上で、接触されなければ大丈夫だとリムルは考えているようだが、その根拠が知りたいものだ──と、ヴェルザードは呆れた。

Dù đã cảnh báo những người khác nên lui lại, và Rimuru có vẻ nghĩ rằng chỉ cần không bị chạm vào là ổn, nhưng Veruzado lại cạn lời và muốn biết căn cứ cho suy nghĩ đó.

確かに、時間が停止している中で〝情報子〟に影響を及ぼすには、接触するのが一番ではあるが……。

Đúng là, trong lúc thời gian ngưng đọng, để ảnh hưởng đến “hạt thông tin” thì tiếp xúc là cách tốt nhất, nhưng...

(──いいえ。お兄様も、万能ではないという事ね。全知全能を捨てて今に至るのだから、何でもかんでも思い通りにはいかないのだわ)

(...Không. Anh trai cũng không phải là vạn năng. Vì đã từ bỏ toàn trí toàn năng để có được ngày hôm nay, nên không phải lúc nào mọi chuyện cũng diễn ra theo ý muốn).

多分、そういう事なのだろう。

Có lẽ là như vậy.

絶対に倒せないと諦めていたが、そうではないのだ。

Tôi đã từ bỏ vì nghĩ rằng không thể nào đánh bại được, nhưng không phải vậy.

その証拠に、ヴェルダナーヴァは焦っていた。

Bằng chứng là, Verudanava đã tỏ ra sốt ruột.

感情に揺らぎはないものの、リムルの不意を狙うような真似をしたのがその証拠だ。

Dù cảm xúc không hề dao động, nhưng hành động nhằm tấn công bất ngờ vào Rimuru chính là bằng chứng.

圧倒的存在である〝神〟ならば、遍く神敵を正面から打ち破るべきなのだ。そうせず、リムルの隙を狙って勝負を決しようとするあたり、ヴェルダナーヴァ自身もリムルを危険視しているのだろう。

Nếu là một “Thần” với sự tồn tại áp đảo, thì đáng lẽ phải đánh bại mọi kẻ thù của Thần một cách trực diện. Thay vì làm vậy, việc nhắm vào sơ hở của Rimuru để quyết định thắng bại cho thấy chính Verudanava cũng coi Rimuru là một mối nguy hiểm.

自分の設計思想では有り得ない存在──それは、自分の想像力が及ぶ範囲外にいるという事である。

Một tồn tại không thể có trong ý tưởng thiết kế của mình... điều đó có nghĩa là nó nằm ngoài phạm vi tưởng tượng của mình.

極大特異点(シンギュラリティ)にして規格外なリムルは、神すらも滅ぼしかねない危険性を秘めていた。

Rimuru, một Điểm kì dị Cực đại (Singularity) và là một tồn tại ngoại cỡ, ẩn chứa một mối nguy hiểm có thể hủy diệt cả Thần.

そんなリムルが、ブチ切れていた。

Rimuru đó, đã nổi điên.

ヴェルダナーヴァの不意討ちのせいで、リムルを庇った配下が負傷したのだ。

Vì đòn tấn công bất ngờ của Verudanava, thuộc hạ che chắn cho Rimuru đã bị thương.

(確か、ベニマルという名前だったかしら? リムルは温厚だけど、仲間が傷付くのを極端に嫌うのよね。自分の事だったら我慢する癖に、他人の痛みには敏感なのかしら? お兄様、貴方は今、とても大きな失敗をしたのかも知れませんね)

(Tôi nhớ không lầm là Benimaru? Rimuru thì ôn hòa, nhưng cậu ấy cực kì ghét việc đồng đội bị tổn thương. Dù có thể chịu đựng được chuyện của bản thân, nhưng lại rất nhạy cảm với nỗi đau của người khác nhỉ? Anh trai, có lẽ anh vừa phạm phải một sai lầm rất lớn đấy).

リムル自身は無事だったが、これが余計に大問題なのだ。

Bản thân Rimuru không sao, nhưng điều đó lại càng làm vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn.

ブチ切れたリムルからは、迷いも消えていた。

Rimuru nổi điên, mọi do dự cũng biến mất.

様々な感情が揺らめいていたのに、今では怒り一色になっている。

Dù trước đó có bao nhiêu cảm xúc đan xen, thì bây giờ chỉ còn lại một màu giận dữ.

やるべきこと、為すべき事が定まった感じ。

Cảm giác như việc cần làm, việc phải làm đã được xác định rõ ràng.

後はもう、審判が下るのを待つのみだ。

Phần còn lại, chỉ còn chờ đợi sự phán xét.

ヴェルザードは、結末を見届ける。

Veruzado sẽ chứng kiến đến cùng.

その為に、今出来る事は──

Vì điều đó, việc có thể làm bây giờ là...

(やれれだわ。この〝停止世界〟の中で、私の権能がどこまで通用するか不明だけれど──)

(Thật là hết cách. Trong “Thế Giới Ngưng Đọng” này, không biết quyền năng của mình sẽ có tác dụng đến đâu, nhưng...)

ヴェルザードは己の権能を最大限発揮させて、この地に集った者達の『防御』に当てた。全ての動きが停止しているからこそ、崩れないように『完全固定』を行ったのだ。

Veruzado đã phát huy tối đa quyền năng của mình và dùng nó để “Phòng ngự” cho những người tập trung ở đây. Chính vì mọi chuyển động đều đã ngưng lại, nên cô đã thực hiện “Cố định hoàn toàn” để không bị sụp đổ.

(これで、大抵の攻撃なら直撃でもしない限り無事であるはずだわ……)

(Với cái này, hầu hết các đòn tấn công, nếu không bị trúng trực diện, chắc chắn sẽ không sao đâu...)

ヴェルザードはそう期待して、守護の女神としての本領を発揮するのだった。

Veruzado mong đợi như vậy và phát huy hết khả năng của mình với tư cách là một nữ thần bảo hộ.

ミリムもまた、リムルの怒りに気付いていた。

Millim cũng đã nhận ra cơn giận của Rimuru.

いつものノリと違って、本気になったリムルは珍しい。

Khác với vẻ thường ngày, Rimuru nghiêm túc thật hiếm thấy.

(うーん……やはり、リムルを怒らせると怖いのだ!)

(Ừm... quả nhiên, chọc giận Rimuru thật đáng sợ!)

父だと言われてもピンとこないヴェルダナーヴァよりも、リムルの方が大事なミリムである。

Đối với Millim, Rimuru quan trọng hơn Verudanava, người mà dù được gọi là cha nhưng cô cũng không có cảm giác gì.

そんなリムルを怒らせたヴェルダナーヴァなど、正直に言えば自業自得以外の何物でもない。

Chọc giận một Rimuru như vậy, Verudanava, thành thật mà nói, chẳng khác nào tự chuốc lấy hậu quả.

そもそも。

Vốn dĩ.

リムルはよく怒られているが、怒る事は滅多にない。

Rimuru thường bị mắng, nhưng hiếm khi tức giận.

ヴェルドラに対しては怒りまくっているけど、それだってじゃれ合いみたいなものだ。

Đối với Verudora thì cậu ấy hay nổi cáu, nhưng đó cũng chỉ như đùa giỡn mà thôi.

ちなみに、ミリム自身も怒られる事があるのだが、ミリム脳は都合の良い事だけを記憶しているので、そんな事実は忘却の彼方だった。

Nhân tiện, bản thân Millim cũng có lúc bị mắng, nhưng bộ não của Millim chỉ ghi nhớ những điều tiện lợi cho mình, nên sự thật đó đã bị lãng quên từ lâu.

それはまあ、置いておくとして。

Thôi, chuyện đó cứ để sang một bên.

リムルが怒った事例としては、ファルムス王国との戦争。

Trường hợp Rimuru nổi giận, có thể kể đến cuộc chiến với Vương quốc Farmus.

ヴェルグリンドとの戦いの際、ヴェルドラが支配された時。

Trong trận chiến với Verugrynd, khi Verudora bị chi phối.

他にも何度かあったのだが、共通している事柄がある。

Ngoài ra còn một vài lần nữa, và chúng đều có một điểm chung.

キレたリムルは、手段を選ばなくなるのだ。

Rimuru khi nổi điên sẽ không từ thủ đoạn.

リムルは普段から、己の力を極力ひけらかさないようにしていた。

Rimuru thường cố gắng không phô trương sức mạnh của mình.

弱者には優しくして、話し合いを好む。

Đối xử tốt với kẻ yếu và thích giải quyết bằng lời nói.

逆に、暴力で物事を解決するのを嫌うのだ。

Ngược lại, cậu ghét việc giải quyết mọi chuyện bằng bạo lực.

そして戦いになったとしても、あまり全力を出したりしない。

Và dù có phải chiến đấu, cậu cũng ít khi dốc toàn lực.

その権能を十全に使いこなす事など、滅多になかった。

Việc sử dụng hết quyền năng của mình là điều hiếm khi xảy ra.

リムルが強力過ぎると判断した能力(スキル)は、自らの意思で封印していたほどだ。

Những kĩ năng mà Rimuru cho là quá mạnh, cậu thậm chí còn tự mình phong ấn chúng.

そんなリムルだが、キレたら話が違ってくる。

Nhưng Rimuru đó, một khi nổi điên thì câu chuyện sẽ khác.

理性によって封じられていた危険極まる権能の数々が、何の迷いもなく解放されるのだ。

Những quyền năng cực kì nguy hiểm đã bị lí trí phong ấn sẽ được giải phóng mà không chút do dự.

それこそ、今のリムルにどれほどの事が出来るのか、ミリムでさえも底が読めない。

Đến mức mà, ngay cả Millim cũng không thể đoán được Rimuru hiện tại có thể làm được những gì.

自分が『狂化暴走(スタンピート)』していた際の記憶は朧(おぼろ)気(げ)なのだが、リムルがそつなく対応していたのを覚えている。ミリムが傷付かないように、優しく、それでいて厳しくも的確に。

Kí ức về lúc mình đang “Cuồng Hóa Bạo Loạn (Stampede)” khá mơ hồ, nhưng cô nhớ rằng Rimuru đã đối phó một cách khéo léo. Để Millim không bị tổn thương, một cách dịu dàng, nhưng cũng nghiêm khắc và chính xác.

もしもあの時、リムルが本気だったならば……。

Nếu lúc đó, Rimuru đã nghiêm túc...

(多分、ワタシは死んでいたのだ)

(Có lẽ, ta đã chết rồi).

世界の脅威を取り除くという大義名分があれば、ミリムを滅ぼしたとしても誰からも文句は出なかっただろう。それなのにリムルは、絶対にそんな手段を取らなかった。

Nếu có danh nghĩa chính đáng là loại bỏ mối đe dọa cho thế giới, thì dù có hủy diệt Millim cũng sẽ không ai phàn nàn. Vậy mà Rimuru lại tuyệt đối không dùng đến biện pháp đó.

最後まで最善の結果を求めて、諦めないのがリムルなのだ。

Tìm kiếm kết quả tốt nhất đến cùng và không bao giờ từ bỏ, đó chính là Rimuru.

それにしても──と、ミリムは思う。

Dù vậy... Millim nghĩ.

たった数年で、どうしてそこまで強くなれたのか?

Chỉ trong vài năm, tại sao lại có thể trở nên mạnh mẽ đến vậy?

リムルがここ、基軸世界にてスライムとして誕生してから、まだ五年も経過していない。それなのに、リムルが生まれる前と後とでは、文明や都市の発達具合も含めて、世界の勢力バランスが大きく様変わりしていた。

Kể từ khi Rimuru sinh ra ở thế giới cốt lõi này với tư cách là một Slime, chưa đầy năm năm đã trôi qua. Vậy mà, trước và sau khi Rimuru ra đời, cán cân quyền lực của thế giới đã thay đổi một cách đáng kể, bao gồm cả sự phát triển của văn minh và các thành phố.

この世界では、弱肉強食が真理である。

Ở thế giới này, kẻ mạnh ăn thịt kẻ yếu là chân lí.

弱者は死ねとは思わないが、強者の理論や欲望によって右往左往するのは、ある意味当然であり仕方のない事だったのだ。

Tôi không nghĩ rằng kẻ yếu nên chết, nhưng việc bị chi phối bởi lí lẽ và ham muốn của kẻ mạnh, theo một nghĩa nào đó, là điều hiển nhiên và không thể tránh khỏi.

ところがリムルは、そんな常識に一石を投じている。

Thế nhưng Rimuru lại đang thách thức cái lẽ thường đó.

どんな者にも価値があり、誰もが社会に貢献出来るような仕組みを作り上げたいと考えて、それを実現すべく行動していたのだ。

Cậu ấy tin rằng bất kì ai cũng có giá trị, và muốn tạo ra một cơ chế mà mọi người đều có thể đóng góp cho xã hội, và cậu ấy đã hành động để hiện thực hóa điều đó.

最初は夢物語だと思っていた者達も、やがてはその理想に呑み込まれていった。

Những người ban đầu cho rằng đó là một câu chuyện viển vông, cuối cùng cũng đã bị cuốn vào lí tưởng đó.

大事なのは、棲み分けだ。

Điều quan trọng là sự phân chia.

相手の意思を尊重するのも大事だが、どうしても価値観が合わない場合は、距離を置くのも大切なのである。

Tôn trọng ý chí của đối phương là quan trọng, nhưng khi giá trị quan không thể hòa hợp, thì việc giữ khoảng cách cũng rất cần thiết.

人と魔物でも手を取り合える場合もあれば、人間同士、あるいは魔物同士であってさえ、いがみ合い、憎み合う場合もあった。

Có những lúc con người và ma vật có thể hợp tác, nhưng cũng có những lúc con người với nhau, hay ma vật với nhau lại xung đột và căm ghét.

そもそも、捕食者と被捕食者の関係性で、仲良くなどなれるはずもない。そうした場合は最初から、互いの主義主張を侵犯しないように、互いに配慮するように仕向けていた。

Vốn dĩ, trong mối quan hệ giữa kẻ săn mồi và con mồi, không thể nào có chuyện hòa thuận. Trong những trường hợp như vậy, ngay từ đầu, cậu đã hướng họ đến việc tôn trọng lẫn nhau để không xâm phạm đến chủ trương của nhau.

リムルは基本、来る者拒まずである。

Rimuru về cơ bản là không từ chối ai đến.

しかしながら、自分達に意見を押し付けられるのを嫌うのだ。

Tuy nhiên, cậu ghét việc bị người khác áp đặt ý kiến lên mình.

色々な意見や考え方があるのは多様性だと割り切っているのだが、一方が絶対的に正しいと主張されるのは違う、という考え方であった。

Cậu chấp nhận rằng có nhiều ý kiến và cách suy nghĩ khác nhau là sự đa dạng, nhưng cậu không đồng ý với việc một bên khẳng định mình là hoàn toàn đúng.

──こちらはこう考えるけど、君達は違うようだね。だったら、距離を置こうね──

...Bên này nghĩ như vậy, nhưng có vẻ các ngươi lại khác. Vậy thì, hãy giữ khoảng cách nhé...

というのが、リムルの主張である。

Đó là quan điểm của Rimuru.

ここで更に主張を続けられたら、その時は前に出るしかなくなる訳だ。

Nếu ở đây vẫn tiếp tục khăng khăng, thì lúc đó chỉ còn cách phải ra mặt.

具体的に言えば、他国から侵略された場合などである。

Cụ thể hơn, ví dụ như khi bị nước khác xâm lược.

経済的に利益を奪われるだけなら、我慢も出来よう。

Nếu chỉ bị tước đoạt lợi ích kinh tế, thì còn có thể chịu đựng được.

それが国際法(ルール)に則っているのなら、力不足を嘆きはしても、逆恨みするのは余計に惨めである。

Nếu điều đó tuân theo luật quốc tế (luật lệ), thì dù có than thở về sự thiếu năng lực của mình, việc oán hận ngược lại chỉ càng thêm thảm hại.

しかし、自国のルールを持ち出してそれを他国に押し付けようとするならば、それはもう『戦争以外に決着のしようがない』という話であった。

Tuy nhiên, nếu mang luật lệ của nước mình ra và áp đặt lên nước khác, thì đó đã là câu chuyện “không thể giải quyết bằng cách nào khác ngoài chiến tranh”.

ミリムでさえ理解出来る、至極当然の理屈である。

Ngay cả Millim cũng có thể hiểu được lí lẽ vô cùng hiển nhiên này.

まして、富を奪おうと侵略してくるような相手には、配慮するだけ無駄というもの。リムルは、その辺の割り切り具合は徹底していた。

Hơn nữa, đối với những kẻ xâm lược để cướp đoạt của cải, việc cân nhắc chỉ là vô ích. Rimuru đã rất dứt khoát trong vấn đề này.

許容範囲内なら優しいが、一線を越えた瞬間に冷徹になるのである。

Trong phạm vi cho phép thì dịu dàng, nhưng ngay khi vượt qua giới hạn thì sẽ trở nên lạnh lùng.

その時の為の力であるが、それに加えて抑止力にもなった。大切なモノを守る為には、武力が絶対に必要だという話であった。

Đó là sức mạnh dành cho những lúc như vậy, nhưng ngoài ra nó còn là một sức mạnh răn đe. Để bảo vệ những thứ quan trọng, vũ lực là điều tuyệt đối cần thiết.

リムルは自分の為ではなく、皆を守る為に力を蓄えている。

Rimuru không tích lũy sức mạnh cho bản thân, mà là để bảo vệ mọi người.

それに対して、ヴェルダナーヴァはどうだろう?

Đối với điều đó, Verudanava thì sao?

ミリムは昔を知らないが、今のヴェルダナーヴァは最悪だ。

Millim không biết về quá khứ, nhưng Verudanava hiện tại thật tồi tệ.

〝理想なき力は空虚(むなしい)〟──と、リムルがかつて口にした事があるそうだが、その言葉はまさに、今のヴェルダナーヴァの事を指し示しているようだった。

“Sức mạnh không có lí tưởng là trống rỗng”... nghe nói Rimuru đã từng nói như vậy, và những lời đó dường như đang chỉ chính xác về Verudanava hiện tại.

ミリムは、リムルが大好きだ。

Millim rất yêu quý Rimuru.

面倒見のいいベニマルの事だって、気に入っていた。

Cô cũng rất thích Benimaru, người luôn chăm sóc tốt cho mọi người.

だから今は、リムルを応援する。

Vì vậy bây giờ, cô sẽ cổ vũ cho Rimuru.

まして今回は、抗わなければ世界が滅ぶのだ。好き嫌い以前に、リムルの味方をするのが当然であった。

Hơn nữa lần này, nếu không chống lại thì thế giới sẽ bị hủy diệt. Trước cả chuyện thích hay ghét, việc đứng về phía Rimuru là điều hiển nhiên.

リムルは覚悟を決めるだろう。

Rimuru chắc chắn sẽ quyết tâm.

そして──

Và rồi...

そうなったらもう、リムル自身では止められないかも知れない。

Nếu đã đến nước đó, có lẽ chính Rimuru cũng không thể dừng lại được.

ラミリスの出現で多少は理性を取り戻したようだが、ベニマルが危篤のままなので予断を許さぬ状況なのだ。

Sự xuất hiện của Lamrys có vẻ đã giúp cậu ấy lấy lại được phần nào lí trí, nhưng Benimaru vẫn đang trong tình trạng nguy kịch, nên tình hình không thể lường trước được.

だからミリムも、密やかに覚悟を決める。

Vì vậy Millim cũng âm thầm quyết tâm.

もしも、リムルが怒りのままに暴走するようならば──その時は、ミリムが止める番なのだ、と。

Nếu như Rimuru bạo loạn theo cơn giận... thì lúc đó, sẽ đến lượt Millim ngăn cậu lại.

(頑張るのだ、リムル!!)

(Cố lên nhé, Rimuru!!)

ミリムは皆で笑える世界が続く事を願って、リムルの勝利を祈るのだった。

Millim cầu nguyện cho chiến thắng của Rimuru, mong rằng một thế giới mà mọi người đều có thể mỉm cười sẽ tiếp tục.

クロエは、もはや自分に出来る事は何もない、と悟っていた。

Chloe đã nhận ra rằng mình không còn có thể làm được gì nữa.

時間が止まっている以上、裏技的権能である『時間跳躍(タイムリープ)』も発動しない。未来の記憶を思い出せないのだから、この先の出来事は未知数なのだ。

Một khi thời gian đã ngưng đọng, quyền năng gian lận như “Bước Nhảy Thời Gian (Time Leap)” cũng không thể kích hoạt. Vì không thể nhớ lại kí ức tương lai, nên những sự kiện sắp tới là điều không thể biết trước.

それが普通なのだが、通常の戦闘では何一つとして通用しないだろう。先の戦闘を通じて、クロエはそれを痛感していた。

Đó là điều bình thường, nhưng trong một trận chiến thông thường thì sẽ không có tác dụng gì. Qua trận chiến vừa rồi, Chloe đã thấm thía điều đó.

後はもう、リムルの地力にかかっているのだ。

Phần còn lại, chỉ còn trông cậy vào thực lực của Rimuru.

それにしても──と、クロエは思案する。

Dù vậy... Chloe suy nghĩ.

人の本質とは、〝魂〟の在り様に示されると思っていた。

Cô đã nghĩ rằng bản chất của con người được thể hiện qua cách tồn tại của “linh hồn”.

それなのに、リムルはどうだ?

Vậy mà, Rimuru thì sao?

明らかに〝魂〟が消失しているというのに、平然と活動している。

Rõ ràng là “linh hồn” đã biến mất, vậy mà cậu vẫn hoạt động một cách bình thản.

とても異常だった。

Rất bất thường.

その強い意志が、煌めくように輝いて視える。

Ý chí mạnh mẽ đó tỏa sáng lấp lánh trong mắt cô.

その光に、クロエは魅(ひ)かれた。

Chloe bị cuốn hút bởi ánh sáng đó.

絶望しかないハズのこの状況で、不思議と不安が消えていくようだった。

Trong tình huống đáng lẽ chỉ có tuyệt vọng này, nỗi lo lắng của cô lại kì lạ biến mất.

クロエが繰り返した、数多の悲劇。それらを乗り越えた集大成が、今だった。

Vô số bi kịch mà Chloe đã lặp lại. Thành quả của việc vượt qua tất cả những điều đó chính là hiện tại.

この先はまるで見通せないが、ここまで来たのだ。

Tương lai phía trước hoàn toàn không thể đoán trước, nhưng cô đã đi đến được đây.

止まった時からは、過去にも戻れない。

Từ thời điểm ngưng đọng, không thể quay trở lại quá khứ.

リムルが負ければ、全てが終わるのだ。

Nếu Rimuru thua, tất cả sẽ kết thúc.

(でも……リムルさんなら、何とかしてくれる気がする)

(Nhưng... nếu là Rimuru-san, tôi có cảm giác cậu ấy sẽ làm được gì đó).

それは、確信だった。

Đó là một sự tin chắc.

何度も何度も繰り返し、リムルが消えて滅びる未来を視てきた。そんなクロエだが、リムルが明確に死んだ光景は、一度も視た事がないのである。

Đã lặp đi lặp lại không biết bao nhiêu lần, chứng kiến tương lai Rimuru biến mất và bị hủy diệt. Dù vậy, Chloe chưa từng một lần nhìn thấy cảnh tượng Rimuru chết một cách rõ ràng.

死んだと思われた未来であっても、その先で助けられた経験まであったのだ。

Ngay cả trong tương lai tưởng chừng như đã chết, cô còn có kinh nghiệm được cứu giúp sau đó.

つまり、リムルが死んだというのは、クロエの思い込みに過ぎなかった訳である。

Nói cách khác, việc Rimuru đã chết chỉ là suy nghĩ chủ quan của Chloe mà thôi.

〝魂〟もないのに、意思だけで存在する者──これが許されるのなら、全ての観測結果が覆る。

Một tồn tại không có “linh hồn”, chỉ tồn tại bằng ý chí... nếu điều này được phép, thì tất cả các kết quả quan sát sẽ bị đảo lộn.

であれば、数多の未来でも同じように……。

Nếu vậy, trong vô số tương lai cũng sẽ như vậy...

今の局面が、この世界の終焉になるのかも知れない。

Tình thế hiện tại có thể sẽ là sự kết thúc của thế giới này.

しかし、だ。

Thế nhưng,

また時が動き出し、その先へ至れる道も残されていた。

Thời gian lại bắt đầu trôi, và con đường dẫn đến tương lai vẫn còn đó.

リムルが放つ、強烈な光。それは、まだ未来を諦めていないという、強い意思がある証明だった。

Ánh sáng mãnh liệt mà Rimuru tỏa ra. Đó là minh chứng cho một ý chí mạnh mẽ rằng cậu vẫn chưa từ bỏ tương lai.

クロエがリムルを信じるに足る、十分な理由なのだ。

Đó là lí do đủ để Chloe tin tưởng vào Rimuru.

リムルは必ず勝つ。

Rimuru chắc chắn sẽ thắng.

そしてその先に、輝ける未来があった。

Và sau đó, sẽ là một tương lai rực rỡ.

クロエはそう信じて、リムルの勝利を待ち望むのだった。

Chloe tin như vậy và mong chờ chiến thắng của Rimuru.

ラミリスもまた、この目まぐるしい状況に翻弄されていた。

Lamrys cũng đang bị cuốn theo tình hình chóng mặt này.

そもそもラミリスは、迷宮で安穏としながら、皆の勝利を祈るつもりだった。

Vốn dĩ, Lamrys đã định sẽ yên ổn ở trong mê cung và cầu nguyện cho chiến thắng của mọi người.

自分に出来るのは、迷宮の管理運営だけだと思っていたからだ。

Bởi vì cô nghĩ rằng mình chỉ có thể quản lí và vận hành mê cung thôi.

そもそもラミリスは、自分が〝停止世界〟でも活動出来るのを知らなかった。

Vốn dĩ, Lamrys không hề biết rằng mình có thể hoạt động ngay cả trong “Thế Giới Ngưng Đọng”.

なんだかみんな動かないな〜などと思う事もあったのだが、たまにある現象なので、そんなものだと割り切っていたのだ。

Thỉnh thoảng cô cũng nghĩ rằng “Sao mọi người không cử động gì cả nhỉ~”, nhưng vì đó là hiện tượng thỉnh thoảng xảy ra, nên cô đã chấp nhận nó như vậy.

ところが今回、目覚めたゼギオンがやって来た。

Thế nhưng lần này, Zegion đã tỉnh dậy và đến đây.

というか、大音声の『思念伝達』が発せられたので、『ちょっと、ゼギオンちゃん? もの凄く五月蠅(うるさ)いんですけど!?』と文句を言った訳だ。これによって動けるのが判明し、ゼギオンに伴われてこの場までやって来た、という事である。

Hay đúng hơn, vì một “Truyền Đạt Tư Niệm” với âm lượng lớn được phát ra, nên cô đã phàn nàn rằng “Này, Zegion-chan? Ồn ào quá đấy!?”. Nhờ vậy mà cô biết mình có thể cử động, và đã đi cùng Zegion đến đây.

迷宮が心配だったが、『御安心を。止まった時間の中では、出来る事など何もない。それよりも、貴女にも何か役立てる事があるはずだ』とゼギオンに諭された。それもそうだと納得して、ラミリスはゼギオンに従ったのだ。

Dù lo lắng cho mê cung, nhưng cô đã được Zegion khuyên rằng “Xin hãy yên tâm. Trong thời gian ngưng đọng, không thể làm được gì cả. Hơn nữa, chắc chắn sẽ có việc gì đó mà ngài có thể giúp được”. Cảm thấy điều đó cũng đúng, Lamrys đã đi theo Zegion.

止まった時間の中で『空間転移』するなど、ゼギオンも相当ヤバい──と、ラミリスは戦慄していた。しかし、本当の戦慄はこの後すぐに訪れる。

Di chuyển bằng “Dịch Chuyển Không Gian” trong lúc thời gian ngưng đọng, Zegion cũng thật đáng sợ... Lamrys đã rùng mình kinh hãi. Nhưng nỗi kinh hoàng thực sự sẽ đến ngay sau đó.

リムルの気配を辿ったようだが、目的地に到着して驚いた。

Có vẻ như họ đã lần theo khí tức của Rimuru, nhưng khi đến nơi thì lại rất ngạc nhiên.

いくつもの意味で。

Theo nhiều nghĩa.

まず、ヴェルダナーヴァがリムルに剣を投げようとしていたのを見て、咄嗟に叫んだ。

Đầu tiên, thấy Verudanava định ném kiếm vào Rimuru, cô đã hét lên ngay lập tức.

『ちょっと待つのよさ!!』

“Chờ một chút đã!!”

恰好良く決まったのだが、その反応はそこまで芳しくない。

Dù đã ra dáng ngầu, nhưng phản ứng của mọi người lại không mấy tốt đẹp.

何でいるの?

Tại sao lại ở đây?

というか、お前って〝停止世界〟でも動けたのね。

Hay đúng hơn là, ngươi cũng có thể cử động trong “Thế Giới Ngưng Đọng” à.

的なもので、『ラミリス凄い!』が一つもなかったのだ。

Đại loại như vậy, không có một ai nói “Lamrys thật tuyệt vời!”.

これにはショックだったものの、それは『今後のアタシの活躍を見て、驚愕するがいいのよさ!』と納得した。

Dù sốc, nhưng cô đã tự nhủ rằng “Cứ chờ xem những hành động của ta sau này mà kinh ngạc đi!”.

つづいてリムルに目を向けると、次なる驚愕がやって来る。

Tiếp theo, khi nhìn sang Rimuru, một sự kinh ngạc khác lại ập đến.

(リムルってば、どうして生きてるの?)

(Rimuru, tại sao cậu lại còn sống?)

これだ。

Chính nó.

〝魂〟がないのに、平然としている。しかも、死にかけて手の施しようがないようなベニマルに対して、異次元の治癒術を駆使して復活させようとしていた。

Không có “linh hồn” mà vẫn bình thản. Hơn nữa, đối với Benimaru đang hấp hối không có cách nào cứu chữa, cậu lại đang cố gắng hồi sinh cậu ta bằng một thuật trị liệu dị次元.

ゼギオンもおかしいけど、その飼い主はもっとぶっ飛んでいた訳だ。

Zegion cũng lạ, nhưng chủ nhân của cậu ta còn điên rồ hơn.

(でもまあ、リムルだし?)

(Nhưng mà, là Rimuru mà?)

と、ここで自分を納得させられるのが、リムルとも長い付き合いのあるラミリスだった。

Đến đây, người có thể tự thuyết phục mình chính là Lamrys, người đã quen biết Rimuru từ lâu.

それからラミリスは、状況把握に努めた。

Sau đó, Lamrys cố gắng nắm bắt tình hình.

そうすると、色々と見えてくる。

Và rồi, nhiều thứ đã trở nên rõ ràng hơn.

一番大事なのは、ヴェルダナーヴァがいた事だ。

Điều quan trọng nhất là sự có mặt của Verudanava.

(あれれれ? 本当に、ちょっと待つのよさ!?)

(Ể ể ể? Thật sự, chờ một chút đã!?)

ラミリスは混乱した。

Lamrys bối rối.

リムルにも驚かされたが、ヴェルダナーヴァが復活しているなど聞いていない。

Cô đã bị Rimuru làm cho ngạc nhiên, nhưng việc Verudanava hồi sinh thì cô chưa từng nghe qua.

どういう事なの? と、誰かに事情を説明してもらいたいラミリスである。

Chuyện gì vậy? Lamrys mong có ai đó giải thích cho mình.

しかし今は、そんな悠長な事を言っている場合ではなかった。

Nhưng bây giờ không phải lúc để nói những chuyện nhàn rỗi như vậy.

流石のラミリスも、空気くらいは読めるのだ。

Ngay cả Lamrys cũng có thể đọc được tình hình.

そんな訳で、ラミリスはヴェルダナーヴァを観察する。

Vì vậy, Lamrys quan sát Verudanava.

何度か生まれ変わりを繰り返しているラミリスだが、成長速度はマチマチだ。数十年で成体になる事もあれば、数百年経っても子供のまま、という事もある。

Lamrys đã tái sinh nhiều lần, nhưng tốc độ trưởng thành lại không đồng đều. Có khi chỉ mất vài chục năm để trưởng thành, nhưng cũng có khi hàng trăm năm trôi qua mà vẫn là một đứa trẻ.

今回は子供状態が長いのだが、記憶の継承はされていた。

Lần này, dù ở trạng thái trẻ con khá lâu, nhưng kí ức vẫn được kế thừa.

それは大事な思い出であったり、ありふれた日常であったり、重要度に関係なくラミリスの意思でどうこうなる話でもない。

Đó có thể là những kỉ niệm quan trọng, hoặc những ngày bình thường, không liên quan đến mức độ quan trọng, và cũng không phải là chuyện mà ý chí của Lamrys có thể thay đổi.

記憶があっても、ただの知識に過ぎないようなものもある。

Dù có kí ức, nhưng cũng có những thứ chỉ đơn thuần là kiến thức.

ヴェルダナーヴァについては、そんな感じで他人事のような内容しか覚えていなかった。

Về Verudanava, cô chỉ nhớ được những nội dung như chuyện của người khác.

漠然とした人柄や、存在感だ。

Tính cách mơ hồ, và sự hiện diện.

温かくて、面白くて、好奇心の塊で、たまに怖くて、それなのに寂しがりやで……。

Ấm áp, thú vị, là một khối tò mò, đôi khi đáng sợ, nhưng lại cô đơn...

(あれ? こんな感じだったっけ……?)

(Hử? Có phải như thế này không nhỉ...?)

今のヴェルダナーヴァは、ラミリスの記憶にある姿とは大きくかけ離れていた。

Verudanava hiện tại khác xa so với hình ảnh trong kí ức của Lamrys.

〝魂〟の色や形状などわからないラミリスからすれば、そこの違いは判断材料にならない。それ以外の面だけで判断して、真贋を見抜くしかない訳だ。

Đối với Lamrys, người không thể biết được màu sắc hay hình dạng của “linh hồn”, sự khác biệt đó không thể dùng làm căn cứ phán đoán. Cô chỉ có thể phán đoán dựa trên những khía cạnh khác để phân biệt thật giả.

そんなラミリスだからこそ、気付いた。

Chính vì là Lamrys như vậy, nên cô đã nhận ra.

全ての要素がヴェルダナーヴァ本人なのだが、何かが欠けている、と。

Tất cả các yếu tố đều là của chính Verudanava, nhưng có gì đó đang thiếu sót.

見た目は記憶通り。

Vẻ ngoài giống hệt trong kí ức.

しかし、その他の人格面で大きく違っていた。

Nhưng, những khía cạnh khác về nhân cách lại khác biệt rất lớn.

(ちょっと、ちょっと!? 妻だったルシアちゃんを殺されて、人間に恨みをもったにしても、変わり過ぎなんじゃないの?)

(Này, này!? Dù có căm hận con người vì đã giết vợ mình là Lucia-chan, nhưng thay đổi nhiều quá rồi đấy!)

荒んでいるというよりも、全てを諦めて割り切っている。

Thay vì nói là sa đọa, thì đúng hơn là đã từ bỏ tất cả và chấp nhận.

ヴェルダナーヴァの様子は、熱中していた遊びに飽きたような、そんな醒めた感じに見えた。

Bộ dạng của Verudanava trông giống như một đứa trẻ đã chán trò chơi mà mình từng say mê, một cảm giác lạnh lùng.

本人なのは間違いなさそうだが、その変わり果てた姿に悲しくなるラミリスである。

Chắc chắn là chính ngài rồi, nhưng hình ảnh thay đổi đến mức này khiến Lamrys cảm thấy buồn.

(アンタはさ、もっと熱くて、諦める事を知らないヤツだったじゃん……)

(Ngươi ấy, là một kẻ nhiệt huyết hơn, không biết từ bỏ mà...)

それこそ、今のリムルのように。

Giống hệt như Rimuru hiện tại.

(──って、あれ? あれれれれ?)

(...Hử? Ể ể ể ể?)

ラミリスは、リムルとヴェルダナーヴァを見比べた。

Lamrys so sánh Rimuru và Verudanava.

そして、似てる、と思った。

Và, cô nghĩ họ giống nhau.

色々と違うし、完全に別人なのだが、今のリムルから懐かしい気配がした。

Dù có nhiều điểm khác biệt và hoàn toàn là hai người khác nhau, nhưng cô lại cảm nhận được một khí tức quen thuộc từ Rimuru hiện tại.

今のヴェルダナーヴァが失った何かを、リムルから感じ取ったのだ。

Cô đã cảm nhận được điều gì đó mà Verudanava hiện tại đã đánh mất từ Rimuru.

もしかして、リムルって……。

Chẳng lẽ, Rimuru...

それは、単なる憶測に過ぎない。

Đó chỉ là một phỏng đoán.

しかしラミリスは、その疑惑に囚われてしまった。

Thế nhưng Lamrys đã bị ám ảnh bởi sự nghi ngờ đó.

そういう目で見ると、そうとしか思えなくなるから困ったものだ。

Khi nhìn bằng con mắt đó, thì chỉ có thể nghĩ như vậy, thật là phiền phức.

リムルはゼギオンに命じて、意識のないベニマルを守らせるようだ。

Có vẻ như Rimuru đã ra lệnh cho Zegion bảo vệ Benimaru đang bất tỉnh.

かなり無茶な真似をしていたが、それでもベニマルは危篤状態のままだった。

Dù đã làm những việc khá liều lĩnh, nhưng Benimaru vẫn trong tình trạng nguy kịch.

意識さえ目覚めれば何とかなりそうだが、今は時間停止中である。重篤な怪我で気絶してしまっているので、致命的な箇所──心臓となる〝魔核〟を治癒する力が働いていない様子だった。

Nếu chỉ cần tỉnh lại thì có lẽ sẽ ổn, nhưng bây giờ thời gian đang ngưng đọng. Vì đã ngất đi do vết thương nặng, nên sức mạnh chữa trị ở những chỗ chí mạng... như “Ma hạch” là trái tim, dường như không hoạt động.

でも、ラミリスなら何とか出来そうだった。

Nhưng nếu là Lamrys thì có lẽ sẽ làm được gì đó.

ルミナスでさえ、時間が停止している状態では〈神聖魔法〉を行使出来ない。しかしラミリスならば、どんな状態でも関係なく魔法が使えてしまうのである。

Ngay cả Luminous cũng không thể sử dụng “Ma Pháp Thần Thánh” khi thời gian ngưng đọng. Nhưng nếu là Lamrys, thì dù trong tình trạng nào cô cũng có thể sử dụng ma pháp.

もっとも、それは小さな奇跡でしかなく、大きな力を行使するのは不可能だった。

Tuy nhiên, đó chỉ là một phép màu nhỏ, và việc sử dụng sức mạnh lớn là không thể.

それこそ、ベニマルを助けようと思うならば──

Đúng vậy, nếu muốn cứu Benimaru...

(いや、もしかしてリムルから力を借りられるなら──?)

(Không, chẳng lẽ nếu có thể mượn sức mạnh từ Rimuru thì...)

ベニマルのエネルギーは安定しており、いつ目覚めても不思議ではない状態だった。それどころか、少し前に出撃した際に比べても、大きく力を増しているように見えた。

Năng lượng của Benimaru đã ổn định, và cậu có thể tỉnh lại bất cứ lúc nào. Không chỉ vậy, so với lúc xuất trận cách đây không lâu, sức mạnh của cậu dường như đã tăng lên đáng kể.

言葉を濁さずに言えば、進化と呼べるレベルなのだ。

Nói thẳng ra thì đó là cấp độ có thể gọi là tiến hóa.

これで〝魔核〟さえ動けば、目覚める可能性は十分にあったのである。

Nếu “Ma hạch” hoạt động, thì khả năng tỉnh lại là rất lớn.

アタシの出番なのよさ! と、ラミリスは思った。

Đến lượt mình rồi! Lamrys nghĩ.

そこで、ダメ元と思いながらリムルに提案したのだ。

Vì vậy, cô đã đề nghị với Rimuru dù biết có thể sẽ thất bại.

結果は、応諾。そのお陰でラミリスは、五十年ぶりに成長した姿を披露している、という訳だった。

Kết quả là đồng ý. Nhờ đó, Lamrys đã thể hiện hình dáng trưởng thành của mình sau năm mươi năm.

それもまたリムルの異常性を証明しているのだが、ラミリスは悩まない。

Điều đó cũng chứng minh cho sự bất thường của Rimuru, nhưng Lamrys không hề bận tâm.

(まあさ、考えてみれば当然よね。だって、リムルだもん!)

(Mà thôi, nghĩ lại thì cũng phải thôi. Vì đó là Rimuru mà!)

リムルだもん──で納得出来てしまうあたり、ラミリスもいい加減なものである。

“Vì là Rimuru mà”... có thể chấp nhận được như vậy, Lamrys cũng thật là tùy tiện.

先ずは約束通り、ベニマルを助けるのが先決だった。

Trước hết, theo lời hứa, việc cứu Benimaru là ưu tiên hàng đầu.

行使するのは、原初の魔法(プリミティブマジック)だ。

Thứ được sử dụng là Ma Pháp Nguyên Sơ (Primitive Magic).

願うだけで奇跡を起こすという、法則の通用しない世界でも効果が発揮される至高の力だった。

Đó là một sức mạnh tối cao có thể tạo ra phép màu chỉ bằng cách cầu nguyện, và nó có hiệu quả ngay cả trong một thế giới không tuân theo quy luật.

原初の魔法(プリミティブマジック)ならば、治癒も思いのまま。ベニマルの肉体は、ラミリスの癒しに包まれて再起動したのである。

Nếu là Ma Pháp Nguyên Sơ (Primitive Magic), thì việc chữa trị cũng có thể thực hiện theo ý muốn. Cơ thể của Benimaru đã được bao bọc bởi sự chữa lành của Lamrys và đã khởi động lại.

(良かった! ベニマルちゃんの心臓が動き出したのよさ!!)

(Tốt quá! Tim của Benimaru-chan đã đập trở lại rồi!!)

ラミリスが、そう安堵する。

Lamrys thở phào nhẹ nhõm.

ベニマルの〝魔核〟が稼働し始めて、身体中のエネルギーバランスを調整した。状態は安定していたので、これでもう目覚めるのを待つだけであった。

“Ma hạch” của Benimaru đã bắt đầu hoạt động và điều chỉnh lại cân bằng năng lượng trong cơ thể. Tình trạng đã ổn định, nên giờ chỉ còn chờ cậu ta tỉnh lại.

これでリムルとの約束通り、ラミリスは義務を果たしたも同然であった。

Như vậy, theo lời hứa với Rimuru, Lamrys coi như đã hoàn thành nghĩa vụ của mình.

それにしても、だ。

Dù vậy,

心に余裕が生じたラミリスは、リムルとヴェルダナーヴァの戦いに目を向けつつ思案する。

Lamrys, với tâm trạng thoải mái hơn, vừa nhìn vào trận chiến giữa Rimuru và Verudanava vừa suy ngẫm.

果たしてこの戦いに、意味はあるのだろうか?

Liệu trận chiến này có ý nghĩa gì không?

ラミリスは、そう疑問に思うのだ。

Lamrys tự hỏi như vậy.

もしも自分の推測が正しければ、二人が戦う必要はないのではないか、と。

Nếu phỏng đoán của mình là đúng, thì có lẽ hai người họ không cần phải chiến đấu.

答えは、出ない。

Câu trả lời, không có.

残念な事に──決着の先でしか、正解は分からないのだ。

Thật không may... chỉ có thể biết được câu trả lời đúng sau khi trận đấu kết thúc.

(そうよね。リムルならば、きっと──)

(Đúng vậy. Nếu là Rimuru, thì chắc chắn...)

正しい答えを教えてくれるはずだと、ラミリスは信じた。

Lamrys tin rằng cậu sẽ cho cô câu trả lời đúng.

ラミリスはベニマルの治療を終えるなり、大人しくリムルの勝利を祈る事にしたのである。

Sau khi chữa trị cho Benimaru xong, Lamrys quyết định im lặng cầu nguyện cho chiến thắng của Rimuru.

剣が交差する度に、俺の腕に衝撃が走った。

Mỗi khi kiếm giao nhau, một cú sốc lại chạy dọc cánh tay tôi.

耐えられないほどではないが、それにも限度がある。回復手段を持ち合わせていなければ、あっと言う間に両腕がダメになっていただろう。

Không đến mức không thể chịu nổi, nhưng nó cũng có giới hạn. Nếu không có phương pháp hồi phục, chắc chắn hai cánh tay của tôi đã hỏng từ lâu.

しかし、俺はスライムなのだ。

Nhưng, tôi là một Slime.

全身の細胞を自在に入れ替えられるので、疲労した細胞を癒しつつ継続戦闘が可能であった。この手法だと魔力も必要としないので、シエルさんのいない俺としては実に頼れる戦法なのである。

Vì có thể tự do thay đổi các tế bào trong toàn bộ cơ thể, nên tôi có thể vừa chữa lành các tế bào mệt mỏi vừa tiếp tục chiến đấu. Phương pháp này không cần đến ma lực, nên đối với một tôi không có Ciel-san, đây là một chiến thuật vô cùng đáng tin cậy.

それにしても、対峙して改めて思ったが、ヴェルダナーヴァは強かった。

Dù vậy, khi đối mặt một lần nữa, tôi lại nghĩ rằng Verudanava thật mạnh.

隙など皆無で、ずっと剣を交えていられるのが不思議なほどである。これも修行を欠かさなかったお陰だなと、少しだけ自信が湧いてきた。

Không hề có sơ hở, việc có thể liên tục giao kiếm thật kì lạ. Có lẽ là nhờ không ngừng luyện tập, tôi cảm thấy tự tin hơn một chút.

それでも何かが足りないと思っていたが、ふと気付く。

Dù vậy tôi vẫn cảm thấy thiếu thiếu gì đó, rồi chợt nhận ra.

それは、身長差だった。今の俺は平均的な女子高校生くらいの背格好になっているのだが、ヴェルダナーヴァは普通に高身長だ。少なくとも百八十センチを超えているので、百六十センチ弱くらいの俺と比べたら、手足の長さが大きく違うのである。

Đó là sự chênh lệch chiều cao. Tôi hiện tại có vóc dáng như một nữ sinh trung học bình thường, còn Verudanava thì lại rất cao. Ít nhất cũng phải trên một mét tám, nên so với tôi chỉ cao gần một mét sáu, thì chiều dài tay chân khác biệt rất lớn.

まあ、柔道とか他の格闘技と違って、剣術での身長差はそこまで重要視しなくてもいい。それでも俺としては、条件を揃えるべきだと考えた。

Mà, khác với Judo hay các môn võ khác, sự chênh lệch chiều cao trong kiếm thuật không quá quan trọng. Dù vậy, tôi nghĩ nên tạo ra những điều kiện tương đồng.

頼みの綱だったシエルさんがいない今、俺は一人で強大な敵に挑まねばならない。可能な限り自分がやりやすいように、条件くらい整えるべきだった。

Không còn Ciel-san, người mà tôi luôn trông cậy, bây giờ tôi phải một mình đối mặt với kẻ thù hùng mạnh. Tôi nên tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất có thể cho bản thân.

せっかくなので、もっと俺らしい肉体が望ましい。スライムとしてのリムルよりも慣れ親しんだ姿になって、最後の戦いに挑む事にしたのである。

Nhân cơ hội này, tôi muốn có một cơ thể giống mình hơn. Tôi quyết định sẽ chiến đấu trận cuối cùng với một hình dáng quen thuộc hơn là Rimuru dạng Slime.

シエルさんになってからは却下され続けていたが、俺は男型にも変身出来るのだ。

Từ khi có Ciel-san, tôi liên tục bị từ chối, nhưng tôi cũng có thể biến thành dạng nam.

昔、まだシエルさんが『大賢者』だった頃、転生前の自分を模したサトルに変身した事があった。あの姿の方が、今の状況に適している気がしたのである。

Ngày xưa, khi Ciel-san vẫn còn là “Đại Hiền Giả”, tôi đã từng biến thành Satoru, mô phỏng lại bản thân trước khi chuyển sinh. Tôi có cảm giác rằng hình dạng đó thích hợp hơn với tình hình hiện tại.

そして俺は、変身出来るか試してみた。

Và rồi tôi thử xem có thể biến hình được không.

すると、意外と簡単に成功して、俺は短髪長身のナイスガイに変化していた。

Thật bất ngờ, việc đó thành công một cách dễ dàng, và tôi đã biến thành một chàng trai cao ráo, tóc ngắn, trông rất bảnh.

権能は使えなくても、変身能力はスライム固有だからかも。〝案ずるより産むがやすし〟と言うが、試してみて正解だったようだ。

Có lẽ là vì dù không thể sử dụng quyền năng, nhưng khả năng biến hình là kĩ năng固有 của Slime. Người ta thường nói “lo bò trắng răng”, có vẻ như thử làm mới là đúng đắn.

『──?』

“...?”

ヴェルダナーヴァが、不審そうに俺を見た。

Verudanava nhìn tôi với vẻ nghi ngờ.

なので、教えてやる。

Vì vậy, tôi sẽ cho ngài biết.

『気にするなよ。この姿の方が戦いやすそうってだけさ』

“Đừng bận tâm. Chỉ là hình dạng này có vẻ dễ chiến đấu hơn thôi”.

準備も終わったので、俺はヴェルダナーヴァへと斬りかかった。

Chuẩn bị xong, tôi lao vào tấn công Verudanava.

今までと同じように難なく受け止められたが、先程までより戦いやすく感じた。

Dù bị đỡ đòn một cách dễ dàng như trước, nhưng tôi cảm thấy chiến đấu dễ dàng hơn.

それが気のせいだったとしても、俺にとっては正解なのだ。

Dù đó chỉ là ảo giác, thì đối với tôi đó vẫn là lựa chọn đúng đắn.

果たして俺は、コイツ──〝神〟に勝てるのだろうか?

Liệu tôi có thể thắng được kẻ này... một “Thần” không?

全ての権能を司る存在が相手なのに、今のところは俺の力も通用している。

Đối thủ là một tồn tại cai quản mọi quyền năng, vậy mà sức mạnh của tôi vẫn có tác dụng.

それ故か、不思議と恐怖は感じていなかった。

Có lẽ vì vậy, tôi lại không hề cảm thấy sợ hãi.

それどころか、思考も冴え渡っている。

Không chỉ vậy, suy nghĩ của tôi còn trở nên sắc bén hơn.

ベニマルを傷つけられた怒りや、世界を滅ぼそうとする理不尽への腹立ち、そうした諸々の感情がないまぜとなって、逆に冷静になっているのだ。

Sự tức giận vì Benimaru bị tổn thương, sự phẫn nộ trước sự vô lí muốn hủy diệt thế giới, tất cả những cảm xúc đó hòa quyện vào nhau, ngược lại khiến tôi trở nên bình tĩnh hơn.

コイツは敵だと割り切ってしまえば、見方も変わってくる。

Nếu đã xác định đây là kẻ thù, thì cách nhìn nhận cũng sẽ thay đổi.

元凶であるヴェルダナーヴァを倒すだけで、全ての問題が解決するのだ、と。

Chỉ cần đánh bại Verudanava, kẻ đầu sỏ, là mọi vấn đề sẽ được giải quyết.

そう考えるならば、これは千載一遇のチャンスであった。

Nếu nghĩ như vậy, thì đây là một cơ hội ngàn năm có một.

要は、勝てばいいのだ。

Tóm lại, chỉ cần thắng là được.

シエルさんが俺の強さを保証してくれたのだから、その言葉を信じて突き進むのが正解なのである。

Ciel-san đã đảm bảo sức mạnh của tôi, nên tin vào lời cô ấy và tiến lên chính là lựa chọn đúng đắn.

今までそうだったように、これからもずっと。

Giống như từ trước đến nay, và cả sau này nữa.

悩むのは、後回しだった。

Việc do dự, cứ để sau.

『お前を倒してから、最後にもう一度だけ聞いてやるよ。大人しく考えを改める気はないか、ってな』

“Sau khi đánh bại ngươi, ta sẽ hỏi lại một lần cuối cùng. Liệu ngươi có chịu ngoan ngoãn thay đổi suy nghĩ không”.

戦いとは、始めるより終わらせる方が難しい。

Chiến đấu, việc kết thúc còn khó hơn là bắt đầu.

だからいつも慎重な対応を心掛けていたのだが、そうした配慮はもう終わりだ。

Vì vậy tôi luôn cẩn trọng trong cách ứng xử, nhưng sự cân nhắc đó đã kết thúc.

だから俺は、お前を倒すと宣言した訳だ。

Vì vậy tôi đã tuyên bố sẽ đánh bại ngươi.

これを受けて、ヴェルダナーヴァが失笑した。

Nghe vậy, Verudanava bật cười.

『自動人形如きが、大言壮語するものだね。その傲慢さは、元の人格に由来するのかな?』

“Một con rối tự động mà lại nói những lời ngông cuồng nhỉ. Sự ngạo mạn đó có phải xuất phát từ nhân cách gốc không?”

『違うね。元の人格とか関係なく、俺は俺さ』

“Không phải. Không liên quan gì đến nhân cách gốc cả, ta là ta”.

そもそも、俺の場合は『別(べつ)身(しん)体(たい)』とか扱えなかったしな。その場にいれば、人格の復元も可能だったんだけど、ヴェルグリンドのような器用な運用は不可能だった。

Vốn dĩ, trường hợp của tôi không thể sử dụng “Cơ thể khác” được. Nếu có mặt ở đó, việc phục hồi nhân cách cũng có thể thực hiện được, nhưng không thể vận dụng một cách khéo léo như Verugrynd.

人格の複製という点で、どうしても無理だったのだ。

Về mặt sao chép nhân cách, tôi thực sự không thể làm được.

権能的には使えて当然なので、俺の意識に問題があるんだろうと思う。でもまあ、逆に言えば自我の複製すら出来ないという事で、それこそが今の俺も本物であるという証明になるだろう。

Về mặt quyền năng thì lẽ ra phải dùng được, nên tôi nghĩ vấn đề nằm ở ý thức của mình. Nhưng mà, ngược lại, việc ngay cả sao chép bản ngã cũng không làm được, đó có lẽ chính là bằng chứng cho thấy tôi hiện tại cũng là hàng thật.

こじつけだけど、俺が納得しているのだから問題ないのだ。

Dù là ngụy biện, nhưng vì tôi đã chấp nhận nên không có vấn đề gì.

『やれれ』

“Thật là hết cách”.

『それは俺が言いたいよ!』

“Đó là điều tôi muốn nói đấy!”

ヴェルダナーヴァが無造作に放った剣撃を、俺も軽く受け止める。

Tôi cũng nhẹ nhàng đỡ lấy nhát kiếm mà Verudanava tung ra một cách tùy tiện.

ph_slime23_ill007.jpg

交差する剣を伝わって『魂魄破壊』の干渉波が流れ込んできた。しかし、俺には影響ない。

Sóng can thiệp của “Phá Hủy Hồn Phách” truyền qua những thanh kiếm giao nhau. Nhưng, nó không ảnh hưởng đến tôi.

『──!?』

“...!?”

『〝魂〟のない自動人形なんだろ? 効くかよ、そんな攻撃(もん)!』

“Là con rối tự động không có “linh hồn” mà, phải không? Đòn tấn công như vậy mà đòi có tác dụng à!”

コイツ、散々自分で言っておいて、俺が〝魂〟のない自動人形なのかどうか疑わしくなってやがった。

Tên này, tự mình nói ra rả như vậy mà lại bắt đầu nghi ngờ liệu tôi có phải là con rối tự động không có “linh hồn” hay không.

ないわけねーだろ、バカ野郎。

Làm gì có chuyện không có, đồ ngốc.

疑似的な代物だが、ちゃんとあるっての。

Dù chỉ là đồ giả, nhưng nó vẫn tồn tại đàng hoàng.

だが、それは俺が作成したオモチャなので、ヴェルダナーヴァには探し出せなかったみたいだな。

Nhưng, vì đó là món đồ chơi do tôi tạo ra, nên có vẻ Verudanava không thể tìm thấy nó.

というか、そんな代物で代用出来るハズがないと、かえって混乱している様子である。

Hay đúng hơn là, có vẻ ngài đang bối rối vì nghĩ rằng không thể nào thay thế bằng một thứ như vậy được.

それを見て、俺はラッキーだと思った。

Nhìn thấy điều đó, tôi nghĩ mình thật may mắn.

何しろ、今の俺には〝魂〟がない。

Dù sao thì, tôi hiện tại không có “linh hồn”.

それが意味するのは、大半の権能が使えないという事なのだ。

Điều đó có nghĩa là tôi không thể sử dụng hầu hết các quyền năng.

まあ、俺にとっては大した意味はない。

Mà, đối với tôi thì cũng không có ý nghĩa gì lớn lao.

どっちにしてもシエルさんがいないので、使えたとしても俺では使いこなせなかっただろうしな。

Dù sao thì cũng không có Ciel-san ở đây, nên dù có dùng được thì tôi cũng không thể sử dụng thành thạo.

なので、そこはもう気にしていなかった。

Vì vậy, tôi không còn bận tâm đến chuyện đó nữa.

大事なのは、今の俺に何が出来るのか、だ。

Điều quan trọng là, tôi hiện tại có thể làm được gì.

先ず、さっき試したみたいに、スライムとしての能力(スキル)は余裕で使える。

Đầu tiên, như đã thử lúc nãy, các kĩ năng của một Slime thì tôi có thể sử dụng một cách dễ dàng.

固有能力『万能感知・竜霊覇気・万能変化』なんかは、自然と扱えていた。

Các Kĩ năng Nội tại như “Cảm Nhận Vạn Năng”, “Bá Khí Long Linh”, “Biến Hóa Vạn Năng” đều có thể sử dụng một cách tự nhiên.

俺の守りは生きているので、何もせずとも『多次元結界』は万全みたいだ。

Hệ thống phòng thủ của tôi vẫn còn hoạt động, nên dù không làm gì, “Đa Trùng Kết Giới” vẫn rất vững chắc.

時間が止まっても動けているので、意識せずとも『時空間支配』は行えているっぽいね。

Vì có thể cử động ngay cả khi thời gian ngưng đọng, nên có vẻ như tôi đã vô thức sử dụng được “Chi Phối Thời Không Gian”.

普段から普通に扱っていた『捕食』とか、スキルとか関係なく扱えるのだ。

Những thứ mà tôi thường xuyên sử dụng như “Săn Mồi”, tôi có thể sử dụng chúng mà không cần đến kĩ năng.

これから派生して『魂暴喰』もいけるし、これもよく使う『胃袋』から派生した『虚数空間』だって、意のままに扱えていた。

Từ đó, tôi cũng có thể sử dụng “Cắn Nuốt Linh Hồn”, và cả “Không Gian Ảo” bắt nguồn từ “Dạ Dày” mà tôi hay dùng, đều có thể sử dụng theo ý muốn.

ベニマルの治療にも、この『虚数空間』に溜め込まれているエネルギーを『虚無崩壊』で転用している。見よう見真似ではあったが、何とか上手く成功したのだ。

Trong việc chữa trị cho Benimaru, tôi cũng đã chuyển đổi năng lượng tích trữ trong “Không Gian Ảo” này bằng “Hư Vô Băng Hoại”. Dù chỉ là bắt chước, nhưng tôi đã thành công một cách nào đó.

やってみれば、何とかなるものなのだ。

Cứ thử làm, thì sẽ có cách thôi.

ヴェルドラとの繋がりは感じるし、ヴェルザードやヴェルグリンドだって、呼びかければ応えてくれそうな気がした。

Tôi có thể cảm nhận được sự kết nối với Verudora, và ngay cả Veruzado và Verugrynd, tôi có cảm giác rằng nếu gọi họ, họ cũng sẽ đáp lại.

つまり、『竜種解放[灼熱・暴風・白氷]』や『竜種核化[灼熱・暴風・白氷]』なんかも、使おうと思えば使えそうなんだよね。

Nói cách khác, những thứ như “Giải Phóng Long Chủng [Chước Nhiệt - Bạo Phong - Bạch Băng]” hay “Lõi Hóa Long Chủng [Chước Nhiệt - Bạo Phong - Bạch Băng]”, nếu muốn thì có lẽ tôi cũng có thể sử dụng được.

そもそもの話、『竜種解放』は常時発動しているんだった。

Vốn dĩ, “Giải Phóng Long Chủng” đã được kích hoạt liên tục rồi.

という事で、究極能力(アルティメットスキル)『虚空之神(アザトース)』だが、意外と全部扱えてしまった。

Vì vậy, Kĩ năng Tối thượng “Hư Không Thần (Azathoth)”, thật bất ngờ là tôi có thể sử dụng được tất cả.

それに対して、究極能力(アルティメットスキル)『豊穣之王(シュブ・ニグラト)』だが……。

Đối với Kĩ năng Tối thượng “Phong Nhương Vương (Shub Niggurath)” thì...

こちらはもう、ほぼ全滅だ。

Về phần này thì gần như đã bị xóa sổ hoàn toàn.

俺では、シエルさんが行っていた『能力創造・能力複製・能力贈与・能力保存』などの権能は、他人事過ぎて理解の範(はん)疇(ちゅう)になかった為だ。

Đối với tôi, những quyền năng như “Sáng Tạo Kĩ Năng”, “Nhân Bản Kĩ Năng”, “Ban Tặng Kĩ Năng”, “Bảo Tồn Kĩ Năng” mà Ciel-san đã thực hiện, đều là chuyện của người khác nên nằm ngoài tầm hiểu biết của tôi.

自分に必要なら覚えるが、そうでなければ興味がない。そういう悪い面が顕著に表れた事例なのだが、まあ仕方ない。直接的な戦闘に利用出来そうな権能を扱えるのだし、そこまで気にしなくても良さそうだった。

Nếu cần thiết cho bản thân thì tôi sẽ học, còn không thì tôi không quan tâm. Đây là một ví dụ rõ ràng cho thấy mặt xấu đó của tôi, nhưng thôi cũng đành chịu. Vì tôi có thể sử dụng những quyền năng có thể dùng trong chiến đấu trực tiếp, nên có lẽ không cần phải quá bận tâm.

という訳で、俺の方では準備完了。

Vậy là, về phía tôi đã chuẩn bị xong.

待つ必要もないので、早速ながら仕掛ける事にした。

Không cần phải chờ đợi, tôi quyết định tấn công ngay.

フェイントも何も必要とせず、俺は全力で〝希望(エルピス)〟を抜き放った。

Không cần bất kì động tác giả nào, tôi dốc toàn lực rút thanh “Hi Vọng (Elpis)” ra.

愚直な攻撃だが、止まった時の中では小細工を仕掛ける余地がない。あるっちゃあるが、成功確率は低い上に、そんなに効果が期待出来ないのだ。

Đó là một đòn tấn công thẳng thắn, nhưng trong lúc thời gian ngưng đọng, không có chỗ cho những tiểu xảo. Có thì cũng có, nhưng tỉ lệ thành công thấp và cũng không mong đợi được nhiều hiệu quả.

自ら鍛え上げた技量(レベル)を信じて、真正面から挑むのが正解だと思われた。

Tin vào kĩ lượng (level) mà mình đã tự rèn luyện, và thách thức một cách trực diện, đó có lẽ là lựa chọn đúng đắn.

俺の剣を、ヴェルダナーヴァが自身の剣で受け止める。

Verudanava dùng kiếm của mình để đỡ lấy kiếm của tôi.

コイツの技量(レベル)も相当なものだ。というより、競り合えているのが奇跡という話であった。

Kĩ lượng (level) của tên này cũng không phải dạng vừa. Hay đúng hơn, việc có thể đối đầu ngang ngửa đã là một phép màu.

それでも頑張るしかないので、俺は戦いに集中する。

Dù vậy cũng chỉ còn cách cố gắng, nên tôi tập trung vào trận chiến.

研ぎ澄まされていく、意思。感知する〝情報子〟の量が増えるにつれて、視界が広がっていった。

Ý chí ngày càng trở nên sắc bén. Khi lượng “hạt thông tin” cảm nhận được tăng lên, tầm nhìn cũng mở rộng ra.

時間は流れていないので表現的にはおかしいが、俺とヴェルダナーヴァの攻防は互角のまましばらく続いた。

Thời gian không trôi nên cách diễn đạt có hơi kì lạ, nhưng cuộc chiến giữa tôi và Verudanava vẫn tiếp tục một cách cân sức trong một thời gian.

『どうして君は、ボクと互角なのかな?』

“Tại sao ngươi lại ngang sức với ta?”

『だって、俺は強いから』

“Vì ta mạnh”.

そう、俺は強いのだ。

Đúng vậy, tôi rất mạnh.

シエルさんがそう言っていた。

Ciel-san đã nói vậy.

その期待には応えなきゃ、主人(マスター)としての沽券に関わるというものだ。

Tôi phải đáp lại sự kì vọng đó, nếu không sẽ ảnh hưởng đến phẩm giá của một Chủ nhân (Master).

本当は怖くて逃げだしたいが、俺はいくつもの理由を並べ立てて、気力を奮い起こしていた。そうする事で、恐怖が薄れてやるべき事が見えてくるからだ。

Thực lòng thì tôi rất sợ và muốn bỏ chạy, nhưng tôi đã đưa ra vô số lí do để vực dậy tinh thần. Làm như vậy, nỗi sợ hãi sẽ vơi đi và tôi sẽ thấy được những việc mình cần làm.

今は集中して、ヴェルダナーヴァに向かい合えている。

Bây giờ tôi đang tập trung và có thể đối mặt với Verudanava.

いい傾向であり、もう負ける気はしなかった。

Một xu hướng tốt, và tôi không còn cảm thấy mình sẽ thua nữa.

単なる強がりであっても、そう思えるだけで心が軽くなる。

Dù chỉ là tỏ ra mạnh mẽ, nhưng chỉ cần nghĩ như vậy thôi cũng đã khiến lòng tôi nhẹ nhõm hơn.

そうした俺の余裕を感じ取ったのか、ヴェルダナーヴァが面白くなさそうな表情になった。

Có lẽ cảm nhận được sự ung dung của tôi, Verudanava tỏ vẻ không vui.

『本当に不思議だ。過去には存在しなかった矮小な存在が、ボクに匹敵するほど強くなるなんてね』

“Thật kì lạ. Một tồn tại nhỏ bé chưa từng tồn tại trong quá khứ lại có thể trở nên mạnh mẽ đến mức sánh ngang với ta”.

『褒めてくれてるんだよね?』

“Ngài đang khen tôi đúng không?”

『ああ。君のような存在が、ボクが創った世界に自然と誕生するなんて、まだまだ驚くべき事は起きるものだな』

“Ừ. Một tồn tại như ngươi lại có thể tự nhiên sinh ra trong thế giới do ta tạo ra, quả nhiên vẫn còn nhiều điều đáng ngạc nhiên”.

『ふむ、少しはこの世界への興味が戻ったのかな? だったらさ──』

“Hừm, có lẽ ngài đã có lại chút hứng thú với thế giới này rồi nhỉ? Vậy thì...”

ベニマルを助けて、この世界から手を引いてくれるのなら──という俺の望みは、口にする前に断られる。

Mong muốn của tôi rằng nếu ngài giúp Benimaru và rút tay khỏi thế giới này... đã bị từ chối trước cả khi tôi kịp nói ra.

『それ以上の言葉は不要だよ。ボクの決定は、覆らないから』

“Những lời nói thừa thãi không cần thiết đâu. Quyết định của ta sẽ không thay đổi”.

『あ、そうですか』

“A, vậy sao”.

残念ながら、ヴェルダナーヴァの意思は固かった。

Thật không may, ý chí của Verudanava rất kiên định.

一瞬情けをかけかけたが、余計なお世話だったな。

Tôi đã thoáng động lòng thương, nhưng đó chỉ là việc thừa thãi.

やはり余計な事を考えず、勝つ事だけを考えるとしよう。

Quả nhiên không nên nghĩ những chuyện thừa thãi, chỉ nên nghĩ đến việc chiến thắng.

俺はそう自分を戒めて、より念入りに勝ち筋を探るべく、ヴェルダナーヴァに集中するのだった。

Tôi tự nhắc nhở mình như vậy, và tập trung vào Verudanava để tìm kiếm con đường chiến thắng một cách cẩn thận hơn.

戦い始める前は、やるだけやってダメなら諦めよう、の精神だった。

Trước khi bắt đầu trận chiến, tinh thần của tôi là cứ làm hết sức, nếu không được thì từ bỏ.

勿論、全力を尽くす前提で、一矢報いられれば僥(ぎょう)倖(こう)だと考えていたのだ。

Dĩ nhiên, với tiền đề là dốc toàn lực, tôi đã nghĩ rằng nếu có thể trả được một đòn thì đã là may mắn lắm rồi.

ところが、いざ戦いが始まってみると、それなりに頑張れているので驚きである。

Thế nhưng, khi trận chiến bắt đầu, tôi lại ngạc nhiên vì mình đã có thể chiến đấu khá tốt.

シエルさんがいないから、速攻負けると思っていた。

Tôi đã nghĩ mình sẽ thua ngay lập tức vì không có Ciel-san.

しかし今、剣戟でもそれなりにどころか、互角に相手出来ているのである。

Thế nhưng bây giờ, không chỉ là có thể đối đầu trong kiếm kích, mà tôi còn đang ngang sức với đối phương.

自分が強いと宣言しても許されると思ったし、むしろ、もっと俺を褒めろと言いたい。

Tôi nghĩ rằng dù có tự nhận mình mạnh cũng không sao, mà ngược lại, tôi còn muốn được khen nhiều hơn.

いやあ、今までずっと、ハクロウに鍛えられ続けた甲斐があったね。

À, quả nhiên công sức bị Hakurou rèn luyện suốt thời gian qua đã không uổng phí.

鍛えるという言い方は正確性に欠けていて、実際は扱(しご)き、下手すると罰ゲームより質(たち)が悪い感じだったし。それに付き合えていたのは、俺の身体能力が優れていたからだ。

Nói là rèn luyện thì không hoàn toàn chính xác, thực tế thì là hành hạ, thậm chí còn tệ hơn cả trò chơi trừng phạt. Việc tôi có thể chịu đựng được là nhờ khả năng thể chất vượt trội của mình.

スライムに転生したのは、実に幸運だった。

Việc chuyển sinh thành Slime quả thực rất may mắn.

転生前なら、確実に死んでいた自信があるね。

Nếu là trước khi chuyển sinh, tôi tự tin rằng mình chắc chắn đã chết.

そんなこんなで、まだ張り合えている。

Và thế là, tôi vẫn đang cầm cự được.

努力は裏切らないと、過去の自分に感謝であった。

Nỗ lực không phản bội, tôi cảm thấy biết ơn bản thân mình trong quá khứ.

サトルの姿になった俺は、ヴェルダナーヴァとの身長差もそこまでない。

Tôi trong hình dạng Satoru cũng không có chênh lệch chiều cao nhiều với Verudanava.

剣技は互角だし、これは勝ち目もありそうだ。

Kiếm kĩ ngang ngửa, xem ra cũng có cơ hội chiến thắng.

──と思ったのだが、そうした考えは油断に繋がる。

...Tôi đã nghĩ vậy, nhưng suy nghĩ đó lại dẫn đến sự lơ là.

ここは気を引き締めて、ヴェルダナーヴァの動向を探っていく。

Ở đây, tôi phải tập trung tinh thần và tìm hiểu động thái của Verudanava.

俺が楽観的な気分になったのが伝わったのか、ヴェルダナーヴァはより不快そうに目を細めた。

Có lẽ cảm nhận được tâm trạng lạc quan của tôi, Verudanava nheo mắt với vẻ khó chịu hơn.

ようやく感情を動かせたようだと、逆に安心する。

Cuối cùng cũng có thể làm cho ngài ấy lay động cảm xúc, ngược lại tôi lại cảm thấy yên tâm.

ここは、ハッタリだ。

Ở đây, là một cú lừa.

ハッタリを積み重ねて、ヴェルダナーヴァの判断を惑わせるのが、勝利への足掛かりになりそうであった。

Tích lũy những cú lừa để làm cho phán đoán của Verudanava trở nên hỗn loạn, đó có lẽ sẽ là bước đệm dẫn đến chiến thắng.

そう思ったのだが、甘過ぎる考えだったようだ。

Tôi đã nghĩ vậy, nhưng có vẻ đó là một suy nghĩ quá ngây thơ.

『やれれ、極大特異点(シンギュラリティ)は思った以上に厄介だな』

“Chà, Điểm kì dị Cực đại (Singularity) phiền phức hơn ta nghĩ”.

ヴェルダナーヴァがそう言って、感情の見えない目で俺を見た。そして、剣で俺を押しのけてきた。

Verudanava nói vậy và nhìn tôi với ánh mắt vô cảm. Và rồi, ngài dùng kiếm đẩy tôi ra.

俺は流れに逆らわず、そのまま後方に飛び退く。

Tôi không chống lại mà cứ thế lùi về phía sau.

そのまま身構えたが、追撃はなかった。

Tôi lập tức thủ thế, nhưng không có đòn tấn công nào tiếp theo.

『君は絶望を知らないようだ。ならば、ボクが教えてあげるよ。その上で、今までと同じように甘い戯(ざれ)言(ごと)をほざけるかどうか、最後の言い分を聞いてあげるとしよう』

“Ngươi có vẻ không biết đến tuyệt vọng. Vậy thì, ta sẽ cho ngươi biết. Sau đó, liệu ngươi có còn có thể nói những lời ngây thơ như trước không, ta sẽ lắng nghe lời cuối cùng của ngươi”.

ヴェルダナーヴァは俺のペースに呑まれることなく、自分の手札を晒して主導権を握ろうとしたのである。

Verudanava không bị cuốn theo nhịp độ của tôi, mà đã tung ra con bài của mình để nắm lấy thế chủ động.

激しく嫌な予感がした。

Tôi có một dự cảm vô cùng tồi tệ.

ヴェルダナーヴァが空に向けて手を翳(かざ)すなり、無数の光球が出現したのだ。

Verudanava vừa giơ tay lên trời, vô số quả cầu ánh sáng đã xuất hiện.

天をうめ尽くさんばかりの、眩い炎の矢。

Những mũi tên lửa rực rỡ gần như che kín cả bầu trời.

どう見ても、それは魔法だった。

Dù nhìn thế nào đi nữa, đó cũng là ma pháp.

『嘘だろ? 時間が止まっているのに、どうして魔法が使えるんだよ!?』

“Không thể nào? Thời gian đã ngưng đọng, tại sao lại có thể sử dụng ma pháp!?”

思わず驚いたが、よく考えてみれば当然だ。

Tôi bất ngờ, nhưng suy nghĩ kĩ lại thì đó là điều hiển nhiên.

だって、ラミリスもベニマルに対して魔法を使っていたからね。じっくり観察は出来なかったけど、あれは紛れもなく治癒魔法だったのだ。

Vì Lamrys cũng đã sử dụng ma pháp với Benimaru. Dù không thể quan sát kĩ, nhưng đó chắc chắn là ma pháp chữa trị.

ラミリスに出来るのなら、ヴェルダナーヴァだって使えて当然だ。

Nếu Lamrys làm được, thì Verudanava cũng có thể sử dụng là điều đương nhiên.

そう思い当たった俺に、ギィが教えてくれた。

Khi tôi nhận ra điều đó, Guy đã giải thích.

『原初の魔法(プリミティブマジック)だな。時間の概念すら関係ない、純然たる力だ』

“Đó là Ma Pháp Nguyên Sơ (Primitive Magic). Một sức mạnh thuần túy, không liên quan đến cả khái niệm thời gian”.

時間の概念もない──って、どこでも使える法則操作みたいなものか?

Không có khái niệm thời gian... có nghĩa là một loại thao tác định luật có thể sử dụng ở bất cứ đâu sao?

エネルギー消耗もなさそうだし、卑怯極まりない力だな……。

Có vẻ như không tốn năng lượng, đúng là một sức mạnh vô cùng gian lận...

『ちなみに、今のアタシでも、あの規模は無理なのよさ……』

“Nhân tiện, ngay cả tớ bây giờ cũng không thể làm được ở quy mô đó đâu...”

俺の力を借りて大人の姿になったラミリスでも、天を埋めるほどの魔法を打ち消すのは不可能だという。

Ngay cả Lamrys, người đã mượn sức mạnh của tôi để biến thành người lớn, cũng nói rằng không thể nào hóa giải được một ma pháp che kín cả bầu trời.

そりゃあ、そうだろうなと思ったので、そこまで気落ちしなかった。

Tôi cũng nghĩ vậy, nên không quá thất vọng.

『──燃え盛れ、原初の炎よ──』

“...Hãy bùng cháy, ngọn lửa nguyên sơ...”

ヴェルダナーヴァの魔法が構築されていく。

Ma pháp của Verudanava đang được hình thành.

今のままでも十分だろうに、その数が更に増えていった。

Chỉ bấy nhiêu cũng đã đủ, vậy mà số lượng lại còn tăng thêm.

時間経過がないが、効果が顕現するまで認識出来たので、『〝情報子〟の移動速度は一定である』という法則は〝原初の魔法(プリミティブマジック)〟でも無視出来ないみたいだな。

Dù không có thời gian trôi qua, nhưng tôi vẫn có thể nhận biết được hiệu ứng cho đến khi nó xuất hiện, nên có vẻ như quy luật “tốc độ di chuyển của “hạt thông tin” là không đổi” không thể bị bỏ qua ngay cả với “Ma Pháp Nguyên Sơ (Primitive Magic)”.

その点は安心材料だが、攻略には繋がらない。

Điểm đó thì có thể yên tâm, nhưng không giúp ích gì cho việc攻略.

気ばかりが、逸(はや)る。

Chỉ có lòng là sốt ruột.

『この地に集った君の仲間、知り合い、その全てが、ボクの炎に焼かれるだろう。ヴェルザードが守っているようだけど、この炎の力は防げないからね』

“Những người bạn, người quen của ngươi tập trung ở đây, tất cả sẽ bị ngọn lửa của ta thiêu rụi. Veruzado có vẻ đang bảo vệ họ, nhưng sức mạnh của ngọn lửa này không thể nào ngăn cản được đâu”.

ヴェルダナーヴァの目論見は、俺を絶望させる事だった。

Mục đích của Verudanava là khiến tôi tuyệt vọng.

『止めろ。それをしたら、マジで許さん』

“Dừng lại. Nếu ngươi làm vậy, ta sẽ không bao giờ tha thứ”.

俺は心を静めて、冷静にそう告げる。

Tôi trấn tĩnh lại và bình tĩnh nói.

徹底的に抗うつもりだったが、それでもまだ和解の道がないか探っていた。

Tôi đã định sẽ chống lại đến cùng, nhưng vẫn đang tìm kiếm một con đường hòa giải.

ミリムの父親で、ギィ達にとっては親しい友人で、この世界の創造者。そんな存在を滅ぼすのは難しいから、俺の勝利を認めさせた上で、改心してくれるのを期待していた。

Là cha của Millim, là bạn thân của Guy và những người khác, là người tạo ra thế giới này. Việc hủy diệt một tồn tại như vậy rất khó khăn, nên tôi đã mong rằng sau khi thừa nhận chiến thắng của tôi, ngài sẽ hối cải.

しかし、である。

Tuy nhiên,

俺の大事なものに手を出すというのなら、そんな悠長な事を言っていられない。

Nếu ngài dám động đến những thứ quan trọng của tôi, thì tôi không thể nhàn nhã như vậy được.

俺が使える手段を全て駆使して、余計な真似すら出来ないように、とことんまでやるしかなくなるのだ。

Tôi sẽ phải sử dụng mọi phương tiện có thể, và làm đến cùng để ngài không thể làm bất kì điều gì thừa thãi.

言葉が通じないのなら、残る手段は暴力のみだった。

Nếu không thể nói chuyện, thì chỉ còn lại bạo lực.

俺の忠告を聞いても、ヴェルダナーヴァは顔色を変えない。

Nghe lời cảnh báo của tôi, Verudanava vẫn không thay đổi sắc mặt.

そして無情にも、手を振り下ろしたのだ。

Và rồi, một cách vô tình, ngài đã vung tay xuống.

決定的に、交渉は決裂した。

Cuộc đàm phán đã hoàn toàn thất bại.

天に輝く炎の矢が、それぞれ目標を定めて放たれる。

Những mũi tên lửa tỏa sáng trên trời, mỗi mũi tên đều nhắm vào mục tiêu và được bắn ra.

俺の心に絶望が押し寄せ──その直後、止まった時間の中で、俺の思考が更に加速する。

Tuyệt vọng ập đến trong lòng tôi... ngay sau đó, trong thời gian ngưng đọng, suy nghĩ của tôi lại càng tăng tốc.

炎の矢は、この地に集った者達に狙いを定めている。

Những mũi tên lửa đang nhắm vào những người tập trung ở đây.

あれが一斉に放たれたら、為す術もなく全員が消え去るだろう。

Nếu chúng được bắn ra đồng loạt, tất cả sẽ biến mất mà không thể làm gì.

時間停止に対応可能な者以外は死に絶える、絶望の未来が訪れるのだ。

Ngoài những người có thể đối phó với việc ngưng đọng thời gian, tất cả sẽ chết hết, một tương lai tuyệt vọng sẽ đến.

ガゼル王やヨウム、ヒナタや聖騎士団(クルセイダーズ)の面々、レオンやその配下の者達、自由組合に所属する英雄達、帝国から来た軍人達や、少し前まで敵だった巨人達までも。

Vua Gazeru và Youmuu, Hinata và các thành viên của Thánh Kị Sĩ Đoàn (Crusaders), Leon và các thuộc hạ của cậu, các anh hùng thuộc Hiệp hội Tự do, các quân nhân từ Đế quốc, và cả những gã khổng lồ mới đây còn là kẻ thù.

他にも、親しい者達は大勢いる。

Ngoài ra còn có rất nhiều người thân thiết khác.

ゴブタを筆頭とした俺の仲間達や、カリオンやフレイさんといった友人達。それに、胡散臭いけど憎めない、ユウキ達まで。

Các đồng đội của tôi do Gobuta dẫn đầu, các bạn bè như Callion và Frey-san. Và cả Yuki và những người khác, dù đáng ngờ nhưng không thể ghét được.

この世界に生まれ変わってから知り合った、俺の大切な者達が、等しく終わりを迎える事になるのだ。

Những người quan trọng mà tôi đã gặp gỡ sau khi tái sinh trên thế giới này, tất cả đều sẽ phải đối mặt với sự kết thúc.

絶対に許せるものか──と、俺は思った。

Tuyệt đối không thể tha thứ... tôi đã nghĩ vậy.

やるだけやってダメなら諦めよう、じゃダメなのだ。

Cứ làm hết sức rồi nếu không được thì từ bỏ, như vậy là không được.

そうなったら、みんな死ぬ。

Nếu vậy, tất cả mọi người sẽ chết.

全ての可能性が失われて、今まで培ってきた全てが無に帰してしまう事になる。

Mọi khả năng sẽ biến mất, và tất cả những gì đã gây dựng từ trước đến nay sẽ trở về với hư vô.

後世に伝わる事もなく、人が生きる意味が全て失われ、ありとあらゆる偉業まで無価値になってしまうのだ。

Không còn được lưu truyền cho thế hệ sau, ý nghĩa của việc sống sẽ hoàn toàn biến mất, và tất cả mọi thành tựu vĩ đại cũng sẽ trở nên vô giá trị.

それは、許容できないし、してはならない。

Điều đó, không thể chấp nhận được, và không được phép xảy ra.

俺は、この世界に転生した時、全てのしがらみから解き放たれて自由に生きようと思った。

Khi tôi tái sinh trên thế giới này, tôi đã nghĩ rằng mình sẽ sống tự do, thoát khỏi mọi ràng buộc.

スライムだったのは驚きだったが、生きてさえいれば色々な楽しみがあるものだ。

Việc trở thành một Slime thật đáng ngạc nhiên, nhưng chỉ cần còn sống, thì sẽ có rất nhiều niềm vui.

好きに生きて、無責任に死ぬ──それでいいと思っていた。

Sống theo ý mình, chết đi một cách vô trách nhiệm... tôi đã nghĩ như vậy là đủ.

ところが、リグル達と出会って、いつの間にか仲間が出来た。

Thế nhưng, sau khi gặp gỡ Rigul và những người khác, tôi đã có những người đồng đội từ lúc nào không hay.

皆から頼られ、責任が生じた。

Được mọi người tin cậy, và trách nhiệm đã nảy sinh.

誰かに頼られるなら、全力を尽くすのが俺なのだ。

Nếu được ai đó trông cậy, tôi sẽ dốc hết sức mình.

もう、無責任ではいられなかった。

Tôi không thể vô trách nhiệm được nữa.

みんなとの繋がりが、絆が、俺を生かした。

Sự kết nối, mối liên kết với mọi người đã cho tôi sự sống.

生きる意味が生まれたからだ。

Bởi vì ý nghĩa của việc sống đã được sinh ra.

夢が出来て、毎日が楽しくて──

Có được ước mơ, mỗi ngày đều vui vẻ...

誰とも繋がっていなければ、俺はとっくにこの世から去っていただろう。

Nếu không có sự kết nối với ai, có lẽ tôi đã rời khỏi thế gian này từ lâu.

だからこそ、この世界には恩がある。

Chính vì vậy, tôi mang ơn thế giới này.

守らねばならないのだ。

Phải bảo vệ nó.

やれれだ。

Thật là hết cách.

本当に、やれれであった。

Thật sự, hết cách rồi.

俺のようないい加減な人間に、この世界の命運を託すなんてね……。

Giao phó vận mệnh của thế giới này cho một kẻ lơ là như tôi...

でも──頼られたなら、全力を尽くさないとな。

Nhưng... nếu đã được tin cậy, thì phải dốc hết sức thôi.

それが俺の生き様であり、それは今回も同じなのだった。

Đó là cách sống của tôi, và lần này cũng vậy.

心は決まった。

Lòng đã quyết.

いや、最初から覚悟完了していたのだ。

Không, tôi đã chuẩn bị sẵn sàng ngay từ đầu.

俺は、天を埋め尽くす炎の矢に意識を向けた。

Tôi hướng ý thức về những mũi tên lửa đang che kín cả bầu trời.

認識は可能だ。

Tôi có thể nhận biết được chúng.

それならば、一つ手立てを思いついた。

Nếu vậy, tôi đã nghĩ ra một cách.

心配なのは、〝魂〟もない自我だけの俺に出来るかどうかなのだが……。

Điều lo lắng là liệu một tôi chỉ có ý thức mà không có “linh hồn” có thể làm được không...

──主様(マスター)ならば、不可能はありません──

...Nếu là Chủ nhân (Master), thì không có gì là không thể...

という、シエルさんの〝声〟が聴こえた気がした。

Tôi có cảm giác như đã nghe thấy “giọng nói” của Ciel-san.

そうだった。

Đúng vậy.

もう悩んでいる場合ではなく、やるしかないんだった。

Không phải lúc để do dự nữa, mà phải làm thôi.

それにそもそも、シエルさんだって〝魂〟のない存在なのだ。

Hơn nữa, vốn dĩ Ciel-san cũng là một tồn tại không có “linh hồn”.

それなのに、自由自在に権能を操れていたのである。

Vậy mà, cô ấy vẫn có thể tự do điều khiển các quyền năng.

だったら、俺に出来ないはずがない。

Nếu vậy, không có lí do gì mà tôi lại không làm được.

スライム固有のスキルなら使えたのだから、今回も何とかなるはずだ。

Vì tôi có thể sử dụng các kĩ năng固有 của Slime, nên lần này chắc cũng sẽ ổn thôi.

いや、違うな。

Không, không phải vậy.

何とかしなければならないのである。

Mà là phải làm cho nó ổn.

その為には──

Vì điều đó...

天から炎の矢が降り注ぐ。

Những mũi tên lửa từ trên trời trút xuống.

──次の瞬間。

...Khoảnh khắc tiếp theo.

全ての炎の矢が────消えた。

Tất cả những mũi tên lửa... đã biến mất.

『──ッ!?』

“...!?”

よっしゃ、成功だ!!

Được rồi, thành công!!

ヴェルダナーヴァが、驚いた表情を浮かべている。

Verudanava lộ vẻ mặt kinh ngạc.

俺自身不安だったけど、こうして成功した今なら、当然ですよという態度を貫くまでだ。

Bản thân tôi cũng đã lo lắng, nhưng bây giờ đã thành công, tôi sẽ giữ thái độ như thể đó là điều hiển nhiên.

ヴェルダナーヴァが原初の魔法(プリミティブマジック)で出現させた炎の矢だが、俺は全てを認識出来ていた。そして俺の『魂暴喰』は、認識可能なもの全てを一瞬にして喰い尽くせる権能なのである。

Dù là mũi tên lửa mà Verudanava đã tạo ra bằng Ma Pháp Nguyên Sơ (Primitive Magic), nhưng tôi có thể nhận biết được tất cả chúng. Và “Cắn Nuốt Linh Hồn” của tôi là một quyền năng có thể nuốt chửng tất cả những gì có thể nhận biết được trong chốc lát.

つまりは、〝情報子〟が認識可能な範囲ならば、原初の魔法(プリミティブマジック)だろうが未知の権能だろうが、理論上は対処可能だったのである。

Nói cách khác, miễn là “hạt thông tin” nằm trong phạm vi có thể nhận biết, thì dù là Ma Pháp Nguyên Sơ (Primitive Magic) hay một quyền năng chưa biết, về lí thuyết đều có thể đối phó được.

実際のところ、どんな攻撃なら喰らえるのか、実験してみなければわからなかった。通用してくれるのを期待するしかない、というのが本音だったのだ。

Thực tế thì, nếu không thử nghiệm thì không biết được có thể nuốt được những đòn tấn công nào. Thành thật mà nói, tôi chỉ có thể hi vọng nó sẽ có tác dụng.

シエルさんなしで扱うのは初めてで、もの凄く不安で緊張していたけど、成功したのだから問題ない。

Đây là lần đầu tiên tôi sử dụng nó mà không có Ciel-san, nên tôi đã rất lo lắng và căng thẳng, nhưng vì đã thành công nên không có vấn đề gì.

俺はこの戦場全てを認識可能なので、今のような攻撃ならば、何度繰り返されようと無効化可能という事になる。

Vì tôi có thể nhận biết được toàn bộ chiến trường này, nên với những đòn tấn công như vừa rồi, dù có lặp lại bao nhiêu lần, tôi cũng có thể vô hiệu hóa chúng.

ちょっと誇大に言うならば、原初の魔法(プリミティブマジック)など俺には通用しないという訳だ。

Nói một cách hơi khoa trương, thì Ma Pháp Nguyên Sơ (Primitive Magic) không có tác dụng với tôi.

なので、ここは大きく出る場面であった。

Vì vậy, đây là lúc để thể hiện.

『無駄だよ。放出系の技は、俺には通じない!』

“Vô ích thôi. Những kĩ thuật dạng phóng xuất không có tác dụng với ta!”

俺はそう告げて、ヴェルダナーヴァに向けて一歩踏み出したのだった。

Tôi nói vậy và bước một bước về phía Verudanava.

それにしても、だ。

Dù vậy,

止めろという忠告を無視して、ヴェルダナーヴァは原初の魔法(プリミティブマジック)を発動させた。

Phớt lờ lời cảnh báo dừng lại, Verudanava đã kích hoạt Ma Pháp Nguyên Sơ (Primitive Magic).

この行為は、俺にとっては最後の一線を越える暴挙だったのだ。

Hành động này, đối với tôi, là một hành động bạo ngược vượt qua giới hạn cuối cùng.

もう許さん──と、俺は激怒した。

Không thể tha thứ được nữa... tôi đã nổi giận.

ヴェルダナーヴァに対してではなく、俺自身に対してだ。

Không phải là đối với Verudanava, mà là đối với chính bản thân mình.

迷ったから、ベニマルが死にかけた。

Vì đã do dự, nên Benimaru suýt chết.

そして今も、昏睡状態が続いている。

Và bây giờ, cậu ấy vẫn đang trong tình trạng hôn mê.

それなのに、まだ迷ってしまった。

Vậy mà, tôi lại vẫn do dự.

その結果、仲間達まで危険に晒す羽目になったのだ。

Kết quả là, ngay cả các đồng đội cũng bị đẩy vào tình thế nguy hiểm.

結果的には無事に乗り越えられたものの、一歩間違えれば仲間から犠牲者が出るところだった。

Dù kết quả là đã vượt qua được một cách an toàn, nhưng nếu sai một bước, có lẽ đã có người hi sinh trong số các đồng đội.

これは紛れもなく、判断を誤った俺の失態である。

Đây chắc chắn là sai lầm của tôi vì đã phán đoán sai.

相手にどんな事情があろうが、そんな事はこちらに関係のない話であった。

Dù đối phương có lí do gì đi nữa, thì điều đó cũng không liên quan gì đến chúng tôi.

同情するにしても、それは余裕がある時にするべきだったのだ。

Dù có đồng cảm, thì cũng nên làm điều đó khi có thừa thời gian.

相手がこちらに配慮しないのなら、俺達だけが一方的に要求を呑む必要はない。

Nếu đối phương không cân nhắc đến chúng tôi, thì chúng tôi cũng không cần phải đơn phương chấp nhận yêu cầu của họ.

ましてや──自分勝手な都合で俺達を滅ぼすというのなら、全力で抗うというのが俺の答えである。

Hơn nữa... nếu vì lí do ích kỉ mà định hủy diệt chúng tôi, thì câu trả lời của tôi là sẽ chống lại bằng toàn bộ sức lực.

相手が神であろうが、それがどうしたというのだ。

Dù đối thủ là Thần, thì đã sao chứ.

俺達の夢や希望を奪うというなら、そんなヤツは敵なのだ。

Nếu định cướp đi ước mơ và hi vọng của chúng tôi, thì kẻ đó là kẻ thù.

敵は倒す。

Kẻ thù thì phải đánh bại.

それだけであった。

Chỉ vậy thôi.

『お前を倒す』

“Ta sẽ đánh bại ngươi”.

と、俺は再び宣言した。

Tôi lại tuyên bố một lần nữa.

『何を──』

“Ngươi...”

ヴェルダナーヴァがそう言いかけたが、その言葉を最後まで言わせる気などない。

Verudanava định nói vậy, nhưng tôi không có ý định để ngài nói hết câu.

俺は『瞬間移動(テレポート)』でヴェルダナーヴァに接近し、思いっきり左手で握った剣で斬り上げた。

Tôi dùng “Dịch Chuyển Tức Thời (Teleport)” để tiếp cận Verudanava, và dùng thanh kiếm nắm chặt trong tay trái chém lên một cách mạnh mẽ.

慌てて対処するヴェルダナーヴァ。俺の剣を受け止めたものの、体勢が崩れる。

Verudanava vội vàng đối phó. Dù đã đỡ được kiếm của tôi, nhưng tư thế của ngài đã mất thăng bằng.

その瞬間こそが、俺の狙い通りだ。

Khoảnh khắc đó chính là điều tôi mong muốn.

握り込んだ右拳を、ヴェルダナーヴァの無防備となった顔面に叩き込んだのである。

Tôi đã đấm nắm tay phải vào khuôn mặt không phòng bị của Verudanava.

ヴェルダナーヴァは吹き飛んでいって、〝天通閣〟の壁に激突して止まる。

Verudanava bị đánh bay đi, va vào tường của “Thiên Thông Các” rồi dừng lại.

それを見ていた俺は、スーーーーッと、頭が冴え渡るような気分になった。

Nhìn thấy cảnh đó, tôi cảm thấy đầu óc mình trở nên tỉnh táo một cách lạ thường.

全ての悩みが晴れたような、そんな感じだ。

Cảm giác như mọi phiền muộn đều tan biến.

一発だけでもぶん殴ってやらなきゃと思っていたが、その目標は達成した。

Tôi đã nghĩ rằng ít nhất cũng phải đấm cho một phát, và mục tiêu đó đã đạt được.

次は、完全勝利を目指すとしよう。

Tiếp theo, hãy nhắm đến một chiến thắng hoàn toàn.

『可哀そうなのはな、お前だけじゃないんだよ』

“Người đáng thương không chỉ có mình ngươi đâu”.

俺はヴェルダナーヴァまで歩み寄り、そう告げた。

Tôi bước đến gần Verudanava và nói.

この言葉は、ブーメランになる恐れがある。

Những lời này có thể sẽ trở thành gậy ông đập lưng ông.

痛みを知らぬ者が、傷ついている者に投げかけていい言葉ではないのだ。

Đây không phải là những lời mà một người không biết đến đau khổ có thể nói với một người đang bị tổn thương.

俺だって、仲間に何かあったら冷静ではいられないだろう。

Tôi cũng vậy, nếu có chuyện gì xảy ra với đồng đội, chắc chắn tôi cũng không thể giữ được bình tĩnh.

しかし、だ。

Thế nhưng,

ヴェルダナーヴァが、自分の悲劇に世界を巻き込もうとするのなら──俺が言うしかないではないか。

Nếu Verudanava định lôi cả thế giới vào bi kịch của mình... thì chẳng phải tôi là người phải nói ra sao.

俺はお前のようにならない──とは断言出来ないが、そんな未来の話をしてどうなる。

Tôi không thể khẳng định rằng mình sẽ không trở nên giống như ngươi... nhưng nói về một tương lai như vậy thì có ích gì.

今が大事なのだ。

Hiện tại mới là quan trọng.

今を失えば、未来もなくなってしまうのだよ。

Nếu đánh mất hiện tại, thì tương lai cũng sẽ không còn.

『お前の悲しみは理解出来るとか、綺麗ごとを言う気はないよ。どうせ嘘くさくなるだけだからな』

“Ta không có ý định nói những lời sáo rỗng như “ta hiểu được nỗi buồn của ngươi” đâu. Vì dù sao nó cũng chỉ trở nên giả dối mà thôi”.

同じ痛みを分かち合えない者からの慰めなんて、本当の意味で心に届く事はないだろう。

Sự an ủi từ những người không thể chia sẻ cùng một nỗi đau, chắc chắn sẽ không thể nào chạm đến trái tim một cách thật sự.

人は悲しみから、自力で立ち直るしかないからだ。

Bởi vì con người chỉ có thể tự mình đứng dậy từ nỗi buồn.

他人に出来るのは、ただ寄り添ってあげるだけ。そして、悲劇に見舞われて間違った道に進もうとしているのなら、それを正してやるくらいだった。

Điều mà người khác có thể làm chỉ là ở bên cạnh họ. Và, nếu họ đang đi sai đường vì gặp phải bi kịch, thì chỉ có thể sửa chữa điều đó.

だから、俺は告げるのだ。

Vì vậy, tôi nói.

『その代わり、お前がやろうとしている行為は愚かだと、全力で否定してやる。お前が神だろうが何だろうが、知った事か! 全身全霊で、お前に抗ってやるさ!!』

“Thay vào đó, ta sẽ dùng toàn bộ sức lực để phủ nhận hành động ngu ngốc mà ngươi đang định làm. Ngươi là Thần hay gì đi nữa, ta không quan tâm! Bằng cả thể xác và linh hồn, ta sẽ chống lại ngươi!!”

どちらの主張が正しいのかは、勝者が決めればいい。

Ai đúng ai sai, cứ để kẻ chiến thắng quyết định.

どっちにしろ、勝たなければ終わるのだから、後の事を気にしても仕方ないのだ。

Dù sao đi nữa, nếu không thắng thì cũng sẽ kết thúc, nên lo lắng về chuyện sau này cũng vô ích.

目の前が開けた気分だ。

Tôi cảm thấy như mọi thứ trước mắt đã sáng tỏ.

俺は俺の正義を貫くだけだった。

Tôi chỉ việc貫徹 chính nghĩa của mình mà thôi.

『──笑わせる』

“...Làm ta buồn cười quá”.

ヴェルダナーヴァはそう言いながら、ゆらりと立ち上がった。

Verudanava vừa nói vừa lảo đảo đứng dậy.

殴ったくらいじゃ、大したダメージではなさそうだ。

Chỉ đánh một cú thì có vẻ không gây ra nhiều sát thương.

俺は力を込めて、〝希望(エルピス)〟と名付けた愛刀を握りしめた。

Tôi dồn sức, siết chặt thanh kiếm yêu quý mang tên “Hi Vọng (Elpis)”.

すると、力強い鼓動が感じられる気がして、力が湧いてくる。

Và rồi, tôi có cảm giác như nghe thấy một nhịp đập mạnh mẽ, và sức mạnh lại trỗi dậy.

ヴェルダナーヴァも、剣を構えた。

Verudanava cũng cầm kiếm lên.

先程までと違って、本気で俺を敵だと認識した様子である。

Khác với lúc nãy, có vẻ ngài đã thực sự coi tôi là kẻ thù.

光栄に思うべきだが、攻略難易度が上がったようで頭が痛い。泣き言を言っている場合ではないので、俺は気にするのを止めて剣を打ち込んだ。

Đáng lẽ nên cảm thấy vinh dự, nhưng độ khó攻略 lại tăng lên khiến tôi đau đầu. Đây không phải lúc để than vãn, nên tôi ngừng bận tâm và vung kiếm.

ヴェルダナーヴァは避けなかった。

Verudanava không né tránh.

剣で受け止めもせず、俺の剣をスルーしたのである。

Ngài cũng không dùng kiếm đỡ đòn, mà cứ thế lướt qua kiếm của tôi.

その結果、そのまま肩に当たったのだが……。

Kết quả là, nó đã trúng vào vai ngài...

木刀で鉄の塊を殴ったような感触がした。手が痺れるような感覚があるが、これは俺の力が跳ね返されたからだと思う。

Tôi có cảm giác như đang dùng một thanh kiếm gỗ đánh vào một khối sắt. Tay tôi có cảm giác tê rần, tôi nghĩ đó là do sức mạnh của mình bị bật lại.

しかも、打ち込み終えて無防備になった俺に、ヴェルダナーヴァの剣が振り下ろされる。

Hơn nữa, khi tôi vừa kết thúc đòn tấn công và trở nên không phòng bị, thanh kiếm của Verudanava đã vung xuống.

俺は慌てて、スライム状態に戻った。

Tôi vội vàng trở lại dạng Slime.

これも緊急だったからか、実にスムーズに成功する。そのお陰で、間一髪ながら回避に成功したのだった。

Có lẽ cũng vì là tình huống khẩn cấp, nên việc này đã thành công một cách rất suôn sẻ. Nhờ vậy, tôi đã né tránh thành công trong gang tấc.

俺は転がるようにしてヴェルダナーヴァから距離を取り、再びサトル状態に変化した。

Tôi lăn người để giữ khoảng cách với Verudanava, rồi lại biến thành trạng thái Satoru.

そして剣を構え、今の攻防について思案する。

Và rồi tôi cầm kiếm lên, suy ngẫm về cuộc chiến vừa rồi.

硬い感触だったが、あれは『多重結界』によるものだ。そして問題なのは、俺のスキルが封じられたような気配があった事である。

Cảm giác rất cứng, nhưng đó là do “Đa Trùng Kết Giới”. Và vấn đề là, tôi có cảm giác như kĩ năng của mình đã bị phong ấn.

いや、待てよ?

Không, chờ đã?

そもそも、今の剣技には魔法効果が付与されていないから、単純な闘気剣(オーラソード)のような状態でしかない。

Vốn dĩ, kĩ thuật kiếm hiện tại không có hiệu ứng ma pháp đi kèm, nên nó chỉ đơn thuần là một trạng thái giống như Đấu Khí Kiếm (Aura Sword).

複合技なら『結界』などで防ぐのは困難なのだが、単純な技なら完封出来てしまうのだ。

Nếu là kĩ thuật kết hợp thì khó có thể phòng thủ bằng “Kết Giới” hay gì đó, nhưng nếu là kĩ thuật đơn giản thì có thể hóa giải hoàn toàn.

ユウキの『能力殺封(アンチスキル)』などもそうだったが──って、ヴェルダナーヴァなら使えて当然だった。

“Phong Sát Kĩ Năng (Anti Skill)” của Yuki cũng vậy... mà nếu là Verudanava thì việc sử dụng được nó là điều hiển nhiên.

となると、魔法が使用出来ない〝停止世界〟では、魔法と剣技を融合させた暴風黒魔斬(ストームブレイク)なんかも使えない訳だ。なので仕方なく闘気(オーラ)を纏(まと)わせただけだったのだが、その程度の技術(アーツ)では、ヴェルダナーヴァの『結界』には通用しなかったという事である。

Vậy thì, trong “Thế Giới Ngưng Đọng” không thể sử dụng ma pháp, có nghĩa là Bạo Phong Hắc Ma Trảm (Storm Break) kết hợp ma pháp và kiếm kĩ cũng không thể sử dụng. Vì vậy tôi đành phải bọc đấu khí (aura) vào, nhưng với trình độ kĩ thuật đó thì không thể xuyên qua được “Kết Giới” của Verudanava.

つまり……打つ手なし?

Nói cách khác... hết cách rồi sao?

いやいや、諦めるのはまだ早い。

Không không, từ bỏ còn quá sớm.

ラミリスが使っていた原初の魔法(プリミティブマジック)とかあるし、あれを解析出来れば……。

Còn có cả Ma Pháp Nguyên Sơ (Primitive Magic) mà Lamrys đã sử dụng, nếu có thể phân tích được nó...

って、無理だな。

...Không thể được rồi.

シエルさんがいれば、俺が頼まなくても嬉々として解析して、既に使えるようになっていたはずだ。しかし残念ながら、今はいないので頼れないのである。

Nếu có Ciel-san ở đây, thì dù tôi không nhờ, cô ấy cũng sẽ vui vẻ phân tích và chắc chắn đã có thể sử dụng được rồi. Nhưng thật không may, bây giờ cô ấy không có ở đây nên không thể trông cậy được.

となると、自力で頑張るしかない訳で、俺に出来る事と言えば──

Vậy thì, chỉ còn cách tự mình cố gắng, và những gì tôi có thể làm là...

そうだ!

Đúng rồi!

俺はふと思いついた。

Tôi chợt nghĩ ra.

そう言えば、『虚無崩壊』があったな、と。

Mà nói mới nhớ, còn có “Hư Vô Băng Hoại” nữa.

ベニマルの治療時には、マイナスエネルギーの『虚無』をプラスエネルギーに変換する、という荒業まで成功したのだ。今回はその『虚無』を、剣に纏わせてぶつけるという作戦でいく。

Trong lúc chữa trị cho Benimaru, tôi thậm chí còn thành công trong việc biến đổi năng lượng âm của “Hư Vô” thành năng lượng dương. Lần này, tôi sẽ dùng chiến thuật bọc “Hư Vô” vào kiếm và tấn công.

スキルそのままでは無効化されそうだが、この『虚無』に関しては権能じゃないし、自然界──には存在しないからちょっと違うが──のエネルギーを利用するだけだ。通用する可能性が高そうだった。

Nếu dùng kĩ năng nguyên bản thì có vẻ sẽ bị vô hiệu hóa, nhưng “Hư Vô” này không phải là quyền năng, mà chỉ là tận dụng năng lượng của thế giới tự nhiên... à không, nó không tồn tại trong tự nhiên nên có hơi khác, nhưng khả năng có tác dụng là rất cao.

それだけではなく、使い勝手がいい『魂暴喰』だってある。

Không chỉ vậy, còn có “Cắn Nuốt Linh Hồn” rất tiện dụng nữa.

これも剣と連動させて──っと、上手くいった。

Kết hợp nó với kiếm... được rồi, thành công.

名付けたお陰か、俺と剣が一心同体になったような感覚がある。なので、剣の刃部分に集中させて『魂暴喰』を発動させるという、面白い使い方が出来そうだと思ったのだ。

Có lẽ là nhờ đã đặt tên, tôi có cảm giác như mình và thanh kiếm đã trở thành một. Vì vậy, tôi đã nghĩ ra một cách sử dụng thú vị, đó là tập trung vào phần lưỡi kiếm và kích hoạt “Cắn Nuốt Linh Hồn”.

狙い通りだった。これで、期待通りの効果が得られそうである。

Đúng như dự đoán. Với cái này, có lẽ sẽ đạt được hiệu quả như mong đợi.

剣に纏わせた『虚無』によって、敵のエネルギーを消失させる。その消失分は、『魂暴喰』によって俺が吸収する、という流れだな。

Dùng “Hư Vô” bọc quanh kiếm để tiêu diệt năng lượng của kẻ địch. Phần năng lượng bị tiêu diệt đó, tôi sẽ hấp thụ bằng “Cắn Nuốt Linh Hồn”.

一撃では無理でも、剣を打ち込み続ければ、どんな防御だろうが破れそうな気がする。

Dù một đòn không thể, nhưng nếu liên tục tấn công bằng kiếm, tôi có cảm giác có thể phá vỡ bất kì lớp phòng thủ nào.

それはヴェルダナーヴァでも例外ではないんじゃないか?

Ngay cả Verudanava cũng không phải là ngoại lệ, phải không?

まあ、悩むより試すのが先だった。

Mà, thay vì do dự thì nên thử trước.

俺はそう判断して、ヴェルダナーヴァに斬りかかった。

Tôi phán đoán như vậy và lao vào tấn công Verudanava.

すると、驚くべき事に──

Và rồi, một điều đáng kinh ngạc đã xảy ra...

サクッと『結界』を斬り裂けたのである。

Tôi đã chém rách “Kết Giới” một cách dễ dàng.

これにはヴェルダナーヴァも驚いたようだ。

Điều này có vẻ cũng khiến Verudanava ngạc nhiên.

『今、何をした?』

“Ngươi vừa làm gì?”

俺もビックリしていたが、それを悟られないように、余裕の態度を崩さず答える。

Tôi cũng rất ngạc nhiên, nhưng để không bị phát hiện, tôi vẫn giữ thái độ ung dung và trả lời.

『斬ったんだよ』

“Chém thôi”.

『……愚問だったね。敵に対して、真面目に答えるはずもないか』

“...Đúng là một câu hỏi ngớ ngẩn. Đối với kẻ thù, không có lí do gì để trả lời một cách nghiêm túc cả”.

教える気はなかったが、そんなにアッサリ流されると、天邪鬼な俺としては教えたくなる。

Tôi không có ý định nói, nhưng bị phớt lờ một cách dễ dàng như vậy, một Thiên Tà Quỷ như tôi lại muốn nói ra.

『新技さ。名付けて──〝虚(こ)喰(くう)崩(ほう)剣(けん)〟──かな』

“Một chiêu mới. Tên nó là... “Hư Thực Băng Kiếm”... chăng”.

思い付きで試しただけだが、大成功だった。

Chỉ là thử nghiệm theo cảm hứng, nhưng đã thành công rực rỡ.

それにしても、凄い威力である。

Dù vậy, uy lực của nó thật đáng kinh ngạc.

これが基本形で、更に発展させられそうなのだ。

Đây là dạng cơ bản, và có vẻ như có thể phát triển thêm nữa.

俺の奥義にも組み込めそうなので、ヴェルダナーヴァとの戦いでも活用出来そうだ。

Có lẽ có thể kết hợp nó vào奥義 của tôi, nên có thể sẽ hữu ích trong trận chiến với Verudanava.

それよりも大事なのは、ヴェルダナーヴァの『多重結界』や『能力殺封(アンチスキル)』を破れた事である。これで俺の攻撃も通用すると証明されたので、勝ち筋が見えてきた。

Quan trọng hơn là việc đã phá vỡ được “Đa Trùng Kết Giới” và “Phong Sát Kĩ Năng (Anti Skill)” của Verudanava. Điều này chứng minh rằng đòn tấn công của tôi cũng có tác dụng, nên tôi đã thấy được con đường dẫn đến chiến thắng.

ヴェルダナーヴァを倒せる見込みが出て、俺はニヤリと笑みを浮かべたのだった。

Cơ hội đánh bại Verudanava đã xuất hiện, và tôi nở một nụ cười nhếch mép.

ヴェルダナーヴァは困惑していた。

Verudanava bối rối.

リムルという過去には存在しなかった人物が、最大の障害となるなど予想外だった。

Một người chưa từng tồn tại trong quá khứ như Rimuru lại trở thành chướng ngại vật lớn nhất, đó là điều không thể ngờ tới.

極大特異点(シンギュラリティ)だと断じていたが、もっと恐るべき存在だったようだ。

Dù đã khẳng định đó là một Điểm kì dị Cực đại (Singularity), nhưng có vẻ như đó là một tồn tại còn đáng sợ hơn.

殴られたのも久しぶりならば、正面からの戦いで身体に傷を負った経験など初めてだった。

Đã lâu rồi mới bị đánh, và đây là lần đầu tiên anh bị thương trong một trận chiến trực diện.

ギィとの勝負の時でさえ、特に苦戦した記憶がない。まして、ここまで追い詰められたりするなど、絶対に有り得なかったのだ。

Ngay cả trong trận đấu với Guy, anh cũng không nhớ mình đã gặp khó khăn gì. Huống chi là bị dồn vào chân tường đến mức này, đó là điều tuyệt đối không thể xảy ra.

それが、今は違った。

Nhưng bây giờ đã khác.

リムルに対して危機感を抱くほどに、ヴェルダナーヴァの思い通りに事が進まない。

Đến mức phải cảm thấy nguy hiểm trước Rimuru, mọi chuyện không diễn ra theo ý muốn của Verudanava.

リムルは戦いながらも、どんどん強さを増している。

Rimuru, vừa chiến đấu vừa ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn.

どうやら実戦の中で戦い方を模索しているらしく、経験を積めば積むほど技に磨きがかかっていた。

Có vẻ như cậu ta đang tìm kiếm cách chiến đấu trong thực chiến, và càng tích lũy kinh nghiệm, kĩ năng của cậu càng được mài giũa.

心底驚かされたのは、原初の魔法(プリミティブマジック)を無効化された瞬間だ。

Điều khiến tôi thực sự kinh ngạc là khoảnh khắc Ma Pháp Nguyên Sơ (Primitive Magic) bị vô hiệu hóa.

完全に心を折って戦う意思を挫(くじ)くべく、リムルの仲間を含めて、この地に集っている者達を始末しようとした。

Để hoàn toàn bẻ gãy tinh thần và dập tắt ý chí chiến đấu, ngài đã định sẽ tiêu diệt tất cả những người tập trung ở đây, bao gồm cả đồng đội của Rimuru.

ヴェルダナーヴァにとって価値があるのは、自身と繋がりのある者だけだ。昔なら、ありとあらゆる生命が大切だと思えたものだが、今となっては理解出来ない感情となっている。

Đối với Verudanava, chỉ có những người có mối liên hệ với ngài mới có giá trị. Ngày xưa, ngài đã từng nghĩ rằng mọi sinh mệnh đều quý giá, nhưng bây giờ đó đã là một cảm xúc không thể hiểu được.

それ故に、この世界を守ろうとする英雄達であっても、滅ぼすのに躊躇(ためら)いなどなかった。何の遠慮も手加減もせず、全員を焼き尽くすつもりだったのだ。

Vì vậy, dù là những anh hùng cố gắng bảo vệ thế giới này, ngài cũng không hề do dự mà hủy diệt họ. Không chút ngần ngại hay nương tay, ngài định sẽ thiêu rụi tất cả.

それなのに、リムルは防いでみせたのである。

Vậy mà, Rimuru đã ngăn chặn được.

この事実は、リムルがヴェルダナーヴァに並ぶ実力を有している、という事を意味していた。

Sự thật này có nghĩa là Rimuru có thực lực ngang ngửa với Verudanava.

最初から舐めてかかっていた訳ではないが、負けはしないという絶対の自信があった。それが今、ヴェルダナーヴァでさえも勝ちが確信出来ない状況に陥っていたのである。

Dù không phải là đã coi thường ngay từ đầu, nhưng ngài có một niềm tin tuyệt đối rằng mình sẽ không thua. Nhưng bây giờ, ngay cả Verudanava cũng rơi vào tình huống không thể chắc chắn về chiến thắng.

しかし、それもまた想定内だ。

Nhưng điều đó cũng đã nằm trong dự tính.

嬉しい誤算だとも言えた。

Cũng có thể nói là một sai lầm đáng mừng.

何故ならば、ヴェルダナーヴァでさえも自分の行動が正しいのかどうか、確信が持てずにいたからだ。

Bởi vì, ngay cả Verudanava cũng không chắc chắn liệu hành động của mình có đúng hay không.

………

...

……

...

...

世界を維持するのは大変だ。

Duy trì thế giới là một việc khó khăn.

人に欲望を与えなければ、発展はない。

Nếu không cho con người tham vọng, sẽ không có sự phát triển.

人に死を与えなければ、世界は退廃に満ちて滅びへの道を歩み始めてしまう。

Nếu không cho con người cái chết, thế giới sẽ tràn ngập sự suy đồi và bắt đầu con đường dẫn đến diệt vong.

暇を持て余すようになった超人類の末路は、どれも悲惨なものだったのだ。

Kết cục của những siêu nhân trở nên rảnh rỗi, tất cả đều rất bi thảm.

天敵を用意して、適度な緊張感を持たせた方がマシだった。

Chuẩn bị sẵn kẻ thù tự nhiên và tạo ra một sự căng thẳng vừa phải còn tốt hơn.

しかしその処置は、世界に不幸を撒き散らす結果に繋がった。

Tuy nhiên, biện pháp đó lại dẫn đến kết quả là gieo rắc bất hạnh cho thế giới.

人は死ぬ。

Con người sẽ chết.

故に、常に別れの恐怖が付きまとうようになってしまった。

Vì vậy, nỗi sợ hãi về sự chia ly đã luôn đeo bám.

天寿を全うしたなら笑って見送れるが、そうした幸運な者達は少ない。

Nếu sống trọn vẹn tuổi trời thì có thể mỉm cười tiễn biệt, nhưng những người may mắn như vậy rất ít.

夢半ばで死ぬ者もいれば、理不尽に生を奪われる者もいた。

Có người chết đi khi còn dang dở ước mơ, cũng có người bị cướp đi sinh mạng một cách phi lí.

かと言って……寿命を設定しなければ、世界は澱んでしまうのだ。

Nhưng nếu không đặt ra giới hạn tuổi thọ... thì thế giới sẽ trở nên trì trệ.

最終的には、輪(りん)廻(ね)転(てん)生(しょう)というシステムを構築して、世界を管理する事にした。

Cuối cùng, ngài đã quyết định quản lí thế giới bằng cách xây dựng một hệ thống gọi là Luân Hồi Chuyển Sinh.

より良き世界を目指して、人は生きる。

Con người sống để hướng tới một thế giới tốt đẹp hơn.

数多の不幸を乗り越える事で〝魂〟を研(けん)鑽(さん)して、次の世代へと託していく。

Vượt qua vô số bất hạnh để mài giũa “linh hồn” và giao phó cho thế hệ tiếp theo.

人の心に秘められた意思──生き抜く力に賭けたのだ。

Ngài đã đặt cược vào ý chí ẩn giấu trong trái tim con người... sức mạnh để sinh tồn.

そうして解脱に至った者は〝約束の場所〟に辿り着く事になる。

Và những người đạt đến sự giải thoát sẽ đến được “nơi hứa hẹn”.

──しかし、予期せぬ不幸が全てを狂わせた──

...Nhưng, một bất hạnh không lường trước đã làm đảo lộn tất cả...

ヴェルダナーヴァの妻──ルシアも、そうなるべき人だった。

Vợ của Verudanava... Lucia, cũng là một người đáng lẽ phải như vậy.

それなのに、凶刃に倒れて帰らぬ人となり、ヴェルダナーヴァは自分の考えに疑いを抱くようになってしまったのだ。

Vậy mà, cô đã ngã xuống dưới lưỡi dao hung tợn và không bao giờ trở về, khiến Verudanava bắt đầu nghi ngờ chính suy nghĩ của mình.

世界を滅ぼすべきか?

Có nên hủy diệt thế giới không?

それとも、今までのように見守るべきか?

Hay là, nên tiếp tục quan sát như từ trước đến nay?

答えは、わからない。

Câu trả lời, không có.

だからこそ、〝賭け〟に出たのである。

Chính vì vậy, ngài đã đánh cược.

そんなヴェルダナーヴァの前に立ち塞がったのが、今目の前にいるリムルだった。

Người đứng chắn trước mặt Verudanava lúc đó, chính là Rimuru đang đứng trước mặt ngài bây giờ.

………

...

……

...

...

リムルとの攻防は、激しさを増していた。

Cuộc chiến với Rimuru ngày càng trở nên khốc liệt.

リムルは、ヴェルダナーヴァでさえ予測がつかない存在となっていた。

Rimuru đã trở thành một tồn tại mà ngay cả Verudanava cũng không thể đoán trước được.

あらゆる攻撃に対応可能な、『多重結界』と『能力殺封(アンチスキル)』の複合防御も、リムルの剣によって斬り裂かれてしまった。

Hệ thống phòng thủ kết hợp giữa “Đa Trùng Kết Giới” và “Phong Sát Kĩ Năng (Anti Skill)” có thể đối phó với mọi đòn tấn công cũng đã bị kiếm của Rimuru chém rách.

〝虚(こ)喰(くう)崩(ほう)剣(けん)〟と名付けたらしいが、この技もヴェルダナーヴァとの戦いの最中に編み出したものらしい。

Có vẻ như nó được đặt tên là “Hư Thực Băng Kiếm”, và kĩ thuật này dường như cũng được tạo ra trong lúc chiến đấu với Verudanava.

その言葉を鵜呑みにするならばの話だが、疑う要素がないので真実なのだろうと思われた。

Nếu tin vào những lời đó, thì có lẽ là sự thật vì không có yếu tố nào để nghi ngờ.

という事で、リムルの異常性が証明されていく。

Vì vậy, sự bất thường của Rimuru đang được chứng minh.

〝魂〟もないのに動けている時点でオカシイのだが、リムルはヴェルダナーヴァから見ても理不尽な存在だった。

Chỉ riêng việc có thể cử động mà không có “linh hồn” đã là kì lạ, nhưng đối với Verudanava, Rimuru là một tồn tại phi lí.

(思い当たるのは──神智核(マナス)、か?)

(Thứ mà ta nghĩ đến là... Lõi Thần Trí (Manas), sao?)

神智核(マナス)──特異な進化を遂げた情報生命体(デジタルネイチャー)である。〝情報子〟の集合体に自我が芽生えた存在であり、自己の〝魂〟は有さず宿主に寄生して共存しなければ、その存在を維持出来ないという特徴があった。

Lõi Thần Trí (Manas)... một Thể sống thông tin (Digital nature) đã trải qua một sự tiến hóa đặc biệt. Đó là một tồn tại mà bản ngã đã nảy sinh từ một tập hợp “hạt thông tin”, không có “linh hồn” của riêng mình và phải ký sinh vào vật chủ để cùng tồn tại, nếu không sẽ không thể duy trì được sự tồn tại của mình.

ただし、その影響力は絶大だ。

Tuy nhiên, sức ảnh hưởng của nó lại vô cùng lớn.

〝情報子〟への干渉が可能であり、途(と)轍(てつ)もない演算能力を有している。

Nó có thể can thiệp vào “hạt thông tin” và sở hữu một khả năng tính toán phi thường.

それを駆使する事で、事象を司る法則の書き換えが容易になるし、数多の権能の使用効率も最大化させられる。つまり、魔法やスキルを意のままに操れるようになる、という事なのである。

Bằng cách vận dụng nó, việc viết lại các quy luật chi phối sự vật trở nên dễ dàng hơn, và hiệu quả sử dụng của vô số quyền năng cũng được tối đa hóa. Nói cách khác, có thể điều khiển ma pháp và kĩ năng theo ý muốn.

そんな神智核(マナス)と同等の存在なのだとしたら、リムルの成長速度が異常なのも理解出来なくはない。下手に出し惜しみして失敗などしようものなら、リムルの強化に繋がりかねないのだ。

Nếu là một tồn tại tương đương với Lõi Thần Trí (Manas), thì việc tốc độ trưởng thành của Rimuru bất thường cũng không phải là không thể hiểu được. Nếu bất cẩn nương tay và thất bại, điều đó có thể sẽ dẫn đến việc Rimuru trở nên mạnh hơn.

これ以上、成長の余地を与えるのは得策ではなさそうだ──と、ヴェルダナーヴァは判断した。

Cho phép nó có thêm cơ hội trưởng thành nữa không phải là một kế sách hay... Verudanava đã phán đoán như vậy.

ヴェルダナーヴァは、更に思考する。

Verudanava suy nghĩ thêm.

自身に届き得る刃を手に入れたリムルに対し、最善手は何なのか?

Đối với Rimuru, kẻ đã có được một lưỡi dao có thể chạm tới mình, đâu là nước đi tốt nhất?

一撃で倒すのが理想だが、そうなると手立ては少ない。それでも、やるべきだった。

Lí tưởng là đánh bại trong một đòn, nhưng như vậy thì có ít phương pháp. Dù vậy, vẫn phải làm.

自分が正しいのか間違っているのか、その答えが決着の先にある。

Mình đúng hay sai, câu trả lời nằm ở sau khi trận đấu kết thúc.

であるならば、全力を尽くすべきなのだ。

Nếu vậy, thì phải dốc toàn lực.

(──ボクの権能の中で最強の攻撃手段となると、竜星爆炎覇(ドラゴ・ノヴァ)──なんだけれど、恐らく、これは通じない)

(...Trong số các quyền năng của ta, phương tiện tấn công mạnh nhất là Long Tinh Bộc Viêm Bá (Drago Nova)... nhưng có lẽ, nó sẽ không có tác dụng).

原初の魔法(プリミティブマジック)すら喰らったリムルならば、竜星爆炎覇(ドラゴ・ノヴァ)であろうが呑み干してしまうだろう。

Nếu là Rimuru, kẻ đã nuốt chửng cả Ma Pháp Nguyên Sơ (Primitive Magic), thì dù là Long Tinh Bộc Viêm Bá (Drago Nova), cậu ta cũng sẽ nuốt trọn.

ミリムが連発していても無事だった上に、直撃を浴びても無事だったという記録もある。威力や範囲は違えども、原理は同じなのだ。ヴェルダナーヴァが放ったとて、結果は同じになると予想された。

Không chỉ là vẫn bình an dù Millim liên tục sử dụng, mà còn có ghi chép rằng cậu ta vẫn bình an sau khi hứng chịu trực diện. Dù uy lực và phạm vi khác nhau, nhưng nguyên lí là giống nhau. Dù cho Verudanava có tung ra, kết quả được dự đoán là sẽ không thay đổi.

そうなると、禁断の技しか残っていない。

Nếu vậy, chỉ còn lại một kĩ thuật cấm kị.

(──コレは、新たな世界を創造する時しか使う気はなかったんだけどな)

(...Cái này, ta chỉ định dùng khi tạo ra một thế giới mới thôi).

それは、もしもの時の切り札だった。

Đó là con át chủ bài cho những trường hợp bất đắc dĩ.

──〝天地崩滅覇界(イニシャライズ・ヘブン)〟──

...“Thiên Địa Băng Diệt Bá Giới (Initialize Heaven)”...

世界を初期化して、再構築する技法だ。

Một kĩ thuật khởi tạo và tái cấu trúc lại thế giới.

ヴェルダナーヴァが基軸世界を誕生させた際に用いたのは、〝楽園開闢(ビギニング・エデン)〟という究極の〝神(かみ)業(わざ)〟だった。

Khi Verudanava tạo ra thế giới cốt lõi, ngài đã sử dụng một “thần kĩ” tối thượng gọi là “Lạc Viên Khai Mở (Beginning Eden)”.

この奥義を使用した事でヴェルダナーヴァは『虚無崩壊』を喪失し、『全知全能』ではなくなった。その上で、創造した世界に降り立つ事に成功したのである。

Sử dụng奥義 này, Verudanava đã mất đi “Hư Vô Băng Hoại” và không còn “Toàn trí toàn năng” nữa. Và sau đó, ngài đã thành công trong việc hạ xuống thế giới mà mình đã tạo ra.

今となっては〝神(かみ)業(わざ)〟など扱えないので、次点となる〝天地崩滅覇界(イニシャライズ・ヘブン)〟こそが、ヴェルダナーヴァが扱える最強神技という事になる。

Bây giờ không thể sử dụng “thần kĩ” nữa, nên “Thiên Địa Băng Diệt Bá Giới (Initialize Heaven)” đứng thứ hai mới là thần kĩ mạnh nhất mà Verudanava có thể sử dụng.

これならば、リムルを含めた遍く世界を滅ぼしてしまえるはずだった。

Với cái này, ngài đáng lẽ có thể hủy diệt toàn bộ thế giới, bao gồm cả Rimuru.

もっとも、今使うのは想定外ではある。

Tuy nhiên, việc sử dụng nó bây giờ là điều không lường trước.

何故ならば、〝天地崩滅覇界(イニシャライズ・ヘブン)〟では選別が出来ないからだ。再構築される次代の世界へと、友人達を連れて行けなくなるのである。

Bởi vì, với “Thiên Địa Băng Diệt Bá Giới (Initialize Heaven)”, không thể nào sàng lọc được. Ngài sẽ không thể mang theo bạn bè của mình đến thế giới tiếp theo được tái cấu trúc.

それにまだ、愛するルシアの〝因子〟を集め終えていなかった。

Hơn nữa, ngài vẫn chưa thu thập xong “nhân tố” của Lucia yêu dấu.

イヴァラージェはヴェルダナーヴァの半身であり、〝天地崩滅覇界(イニシャライズ・ヘブン)〟を経ても生き残るだろうが、完全なルシアには程遠いだろう。

Ivalage là nửa còn lại của Verudanava, và dù có trải qua “Thiên Địa Băng Diệt Bá Giới (Initialize Heaven)” thì có lẽ vẫn sẽ sống sót, nhưng sẽ còn rất xa mới trở thành Lucia hoàn chỉnh.

失われた『虚無崩壊』があれば、全ての世界を取り込んで情報の洗い出しも可能だっただろうが、今のヴェルダナーヴァには不可能な技術だ。世界が消滅してしまえば、ルシアの〝情報子〟も失われてしまうのだった。

Nếu còn có “Hư Vô Băng Hoại” đã mất, thì có lẽ đã có thể hợp nhất tất cả các thế giới và sàng lọc thông tin, nhưng đó là một kĩ thuật mà Verudanava hiện tại không thể thực hiện được. Nếu thế giới biến mất, thì “hạt thông tin” của Lucia cũng sẽ mất đi.

そういう訳で〝天地崩滅覇界(イニシャライズ・ヘブン)〟を用いるかどうかは、ヴェルダナーヴァとしても苦渋の決断となる。

Vì vậy, việc có sử dụng “Thiên Địa Băng Diệt Bá Giới (Initialize Heaven)” hay không là một quyết định khó khăn đối với Verudanava.

ただし、難しく考える必要はない。

Tuy nhiên, không cần phải suy nghĩ phức tạp.

不完全であろうが、ルシアはルシアだ。

Dù không hoàn hảo, nhưng Lucia vẫn là Lucia.

ヴェルダナーヴァが勝利すれば、それは正しい選択だったという事になるのだ。

Nếu Verudanava chiến thắng, thì đó sẽ trở thành một lựa chọn đúng đắn.

新たな世界は、今の世界よりもマシであろう。

Thế giới mới chắc chắn sẽ tốt hơn thế giới hiện tại.

約束の場所に辿り着いた者達と一緒に、より完全な世界を創るつもりだった。

Cùng với những người đã đến được nơi hứa hẹn, ngài định sẽ tạo ra một thế giới hoàn hảo hơn.

弟妹であるヴェルザード達も〝竜種〟なので、新世界で再び誕生するだろう。記憶が引き継がれないように処理しておけば、以前のようにヴェルダナーヴァを慕ってくれるはずだ。

Các em trai và em gái của ngài như Veruzado cũng là “Long chủng”, nên họ sẽ lại được sinh ra trong thế giới mới. Nếu xử lí để kí ức không được kế thừa, thì họ chắc chắn sẽ lại ngưỡng mộ Verudanava như trước đây.

娘のミリムだって、再び生まれ変わるはずである。

Ngay cả con gái Millim cũng chắc chắn sẽ được tái sinh.

今度は、一人じゃないから寂しくない。

Lần này, không còn một mình nên không cô đơn.

世界の構築だって二度目になるので、もっと上手くやれるはずだった。

Việc xây dựng thế giới cũng là lần thứ hai, nên chắc chắn sẽ làm tốt hơn.

リムルを倒せば、そうした未来が訪れるのだ。

Nếu đánh bại Rimuru, một tương lai như vậy sẽ đến.

(理想を追い求めて失敗するよりも、最善を選択すべきだ)

(Thay vì theo đuổi lí tưởng và thất bại, nên chọn lựa giải pháp tốt nhất).

こうして、天秤は傾いた。

Và thế là, cán cân đã nghiêng.

『どうやら、君を認めるしかなさそうだ。リムルだったね、神の御業でこの世界ごと消滅させて──』

“Có vẻ như ta không còn cách nào khác ngoài việc công nhận ngươi. Rimuru đúng không, ta sẽ dùng phép màu của Thần để tiêu diệt cả thế giới này...”

ヴェルダナーヴァは、世界を初期化しようと決断して──

Verudanava quyết định sẽ khởi tạo lại thế giới...

《それは許容出来ません》

“Điều đó không thể chấp nhận được”.

《そうね、それはやり過ぎだわ》

“Đúng vậy, thế thì quá đáng rồi”.

──何者かに、邪魔された。

...bị ai đó cản trở.

時が止まった世界の中で、ヴェルダナーヴァは『思考』の海に沈む。

Trong thế giới thời gian ngưng đọng, Verudanava chìm vào biển suy nghĩ.

ヴェルダナーヴァは戸惑った。

Verudanava bối rối.

神である自分の〝心核(ココロ)〟に、直接語りかけられたからだ。

Bởi vì ngài đã bị nói chuyện trực tiếp vào “tâm hạch (trái tim)” của mình, một vị thần.

一体誰に、そんな真似が可能なのか?

Rốt cuộc ai có thể làm được như vậy?

『まさか、ルシアなのか!?』

“Chẳng lẽ, là Lucia!?”

《いいえ、違います》

“Không, không phải”.

《ルシアは私よ》

“Lucia là ta đây”.

心の声に、答えがあった。

Trong giọng nói từ trái tim, có câu trả lời.

しかも、二つも。

Hơn nữa, còn có hai câu.

そしてその一方は、自らが〝ルシア〟であると言う。

Và một trong số đó, tự xưng là “Lucia”.

驚くべき事態に、ヴェルダナーヴァも動揺するしかない。

Trước tình huống đáng kinh ngạc này, Verudanava chỉ có thể bối rối.

何が──と思ったら、リムルから奪った〝魂〟が輝いていた。

Chuyện gì... tôi vừa nghĩ vậy thì “linh hồn” đã cướp từ Rimuru lại tỏa sáng.

声はそこから聞こえたのだ。

Giọng nói phát ra từ đó.

《主様(マスター)は万能なのですが、私がいては自分の功績を信じ切れない御様子でした。そこで、苦渋の決断として、貴方を利用させてもらったという訳です》

“Chủ nhân (Master) là người toàn năng, nhưng khi có tôi ở bên, ngài lại có vẻ không tin vào thành tựu của chính mình. Vì vậy, với một quyết định khó khăn, tôi đã phải lợi dụng ngài”.

何者かが、そう説明してくれた。

Ai đó đã giải thích như vậy.

『お前は、何者だ?』

“Ngươi là ai?”

《私は〝シエル〟──至高なるリムル様の為に存在する、神智核(マナス)です》

“Tôi là “Ciel”... một Lõi Thần Trí (Manas) tồn tại vì Rimuru-sama tối cao”.

自分を差し置いて至高とは面白い──と、ヴェルダナーヴァは思った。

Bỏ qua bản thân mình mà lại gọi kẻ khác là tối cao, thật thú vị... Verudanava nghĩ.

それ以前に、神智核(マナス)がここまで感情豊かに、自由気儘に行動するなど理解不能だ。

Trước đó, việc Lõi Thần Trí (Manas) có thể hành động một cách tự do, đầy cảm xúc như vậy là điều không thể hiểu nổi.

その言葉を信じるならばの話になるが、シエルと名乗った何者かは、ヴェルダナーヴァを利用したと言った。それはつまり、ワザとリムルから分離したという事になる。

Nếu tin vào những lời đó, thì người tự xưng là Ciel đã nói rằng đã lợi dụng Verudanava. Điều đó có nghĩa là cô ấy đã cố tình tách khỏi Rimuru.

『君が神智核(マナス)だというのは信じるとしても、君抜きでリムルが勝つと思っていたって話かな?』

“Dù có tin rằng ngươi là Lõi Thần Trí (Manas), nhưng có phải ngươi nghĩ rằng Rimuru có thể thắng mà không có ngươi không?”

ヴェルダナーヴァは、そう問いかけた。

Verudanava hỏi như vậy.

神智核(マナス)は、演算能力に特化している。

Lõi Thần Trí (Manas) chuyên về khả năng tính toán.

その存在は極秘であり、ほんの一部の者達にしか知られていないものの、スキルや魔法を発動させる上でこれ以上なく有用なのだ。

Sự tồn tại của nó là tuyệt mật, chỉ có một số ít người biết đến, nhưng nó vô cùng hữu ích trong việc kích hoạt kĩ năng và ma pháp.

その神智核(マナス)が、主の補佐という役割を自ら放棄するなど、ヴェルダナーヴァからしても信じ難い話であった。

Việc Lõi Thần Trí (Manas) đó tự mình từ bỏ vai trò hỗ trợ cho chủ nhân là một câu chuyện khó tin đối với Verudanava.

しかし、シエルは平然と答える。

Tuy nhiên, Ciel lại bình thản trả lời.

《私が補助しなくても、主様(マスター)の勝率は百パーセントでした。ですので、何の問題もありません。それに、もう一つ大事な目的がありましたので》

“Dù tôi không hỗ trợ, tỉ lệ chiến thắng của Chủ nhân (Master) vẫn là một trăm phần trăm. Vì vậy, không có vấn đề gì cả. Hơn nữa, tôi còn có một mục đích quan trọng khác”.

今の結果が証明しているとばかりに、リムルが勝つと確信しているからこその行動だ、とシエルは言うのだ。

Ciel nói rằng hành động của cô là do cô tin chắc rằng Rimuru sẽ thắng, như thể kết quả hiện tại đã chứng minh điều đó.

神たるヴェルダナーヴァを前にして、大した自信である。

Trước mặt một vị thần như Verudanava mà lại tự tin đến vậy.

しかし、その通りになりそうな現状があるので、ヴェルダナーヴァとしても複雑な気分であった。

Tuy nhiên, vì tình hình hiện tại có vẻ sẽ diễn ra đúng như vậy, nên Verudanava cũng có một cảm xúc phức tạp.

そんなヴェルダナーヴァを無視して、シエルが愚痴る。

Phớt lờ Verudanava, Ciel bắt đầu than thở.

《それにしても、主様(マスター)にも困ったものです。あの御姿を晒してしまうなんて、油断も隙もありませんね》

“Dù vậy, Chủ nhân (Master) cũng thật là phiền phức. Lại để lộ ra hình dạng đó, không thể lơ là cảnh giác được nhỉ”.

全く戦いと関係ない話だった。

Một câu chuyện hoàn toàn không liên quan đến trận chiến.

リムルが美少女めいた外見から、大人の男性の姿へ変化したのだが、シエルにはそれが不満なのだ。まさかそんな行動を取るとは思っておらず、計算外だったのである。

Rimuru đã biến đổi từ ngoại hình giống một thiếu nữ xinh đẹp thành một người đàn ông trưởng thành, nhưng Ciel lại không hài lòng về điều đó. Cô không ngờ cậu sẽ làm như vậy, đó là một điều nằm ngoài tính toán.

でも、逆に安心もしていた。

Nhưng ngược lại, cô cũng cảm thấy yên tâm.

シエルは、リムルが心配だったのだ。

Ciel đã lo lắng cho Rimuru.

無敵なのに、それを全く自覚していない。

Dù là vô địch, nhưng cậu lại hoàn toàn không nhận thức được điều đó.

頼られたら断れず、責任感だけで重圧に立ち向かう。

Nếu được nhờ vả thì không thể từ chối, và chỉ bằng tinh thần trách nhiệm mà đối mặt với áp lực.

そんなお人好しで、愛すべきリムル。

Một Rimuru tốt bụng và đáng yêu như vậy.

今回もまた、内心では不安に思いながらも、仲間達の前では強がっているのだろう。

Lần này cũng vậy, chắc hẳn cậu đang tỏ ra mạnh mẽ trước mặt các đồng đội dù trong lòng đang lo lắng.

そしてもしかすると、シエルがいなくなって悲しんでくれているかも知れなかった。

Và có lẽ, cậu cũng đang buồn vì không có Ciel ở bên.

シエルの主様(マスター)であるリムルに不可能はなく、万能にして最強なのだ。

Rimuru, Chủ nhân (Master) của Ciel, không có gì là không thể, là người toàn năng và mạnh nhất.

シエルはそれを、リムルに教えたかったのである。

Ciel đã muốn dạy cho Rimuru điều đó.

それにしても、リムルが三(み)上(かみ)悟(さとる)の姿を模したのは誤算だった。

Dù vậy, việc Rimuru mô phỏng lại hình dạng của Mikami Satoru là một sai lầm trong tính toán.

全てを読み通せる自信があったシエルだが、やはりリムルは一筋縄ではいかないのだ。

Dù Ciel tự tin có thể đọc được tất cả, nhưng quả nhiên Rimuru không phải là một đối thủ dễ dàng.

簡単に予想を上回る。

Dễ dàng vượt qua dự đoán.

今回は、嫌な形で実行されてしまった。

Lần này, nó đã được thực hiện theo một cách không mong muốn.

《幸いにも、戦場は混乱中。まだ主様(マスター)の御姿は注視されていませんので、さっさと帰還して元に戻ってもらうとしましょう》

“May mắn là, chiến trường đang hỗn loạn. Hình dạng của Chủ nhân (Master) vẫn chưa bị chú ý, nên chúng ta hãy nhanh chóng quay trở về và để ngài trở lại như cũ”.

最強たる存在であるヴェルダナーヴァを歯牙にもかけずに、リムルの動向を読み間違えたという取るに足らぬミスを、大失態だったと嘆くシエル。それどころか、当たり前のようにリムルの下に戻ると宣言していた。

Hoàn toàn phớt lờ Verudanava, một tồn tại mạnh nhất, Ciel lại than thở về sai lầm nhỏ nhặt là đã đọc sai động thái của Rimuru như một thất bại lớn. Không chỉ vậy, cô còn tuyên bố sẽ trở về bên cạnh Rimuru như thể đó là điều hiển nhiên.

そんなシエルの態度は、ヴェルダナーヴァをも戦慄させるものだった。

Thái độ đó của Ciel khiến cả Verudanava cũng phải rùng mình.

(何なのだ、一体? こんな意味不明な存在が生まれるなんて、ボクが生み出した世界にも致命的なバグがあったのか?)

(Rốt cuộc là sao? Một tồn tại khó hiểu như vậy lại có thể sinh ra, chẳng lẽ thế giới do ta tạo ra cũng có một lỗi nghiêm trọng sao?)

主が主なら、従者もまた従者だ。

Chủ nào tớ nấy.

ただのハッタリだと一笑に付すには、シエルの言い分は不穏だった。

Chỉ cười nhạo cho rằng đó là một lời khoác lác thì không được, vì lời nói của Ciel rất đáng lo ngại.

もう一つの目的とやらも気になった。それは恐らく、ルシアに関係する事なのだろう。

Mục đích còn lại cũng rất đáng tò mò. Có lẽ nó liên quan đến Lucia.

シエルに突っ込みを入れるよりも、それを確かめるのが先であった。

Thay vì hỏi vặn Ciel, việc xác nhận điều đó là quan trọng hơn.

(バグに構っている場合ではないな。それよりも大事なのは、ルシアだ!!)

(Không phải lúc để bận tâm đến lỗi. Quan trọng hơn là Lucia!!)

ヴェルダナーヴァにとって一番大事なのは、正体不明のシエルなどではない。

Đối với Verudanava, điều quan trọng nhất không phải là Ciel không rõ lai lịch.

自らを〝ルシア〟だと名乗った存在の方が、余程重要で気になるのだ。

Sự tồn tại tự xưng là “Lucia” mới là thứ quan trọng và đáng quan tâm hơn nhiều.

『君は、本当にルシアなのか?』

“Ngươi, có thực sự là Lucia không?”

ヴェルダナーヴァはシエルではなく、もう一つの気配に向けて問いかけた。

Verudanava không hỏi Ciel, mà hướng câu hỏi về phía một khí tức khác.

懐かしい気配が、本物だと確信させてくれる。

Một khí tức quen thuộc khiến ngài tin chắc rằng đó là thật.

それは紛れもなく──

Đó không thể nhầm lẫn được...

《ええ、そうよ。こちらのシエルさんが〝魂〟の欠片を寄せ集めて、私を復元してくれたのよ》

“Ừ, đúng vậy. Ciel-san ở đây đã tập hợp các mảnh vỡ của “linh hồn” và phục hồi lại cho ta”.

──ヴェルダナーヴァが求めた〝ルシア〟その人だった。

...chính là “Lucia” mà Verudanava hằng tìm kiếm.

功労者は、シエルだ。

Người có công là Ciel.

《彼女を再現すべく、嫌々ながらも貴方に乗り移ったのです》

“Để tái tạo lại cô ấy, dù không muốn, tôi đã phải nhập vào ngài”.

苦渋の決断でした──と、シエルは告げた。

Đó là một quyết định khó khăn... Ciel nói.

本当に嫌そうだったし、今直ぐにでもリムルの下に戻りたそうにしている。

Cô ấy trông thực sự không muốn, và có vẻ như muốn trở về bên cạnh Rimuru ngay lập tức.

シエルは、リムルに集っていた数多の要素に加えて、ヴェルダナーヴァが収集していたルシアの因子、それら全てを統合して〝ルシア〟の再現に成功したのだ。

Ciel đã thành công trong việc tái tạo “Lucia” bằng cách hợp nhất tất cả các yếu tố đã tập hợp trong Rimuru, cùng với nhân tố Lucia mà Verudanava đã thu thập.

心核(ココロ)とは〝ウツロウモノ〟であり、欠けたる〝魂〟や権能にまで宿って転々としていた。スキルの本質が人の願望から生まれたものであったからこそ、そうした現象が発生してしまった訳だ。

Tâm hạch (trái tim) là một thứ “thay đổi”, nó đã trú ngụ và di chuyển trong cả những “linh hồn” thiếu sót và quyền năng. Chính vì bản chất của kĩ năng được sinh ra từ mong muốn của con người, nên hiện tượng đó đã xảy ra.

シエルは永き時をかけてそれを読み解き、真理を解明していたのである。

Ciel đã mất một thời gian dài để giải mã nó và làm sáng tỏ chân lí.

井沢静江(シズエ・イザワ)、坂口日向(ヒナタ・サカグチ)、クロエ・オベール、他にも、幾人かの人々に欠片──ルシアの因子が散らばっていた。それらは全て、リムルを通じて収集されており──シエルの手によって統合されていたのだ。

Shizue Izawa, Hinata Sakaguchi, Chloe Aubert, và cả những người khác nữa, các mảnh vỡ... nhân tố Lucia đã rải rác trong nhiều người. Tất cả chúng đều được thu thập thông qua Rimuru... và được hợp nhất bởi bàn tay của Ciel.

そして今、リムルの〝魂〟からルシアの〝魂〟が分離する。

Và bây giờ, “linh hồn” của Lucia đã tách khỏi “linh hồn” của Rimuru.

《ようやく完了しました。まだ欠けたる要素があったので完璧ではありませんが、九十九パーセント以上の合致率です》

“Cuối cùng cũng đã hoàn thành. Dù vẫn còn thiếu sót một vài yếu tố nên chưa hoàn hảo, nhưng tỉ lệ trùng khớp đã trên chín mươi chín phần trăm”.

ヴェルダナーヴァの剣──〝記憶(メモリー)〟から、ルシアの記憶も読み取られている。

Từ thanh kiếm của Verudanava... “Kí Ức (Memory)”, kí ức của Lucia cũng đã được đọc.

心核(ココロ)は本物で、〝人格〟と〝記憶〟も再現されているのだから、それはもう、本物のルシアであると断言するしかないであろう。

Tâm hạch (trái tim) là thật, “nhân cách” và “kí ức” cũng đã được tái tạo, nên chỉ có thể khẳng định rằng đó chính là Lucia thật.

『ルシア……本当に……』

“Lucia... thật sự...”

《ヴェルダ……私がいないせいで、悲しませてしまったわね》

“Verda... vì không có ta ở đây mà đã làm chàng buồn rồi nhỉ”.

ヴェルダナーヴァにとって一番大事なのは、心から愛するルシアを生き返らせる事だった。

Đối với Verudanava, điều quan trọng nhất là hồi sinh Lucia, người mà ngài yêu thương từ tận đáy lòng.

それだけだったのだ。

Chỉ có vậy thôi.

肉体はなくとも、ほぼ完全なる〝魂〟として、ルシアが黄(よ)泉(み)帰(がえ)っていた。

Dù không có cơ thể, nhưng với tư cách là một “linh hồn” gần như hoàn chỉnh, Lucia đã sống lại từ cõi chết.

目的は、達成されたようなものだった。

Mục đích, dường như đã được hoàn thành.

ヴェルダナーヴァは、感無量であった。

Verudanava vô cùng xúc động.

しかし、幸福は長く続かない。

Thế nhưng, hạnh phúc không kéo dài lâu.

『きゃは♪』

“Kya ha♪”

破滅の竜は、まだ滅んでいないのだ。

Rồng Hủy Diệt vẫn chưa bị tiêu diệt.

Chương 5: Thần thoại sáng thế

第五章 創世神話

少し時間を遡る。

Thời gian quay ngược lại một chút.

ソウエイは、ソーカとその配下達、そしてモス、他にもいる情報収集に適した者達の力を借りて、戦場の隅々まで把握していた。

Souei, nhờ vào sự trợ giúp của Souka và thuộc hạ, Moss, cùng những người khác có khả năng thu thập thông tin, đã nắm bắt được mọi ngóc ngách của chiến trường.

それらの情報はまとめられ、ベニマルに届けられる。

Những thông tin đó được tổng hợp và gửi đến cho Benimaru.

その上で正確な分析と判断が下され、各所に適切な指示が飛ばされた。

Dựa trên đó, những phân tích và phán đoán chính xác được đưa ra, và các chỉ thị thích hợp được ban hành đến từng nơi.

これによって、勝利への道筋が出来上がっていたのだ。

Nhờ vậy, con đường dẫn đến chiến thắng đã được vạch ra.

しかしそれは、ヴェルダナーヴァが行った嫌がらせによって覆される。

Thế nhưng, điều đó đã bị đảo lộn bởi trò phá đám của Verudanava.

ジャヒル、コルヌ、ヴェガ、この三名がヴェルダナーヴァによって召喚され、倒したはずのスイーム、ハバタキ、カケアシの肉体に宿った事で、〝竜種〟を上回るほどの脅威が誕生してしまったのだ。

Jahil, Cornu, Vega, ba kẻ này đã được Verudanava triệu hồi và nhập vào cơ thể của Swim, Habataki và Kakeashi, những kẻ tưởng chừng đã bị đánh bại, từ đó tạo ra một mối đe dọa còn lớn hơn cả "Long chủng".

「どうする?」

"Làm sao đây?"

「主力を抜いて、対応させるしかあるまい。いざとなったら、俺が出る」

"Chỉ còn cách rút bớt chủ lực ra để đối phó thôi. Nếu đến bước đường cùng, ta sẽ ra trận".

「わかった。その時は、俺も手伝うさ」

"Hiểu rồi. Khi đó, ta cũng sẽ giúp một tay".

ソウエイとベニマルは、実に簡単に打ち合わせを終えた。

Souei và Benimaru đã kết thúc cuộc bàn bạc một cách vô cùng đơn giản.

その後、ベニマルの指示によって戦力が再び差配される。

Sau đó, theo chỉ thị của Benimaru, lực lượng chiến đấu lại được phân bổ lại.

各方面から主力戦士が抜けて、この三体の邪神に対抗する流れになった。

Các chiến binh chủ lực từ các mặt trận được rút ra để đối phó với ba Tà thần này.

これによって苦境に立たされる者もいたのだが、誰からも苦情は出ない。

Điều này khiến một số người rơi vào tình thế khó khăn, nhưng không ai phàn nàn cả.

むしろやる気を出して、より戦場は熱気に包まれる事となったのだ。

Ngược lại, họ còn hăng hái hơn, khiến chiến trường càng thêm sôi sục.

現に戦場では、ルミナスから〝聖域化(サンクチュアリ)の秘法〟を引き継いだミザリーとレインによって、常時回復魔法が発動していた。

Thực tế trên chiến trường, Mizary và Rain, những người đã kế thừa "Bí pháp Thánh Vực Hóa" từ Luminous, đang liên tục kích hoạt ma pháp hồi phục.

それ故、非常に安定していたのだ。

Do đó, tình hình vô cùng ổn định.

聖浄化結界(ホーリーフィールド)だって、未だ健在。

"Kết Giới Thánh Tịnh Hóa" vẫn còn nguyên vẹn.

〝天通閣〟を降って続々出現していた幻獣族(クリプテッド)の軍勢も、イヴァラージェとミリムの戦いに巻きこまれて消滅していた。

Quân đoàn Ảo Thú Tộc liên tục xuất hiện từ "Thiên Thông Các" cũng đã bị cuốn vào trận chiến giữa Ivalage và Millim rồi biến mất.

故に現在は、幻獣族(クリプテッド)の残存戦力を掃討する作戦が決行されている。地上では勝利目前、という状況だった。

Vì vậy, hiện tại, chiến dịch quét sạch lực lượng còn lại của Ảo Thú Tộc đang được tiến hành. Trên mặt đất, tình hình có thể nói là chiến thắng đã ở ngay trước mắt.

とは言え、油断すると一気に戦況は覆される。

Tuy nhiên, nếu lơ là cảnh giác, cục diện chiến trường sẽ bị đảo ngược ngay lập tức.

何故なら、幻獣族(クリプテッド)は最弱個体でも〝魔王種〟に匹敵するほどの戦闘能力を秘めており、この地に集った英雄達にとっては圧倒的格差のある脅威だったからだ。

Bởi lẽ, Ảo Thú Tộc, ngay cả cá thể yếu nhất cũng ẩn chứa sức chiến đấu tương đương với "Hạt giống Ma vương", là một mối đe dọa có sự chênh lệch áp đảo đối với các anh hùng tập trung tại đây.

聖浄化結界(ホーリーフィールド)や戦術的連携によって、辛うじて各個撃破に成功しているというのが実情なのだった。

Thực tế là nhờ có "Kết Giới Thánh Tịnh Hóa" và sự phối hợp chiến thuật, họ mới chật vật thành công trong việc tiêu diệt từng cá thể một.

それでも何とかなっているので、ベニマルの判断は正解だったと証明されている。

Dù vậy, mọi chuyện vẫn đang trong tầm kiểm soát, chứng tỏ phán đoán của Benimaru là chính xác.

「俺達も命を懸けて踏ん張るから、勝ってくれよ……」

"Bọn ta cũng sẽ liều mạng cầm cự, nên các người nhất định phải thắng đấy..."

「フッ、綺麗ごとを言うな。生きて帰らなきゃ、奥さんから怒られるぞ」

"Hừ, đừng nói những lời hoa mĩ đó. Không sống sót trở về thì sẽ bị vợ mắng đấy".

東方面で実質的上位者となった、カリギュリオとミニッツの会話だった。

Đó là cuộc trò chuyện của Calgurio và Minitz, những người trên thực tế đã trở thành chỉ huy ở mặt trận phía Đông.

出陣した皇帝マサユキを見送って以降、兵士達を指揮しながら軽口を叩き合っていた。気分を高揚させて、不安を紛らわせているのだ。

Sau khi tiễn Hoàng đế Masayuki ra trận, họ vừa chỉ huy binh lính vừa nói đùa với nhau. Họ đang cố gắng làm phấn chấn tinh thần để xua đi sự bất an.

南方面には、ハクロウがいる。

Ở mặt trận phía Nam, có Hakurou.

ヴェイロンやゾンダ、カーンやミソラといった悪魔の支配者達も健在だ。

Những kẻ chi phối ác ma như Veyron, Zonda, Kahn và Misora cũng vẫn còn nguyên vẹn.

「英雄達に勝利を!!」

"Chiến thắng cho các anh hùng!!"

ファルメナス王妃ミュウことミュウランが祈り、聖浄化結界(ホーリーフィールド)が輝きを増した。

Vương phi Myuuran của Farmenace, hay còn gọi là Myuuran, cầu nguyện, và "Kết Giới Thánh Tịnh Hóa" càng thêm rực rỡ.

その輝きに見守られるように、ヨウム率いる英雄達も死力を尽くすのだった。

Như được ánh hào quang đó bảo vệ, các anh hùng do Youmu dẫn đầu cũng dốc hết sức mình.

西方面では、サーレとグレゴリー、そしてグレンダが指揮官だ。

Ở mặt trận phía Tây, Saare, Grigori và Glenda là chỉ huy.

「嘘だろ? こんな状況で、裏切り者だった僕に大役を押し付けないで欲しいね」

"Không thể nào? Trong tình thế này, đừng có giao trọng trách cho một kẻ phản bội như tôi chứ".

「そう言うなや、サーレ。ここで気合入れて活躍すれば、また神様に認められるってもんだろ?」

"Đừng nói vậy chứ, Saare. Nếu cậu dốc sức thể hiện ở đây, chẳng phải sẽ lại được Thần công nhận sao?"

「まあ、確かにね。この地はルミナス様の愛で満たされているから、逃げるって選択肢はないもんな」

"Ừm, cũng đúng. Vùng đất này tràn ngập tình yêu của ngài Luminous, nên không có lựa chọn nào là bỏ chạy cả".

「おう、その通りさ! オレ達はよう、ただ無心になって神に祈りながら、敵を屠ればいいだけの話さ!」

"Đúng vậy! Chúng ta chỉ cần vô tư cầu nguyện với Thần và tiêu diệt kẻ thù là được!"

そんなふうに単純な二人と違って、グレンダは現実的だ。

Không giống hai người đơn giản đó, Glenda thực tế hơn.

「馬鹿だね、死んだら終わりなんだよ! それ以前に、敵前逃亡なんて、死んでも許されやしないのさ!!」

"Đồ ngốc, chết là hết! Hơn nữa, đào ngũ trước mặt kẻ thù là chuyện chết cũng không được tha thứ đâu!!"

というか、今満ちているのは、ルミナスの愛ではない。

Hay đúng hơn, thứ đang tràn ngập bây giờ không phải là tình yêu của Luminous.

悪魔達による、サボらず働け、という激励的なモノだと思うのだが、グレンダはそれを口にするほど野暮ではなかった。

Glenda nghĩ rằng đó là một thứ gì đó mang tính khích lệ từ lũ ác ma, kiểu như "đừng lười biếng, làm việc đi", nhưng cô không đến nỗi vô duyên mà nói ra điều đó.

それにそもそも、この戦場はソウエイの監視下にある。逃げるとか、逃げないとか、そんなのは選択肢以前の問題なのだ。

Vả lại, chiến trường này vốn dĩ nằm dưới sự giám sát của Souei. Chạy hay không chạy, đó không phải là vấn đề lựa chọn nữa rồi.

(だったらまあ、夢くらい見させてやるさね)

(Nếu vậy thì, cứ để họ mơ mộng một chút cũng được.)

と、らしくない優しさを見せるグレンダなのだった。

Glenda đã thể hiện một sự dịu dàng không giống với cô chút nào.

北方面では、アダルマンとガドラが奮闘していた。

Ở mặt trận phía Bắc, Adalmann và Gadra đang chiến đấu hết mình.

そのお陰で、非常に優勢である。

Nhờ vậy, họ đang chiếm ưu thế rất lớn.

幻獣族(クリプテッド)には魔法が効きにくい個体もいるのだが、それをものともせずに駆逐している。

Trong số Ảo Thú Tộc, có những cá thể khó bị ảnh hưởng bởi ma pháp, nhưng họ vẫn tiêu diệt chúng một cách dễ dàng.

「この調子で、さっさと終わらせましょうか」

"Cứ đà này, chúng ta hãy nhanh chóng kết thúc thôi".

「そうじゃな。早く他の方面の手助けに向かわねばのう!」

"Đúng vậy. Phải nhanh chóng đến giúp đỡ các mặt trận khác nữa!"

この地での活躍によって、優勢が確定しかけたのだが──

Nhờ những hoạt động tại đây, ưu thế gần như đã được xác định, nhưng...

そこで、時間が停止した。

Ngay lúc đó, thời gian đã ngừng lại.

ユウキに敗北したジャヒルだったが、終わりなき死の苦痛が唐突に消えた。

Jahil đã bị Yuki đánh bại, nhưng nỗi đau của cái chết bất tận đột ngột biến mất.

どのような手段を用いたものか〝魂〟が現世に呼び戻されて、スイームの死体に宿ったからだ。

Không biết bằng cách nào, "linh hồn" của hắn đã được gọi trở lại thế giới này và nhập vào xác của Swim.

同様に、コルヌはハバタキに宿り、ヴェガはカケアシと融合していた。

Tương tự, Cornu nhập vào Habataki, và Vega hợp nhất với Kakeashi.

ジャヒルは、死の恐怖を覚えている。

Jahil vẫn nhớ nỗi kinh hoàng của cái chết.

それ故に、生への渇望は満たされる事がない。

Chính vì vậy, khát khao được sống của hắn không bao giờ được thỏa mãn.

その絶望に満ちた永劫の苦痛が、綺麗さっぱり消えていた。

Nỗi đau vĩnh cửu đầy tuyệt vọng đó đã hoàn toàn biến mất.

そうなると、思い出すのはユウキへの恨みだ。

Khi đó, điều hắn nhớ đến là mối hận với Yuki.

ユウキが仕掛けた『死を渇望せよ(ロストエントロピー)!!』によって、完全に〝魂〟まで消滅させられた。それなのに何故か、全ての記憶と恨みを覚えていたのだ。

Bằng chiêu "Khát Vọng Chết Chóc!!" mà Yuki tung ra, hắn đã bị tiêu diệt hoàn toàn đến tận "linh hồn". Vậy mà không hiểu sao, hắn vẫn nhớ tất cả kí ức và lòng căm hận.

「許さん。赦(ゆる)さんぞォーーーーッ、ユウキィーーーーッ!!」

"Không tha. Ta không tha cho ngươi đâu, Yukiiii!!"

ジャヒルは叫んだ。

Jahil gào lên.

それは、死の恐怖から逃れるように、自分の心を奮い立たせる行為でもあったのだ。

Đó cũng là một hành động để vực dậy tinh thần của chính mình, như thể để trốn chạy khỏi nỗi sợ hãi cái chết.

そんなジャヒルの前に立つのは、ジャヒルと縁のある戦士達だ。

Đứng trước Jahil lúc này là những chiến binh có duyên nợ với hắn.

「どうやら、僕を御指名みたいだね?」

"Xem ra, cậu chỉ đích danh tôi nhỉ?"

苦笑しつつ、ユウキがジャヒルの前に立つ。

Vừa cười khổ, Yuki vừa đứng trước mặt Jahil.

当然、ユウキの後ろにはサポート要員として、ラプラス、カガリ、ティア、そしてマイまで控えていた。

Đương nhiên, phía sau Yuki là các thành viên hỗ trợ gồm Laplace, Kagali, Tear, và cả Mai.

他にも、ジャヒルに慣れた面子がいる。

Ngoài ra, còn có những người đã quen với Jahil.

「やれやれ、またアレを繰り返すのか……」

"Haiz, lại phải lặp lại chuyện đó nữa sao..."

「あらぁ? レオン君が一人で始末してくれるなら、無茶な真ねをしなくて済むわねぇ」

"Ồ? Nếu cậu Leon một mình xử lí được thì chúng ta không cần phải làm những chuyện liều lĩnh nữa nhỉ".

「そうねぇ、もう飽きたという意見には完全同意だしぃ、ここは漢(おとこ)気(ぎ)を見せてくれてもぉ──」

"Đúng vậy, tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến là đã chán ngấy rồi, nên ở đây cậu cứ thể hiện bản lĩnh đàn ông đi..."

「断る!!」

"Từ chối!!"

エルメシアとシルビアにからかわれながら、レオンもジャヒル相手に戦い抜く覚悟だ。

Bị Elmesia và Sylvia trêu chọc, Leon cũng đã sẵn sàng chiến đấu đến cùng với Jahil.

ここに参戦するのが、ウルティマとカレラだった。

Tham chiến tại đây là Ultima và Carrera.

「ぶっちゃけ、ボク一人だけでも十分かも♪」

"Nói thật thì, một mình tôi chắc cũng đủ rồi♪"

「それは私のセリフなんだが? 君はせいぜい足を引っ張らないように、端っこの方で大人しくしててくれよ」

"Đó là lời của tôi mới đúng chứ? Cậu tốt nhất là đừng có ngáng chân, cứ ngoan ngoãn đứng ở góc nào đó đi".

「……何だって?」

"...Cậu nói gì?"

「フッ、やる気かい?」

"Hừ, muốn chiến à?"

相変わらず、仲は良好だ。

Mối quan hệ của họ vẫn tốt đẹp như mọi khi.

ジャヒルなど眼中にないとばかりに、互いへの敵意を剥き出しにして、ウルティマとカレラは睨み合う。

Như thể không coi Jahil ra gì, Ultima và Carrera để lộ địch ý với nhau và lườm nhau.

そんな二人を見て、他の面々は頭を抱えつつも希望を抱くのであった。

Nhìn hai người họ, những người khác vừa ôm đầu vừa thầm nuôi hi vọng.

コルヌは、自分が何故死んだのかさえ理解出来ていなかった。

Cornu thậm chí còn không hiểu tại sao mình lại chết.

最後の記憶は──絶望的な激痛と、迫り来る炎である。

Kí ức cuối cùng là... cơn đau đớn tột cùng và ngọn lửa đang ập đến.

こうして復活して初めて、あれがヴェルグリンドの攻撃だったのだと悟っていた。

Cho đến khi hồi sinh như thế này, hắn mới nhận ra đó là đòn tấn công của Verugrynd.

「ふざけるな、ふざけるなよ、ヴェルグリンドォーーーーーーッ!!」

"Đừng có đùa, đừng có đùa với ta, Verugrynddd!!"

コルヌが咆哮した。

Cornu gầm lên.

その加減なき怒声は、それだけで衝撃波を発生させる。

Tiếng gầm giận dữ không kiềm chế đó tự nó đã tạo ra một sóng xung kích.

〝魔王種〟級の魔物でさえも、それを浴びれば塵も残らぬ威力だった。

Ngay cả Ma vật cấp "Hạt giống Ma vương" cũng sẽ tan thành tro bụi nếu hứng chịu nó.

だが、しかし。

Nhưng mà.

それは一本の剣によって、アッサリと斬り捨てられる。

Nó đã bị một thanh kiếm chém phăng một cách dễ dàng.

「うるせーな。目覚めたばかりで、御機嫌ナナメってか? ま、どうでもいいか。テメエは殺す。俺の愛する〝グリュン〟を、勝手に呼び捨てにしてんじゃねーよ!!」

"Ồn ào quá đấy. Vừa mới tỉnh dậy mà đã cáu kỉnh rồi à? Mà, sao cũng được. Ngươi sẽ phải chết. Đừng có mà tự tiện gọi thẳng tên "Gryun" yêu dấu của ta!!"

そう告げたのは、〝地神(デーヴァ)〟を手にしたルドラだった。

Người nói câu đó là Rudra đang cầm trong tay "Địa Thần".

ジャヒルの相手をするつもりだったルドラだが、こうなっては話は別だ。ヴェルグリンドの腰を抱くようにして、不敵な笑みを浮かべている。

Rudra vốn định đối phó với Jahil, nhưng tình hình thế này thì lại là chuyện khác. Anh ta ôm eo Verugrynd, nở một nụ cười ngạo nghễ.

ちなみに、そんなルドラの中でマサユキの意識も健在だ。

Nhân tiện, ý thức của Masayuki vẫn tồn tại bên trong Rudra.

(あーあ。また〝魂(こん)痛(つう)〟とかいうので、寝込む事になるんだろうな……)

(Aizz. Chắc lại phải nằm liệt giường vì cái gọi là "linh hồn đau đớn" nữa rồi...)

でもまあ、死ぬよりマシかな──などと思いながら、マサユキも自分自身を応援するのだった。

Nhưng mà, chắc vẫn còn hơn là chết... nghĩ vậy, Masayuki cũng tự cổ vũ cho chính mình.

コルヌの前に立つのは、ルドラ達だけではなかった。

Đứng trước Cornu không chỉ có Rudra và những người khác.

カリオン、ミッドレイ、フレイが観戦している。

Callion, Middray, Frey đang quan sát.

旧友であるザラリオやオベーラ、そしてフェルドウェイまでいた。

Cả những người bạn cũ như Zlario, Obera, và cả Feldway cũng có mặt.

フェルドウェイがいるのだから、ディアブロも当然いる。

Có Feldway thì đương nhiên cũng có Diablo.

昔のコルヌだったら、過剰なまでの戦力だ。

Nếu là Cornu của ngày xưa, đây là một lực lượng chiến đấu quá mức cần thiết.

しかし今は、以前のコルヌとは別人の如く変化している。

Thế nhưng bây giờ, hắn đã thay đổi như một người hoàn toàn khác so với Cornu trước đây.

戦いの行方は、まだまだ未知数だった。

Diễn biến của trận chiến vẫn còn là một ẩn số.

カケアシに宿ったヴェガだが、ジャヒルやコルヌ以上に変貌していた。

Vega nhập vào Kakeashi, nhưng hắn đã biến đổi còn nhiều hơn cả Jahil hay Cornu.

孤独。

Sự cô độc.

そして、恐怖。

Và, nỗi sợ hãi.

誰もいない、何もない空間で、ヴェガは本当の意味でそれらを理解した。

Trong không gian không một bóng người, không một vật gì, Vega đã thực sự hiểu được những điều đó.

今生きているのは、奇跡である。

Việc hắn còn sống đến bây giờ là một phép màu.

消える事のない自我が、自分が破滅した遠い未来の記憶を覚えていたのだ。

Bản ngã không thể xóa nhòa của hắn đã ghi nhớ lại kí ức về một tương lai xa xôi nơi hắn bị hủy diệt.

「お、俺様は戻って来れたのか? ハハハ……やったぜ、神は俺様を見捨てなかったんだ!!」

"Ta, ta đã trở về được rồi sao? Hahaha... Tuyệt vời, Thần đã không bỏ rơi ta!!"

湧き上がる歓喜が、ヴェガを満たす。

Niềm vui sướng dâng trào lấp đầy Vega.

そんなヴェガを見て嘲笑するのは、麗しき白の女王──テスタロッサだ。

Nhìn Vega như vậy, người cất tiếng cười chế nhạo là Nữ vương trắng xinh đẹp... Testarossa.

「あら、ディアブロ達によって完全に消滅させられたと聞いていたけど、しぶとく生きていたのね?」

"Ồ, ta nghe nói cô đã bị Diablo và những người khác tiêu diệt hoàn toàn, nhưng vẫn còn sống dai dẳng nhỉ?"

ヴェガを値踏みするように見下しながら、テスタロッサがそう言った。

Vừa nhìn xuống Vega như thể đang đánh giá, Testarossa vừa nói.

そんなテスタロッサの横にヒナタが立って、冷たく言い放った。

Bên cạnh Testarossa, Hinata đứng đó và lạnh lùng nói.

「しつこい男は嫌われるわよ?」

"Đàn ông dai dẳng sẽ bị ghét đấy?"

イングラシアの王都では、ヴェガに逃げられてしまっている。今度は逃がさないとばかりに、美女二人は気合を入れた表情であった。

Ở vương đô Englassia, hắn đã để Vega chạy thoát. Lần này, nhất định không để hắn chạy, hai mỹ nữ đều mang vẻ mặt đầy quyết tâm.

この二人に並び立ったのが、シオンだ。

Đứng ngang hàng với hai người họ là Shion.

「そんな物分かりの悪いヤツは、この私が成敗するまで! 身体も温まって調子も出てきましたし、そろそろ私も、全力全開で戦えそうです!」

"Một kẻ khó bảo như vậy, cứ để ta đây trừng trị! Cơ thể cũng đã nóng lên, phong độ cũng đã trở lại, sắp tới ta cũng có thể chiến đấu hết mình rồi!"

これに身震いするのが、ゴブタ&ランガだ。

Nghe vậy, Gobuta và Ranga rùng mình.

「シ、シオンさんって、さっきまでも大暴れしてたっすよね?」

"Chị Shion, không phải chị vừa mới quậy tưng bừng sao?"

「ゴブタよ、我の記憶でもその認識で間違っていない。シオン殿は、確かに無双していた!」

"Gobuta, theo trí nhớ của ta thì nhận định đó không sai. Shion-dono quả thực đã vô song!"

「そうっすよね?」

"Đúng không ạ?"

「うむ!!」

"Phải!!"

この会話に、大きく頷きながらガビルが加わる。

Gabiru vừa gật đầu lia lịa vừa tham gia vào cuộc trò chuyện.

「その通りであるぞ! シオン殿が満足していなかったとは思えぬが……」

"Đúng vậy đó! Ta không nghĩ là Shion-dono chưa thỏa mãn đâu, nhưng..."

シオンなら、有り得そうだ──と、ガビルは思った。

Nếu là Shion thì cũng có khả năng... Gabiru nghĩ.

ゴブタとランガも同様で、シオンに畏敬の念を抱いたのである。

Gobuta và Ranga cũng vậy, họ đều dành cho Shion một sự kính nể.

ここで、動じなかった者達が前に出た。

Lúc này, những người không hề nao núng đã bước lên phía trước.

「フシューッ!! 問題あるまい。オレ達は、ただ敵を倒すのみ!!」

"Phù!! Không vấn đề gì. Chúng ta chỉ cần tiêu diệt kẻ thù mà thôi!!"

「そうでありんすえ! 我らの威を示すでありんす!!」

"Đúng vậy đó! Hãy cho chúng thấy uy danh của chúng ta!!"

このゲルドとクマラの発言を合図に、ヴェガとの戦いも始まったのだった。

Lời nói của Gerudo và Kumara như một tín hiệu, trận chiến với Vega cũng đã bắt đầu.

復活を果たしたジャヒル、コルヌ、ヴェガの三名は、三者三様の戦いを繰り広げていた。

Jahil, Cornu và Vega, ba người đã hồi sinh, đang tham gia vào những trận chiến theo ba cách khác nhau.

自分の死の原因となったユウキに固執していたジャヒルは、早々にターゲットを変更している。

Jahil, người vốn bị ám ảnh bởi Yuki, kẻ đã gây ra cái chết của mình, đã nhanh chóng thay đổi mục tiêu.

というか、ウルティマとカレラが猛攻を仕掛けたせいで、それを無視出来なくなったのだ。

Hay đúng hơn, vì Ultima và Carrera đã phát động một cuộc tấn công dữ dội, hắn không thể phớt lờ họ được nữa.

「あははははは、なかなかやるじゃないか!!」

"Ahahahaha, cũng khá lắm đấy!!"

「もっともっと、ボクを楽しませてよ♪」

"Hãy làm tôi vui hơn nữa đi♪"

リムルからスライム細胞を与えられたというか、オネダリして無理やり貰った事で、ウルティマとカレラは新たな力を獲得していた。

Nói là được Rimuru ban cho tế bào slime, hay đúng hơn là vòi vĩnh và ép buộc lấy, Ultima và Carrera đã có được sức mạnh mới.

元から馴染んでいた肉体が、より完璧なものとして定着したのだ。

Cơ thể vốn đã quen thuộc của họ đã trở nên hoàn hảo hơn.

本来の力を行使しても、壊れる事のない肉体。どれだけ強大な魔力であろうが、その新しい身体ならば負担にならなかった。

Một cơ thể không bị phá hủy ngay cả khi sử dụng sức mạnh vốn có. Dù ma lực có lớn đến đâu, cơ thể mới đó cũng không hề bị quá tải.

それだけではなく、危険極まりない『虚無』に対してまで、高い耐性と親和性を有していたのだ。

Không chỉ vậy, họ còn có khả năng kháng cự và tương thích cao đối với "Hư Vô" cực kì nguy hiểm.

何のリスクもなく、禁術や禁呪が使い放題となっていた。

Họ có thể sử dụng cấm thuật và cấm chú một cách tự do mà không gặp bất kì rủi ro nào.

今の自分達が負けるハズがない──というのが、二人の共通見解だったのである。

Việc họ sẽ không thua lúc này... đó là quan điểm chung của cả hai.

「これ、僕の出番とかなさそうだね」

"Thế này thì có vẻ như không có đất diễn cho tôi rồi".

「私だって、活躍の機会すらなさそうだわぁ……」

"Ngay cả ta cũng chẳng có cơ hội thể hiện..."

「今回に限っては嬉しい誤算なんだけどぉ、それはそれとして、今後の不安もあるわねぇ……」

"Lần này thì là một tính toán sai lầm đáng mừng, nhưng mà, chuyện đó thì để sau, cũng có những lo lắng cho tương lai nhỉ..."

「全くだ……」

"Đúng vậy..."

ユウキ一行もそうだが、レオンやエルメシア達も、無理して戦いたい訳ではない。

Nhóm của Yuki cũng vậy, Leon và Elmesia cũng không muốn phải chiến đấu một cách vô ích.

怪我は完治しようが疲労は残っているので、出来る事なら休んでいたいのだ。

Vết thương dù đã lành nhưng sự mệt mỏi vẫn còn, nên nếu có thể, họ muốn được nghỉ ngơi.

不安なのは、原初二名の強化っぷりである。

Điều đáng lo ngại là sự tăng cường sức mạnh của hai Nguyên sơ.

今後益々、彼女達を御しにくくなったと思われた。

Trong tương lai, việc kiểm soát họ sẽ ngày càng khó khăn hơn.

それ即ち、リムル陣営がとんでもなく強化された事を意味している。

Điều đó có nghĩa là phe của Rimuru đã được tăng cường sức mạnh một cách khủng khiếp.

(既に崩壊気味の国家間バランスだけどぉ、戦後は頭が痛い問題が山積みだわねぇ……)

(Cán cân quyền lực giữa các quốc gia vốn đã lung lay, sau chiến tranh chắc sẽ có cả đống vấn đề đau đầu đây...)

と、エルメシアは頭を抱える。

Elmesia ôm đầu.

それでも、未来を考えるだけの余裕が生まれたという意味では幸運なのだ。

Dù vậy, việc có thể có thời gian để suy nghĩ về tương lai cũng là một điều may mắn.

苦労しそうだと思いつつも、エルメシアの表情は明るくなっていたのだった。

Dù nghĩ rằng sẽ rất vất vả, nhưng vẻ mặt của Elmesia vẫn rạng rỡ.

カガリとしては、ジャヒルに対して恨み骨髄である。

Đối với Kagali, cô hận Jahil đến tận xương tủy.

恨みだけでなく、憎しみもある。

Không chỉ hận mà còn căm ghét.

あるのだが……。

Thế nhưng...

(正直言って、実力差があり過ぎて何をしても通用しそうにないわね……)

(Thành thật mà nói, chênh lệch thực lực quá lớn, làm gì cũng không ăn thua...)

というのが本音だった。

Đó là suy nghĩ thật lòng của cô.

今のジャヒルは〝竜種〟に匹敵するか上回るほどの魔素(エネルギー)量になっている上に、恐るべき回復能力や強烈極まる破壊手段を有していた。

Jahil hiện tại có lượng ma tố (năng lượng) tương đương hoặc thậm chí vượt qua cả "Long chủng", cùng với khả năng hồi phục đáng sợ và phương thức phá hoại cực kì mạnh mẽ.

カガリから見れば、神の領域に至っているのである。

Từ góc nhìn của Kagali, hắn đã đạt đến cảnh giới của thần.

無理して手を出すべきではないと、理性的な判断が感情を上回っていたのだった。

Phán đoán lí trí rằng không nên liều lĩnh ra tay đã lấn át cảm xúc của cô.

それに、ウルティマとカレラが圧倒的過ぎた。

Hơn nữa, Ultima và Carrera quá áp đảo.

仲が悪いのか、それとも良好なのか……。

Mối quan hệ của họ xấu hay tốt đây...

互いにいがみ合うように文句を言い合いながらも、その連携は見事の一言だったのである。

Dù luôn cãi cọ, phàn nàn như thể ghét nhau, nhưng sự phối hợp của họ lại vô cùng ăn ý.

「ふむ、まあまあな動きですね。リムル様の御力を授かっておいて無様な戦いを見せるようなら、私の手で粛清するつもりでしたが……まあいいでしょう」

"Hừm, cũng khá đấy. Nếu được ban cho sức mạnh của ngài Rimuru mà còn thể hiện một trận chiến thảm hại thì ta đã định tự tay thanh trừng rồi... nhưng thôi cũng được".

いつの間にかそこにいたディアブロが、二人の戦いぶりを見てそう評した。

Diablo không biết đã ở đó từ lúc nào, nhận xét về trận chiến của hai người.

遥か彼方の上から目線で、呆れるより清々しいほどである。

Cái nhìn từ trên cao xuống của hắn thật khiến người ta ngạc nhiên hơn là bực mình.

「あの、貴方は別の方の相手をしていたのでは?」

"À, không phải ngài đang đối phó với người khác sao?"

と、カガリが恐る恐る問う。

Kagali rụt rè hỏi.

レオン達も聞き耳を立てているが、ディアブロは気にする事なく答えた。

Leon và những người khác cũng đang lắng nghe, nhưng Diablo không hề bận tâm và trả lời.

「フッ、私が出ると一瞬で終わってしまいますからね。彼等の活躍の場を奪う訳にはいかないでしょう?」

"Hừ, nếu ta ra tay thì mọi chuyện sẽ kết thúc trong nháy mắt thôi. Ta không thể cướp đi cơ hội thể hiện của họ được, phải không?"

とんでもない自信だったが、ディアブロを知る者からすれば、さもありなんという感じであった。

Một sự tự tin khủng khiếp, nhưng với những ai biết Diablo thì điều đó cũng là lẽ thường.

ディアブロが続ける。

Diablo tiếp tục.

「リムル様の活躍ぶりを見学したいのですが、そういう訳にもいきませんからねえ……」

"Tôi rất muốn được chiêm ngưỡng màn thể hiện của ngài Rimuru, nhưng không thể được..."

リムル様からの命令なので、仕方なくここにいるのです──と、ディアブロは苦痛に耐えるように告げる。

Vì đây là mệnh lệnh của ngài Rimuru, nên tôi đành phải ở lại đây... Diablo nói, như thể đang chịu đựng một nỗi đau khổ.

その言葉を証明するように、ディアブロが最初向かった先に居たコルヌは、ルドラと互角の戦いを演じていた。

Như để chứng minh cho lời nói đó, Cornu, người mà Diablo ban đầu định đối phó, đang có một trận chiến ngang tài ngang sức với Rudra.

ヴェルグリンドに不意討ちされて滅びたコルヌだったが、妖(よう)魔(ま)王(おう)フェルドウェイの友たる腹心にして超一流の戦士だったのだ。まして今は、ハバタキの力まで融合している。そう簡単に倒せる相手ではなかった。

Cornu đã bị Verugrynd tấn công bất ngờ và bị tiêu diệt, nhưng hắn là một chiến binh siêu hạng và là tâm phúc thân cận của Yêu Ma Vương Feldway. Hơn nữa, bây giờ hắn còn hợp nhất cả sức mạnh của Habataki. Hắn không phải là đối thủ dễ bị đánh bại.

生半可な相手ではないのだが、ディアブロから見れば違ったらしい。

Không phải là một đối thủ tầm thường, nhưng đối với Diablo thì có vẻ khác.

そもそも、正面からコルヌの相手をしている者が強かった。

Vốn dĩ, người đang đối đầu trực diện với Cornu rất mạnh.

ギィとも互角だったルドラなので、当然である。

Rudra, người ngang tài ngang sức với Guy, nên điều đó là đương nhiên.

もしもルドラが、マサユキという普通の少年の肉体に宿っているのではなく、本来の自分の肉体だったならば、たった一人でもコルヌを倒せていただろう。

Nếu Rudra không nhập vào cơ thể của một cậu bé bình thường tên Masayuki mà là cơ thể nguyên bản của mình, anh ta có lẽ đã có thể một mình đánh bại Cornu.

しかし残念ながら、今のルドラにはそこまでの力はなく、一人でコルヌを倒しきるのは困難だった。

Nhưng thật không may, Rudra hiện tại không có đủ sức mạnh đó, và việc một mình đánh bại hoàn toàn Cornu là rất khó khăn.

でも、ディアブロからすれば問題なかったのだ。

Nhưng đối với Diablo thì không có vấn đề gì.

何故ならその場には、ルドラ以外にも強者達がいたからだ。

Bởi vì ở đó, ngoài Rudra, còn có những kẻ mạnh khác.

具体的に言えば、ディアブロが戦場に連れ出したフェルドウェイがいた。

Cụ thể hơn, có Feldway, người được Diablo đưa ra chiến trường.

他にも、ザラリオやオベーラといった、コルヌの旧友達もいる。既に言葉による説得も始まっており、コルヌの困惑している様子からも、ディアブロの出る幕はなさそうであった。

Ngoài ra, còn có những người bạn cũ của Cornu như Zlario và Obera. Việc thuyết phục bằng lời nói đã bắt đầu, và từ vẻ bối rối của Cornu, có vẻ như Diablo không cần phải ra tay.

そうした状況を見て取り、レオンやユウキ達もディアブロの言葉に納得したのである。

Nhìn thấy tình hình đó, Leon và Yuki cũng đã tin vào lời nói của Diablo.

確かに、リムルから『頼んだ』と言われた以上、戦線放棄する訳にはいかないのだろう。それだけではなく、どこか一方だけに加担して他が敗北する事のないように、全体を見守る構えのようだった。

Đúng là, một khi đã được Rimuru nói "nhờ cả vào cậu", anh ta không thể từ bỏ mặt trận. Không chỉ vậy, có vẻ như anh ta đang quan sát toàn cục để đảm bảo không có bên nào bị thất bại do anh ta chỉ hỗ trợ một phía.

(責任感があるのかないのか、判断に迷うわねぇ……)

(Có trách nhiệm hay không, thật khó phán đoán...)

と、横で聞いていたエルメシアも悩ましい。

Nghe thấy vậy, Elmesia đứng bên cạnh cũng cảm thấy bối rối.

それはともかく、ディアブロの見立てではここは当面は安全であるようだった。

Dù sao đi nữa, theo đánh giá của Diablo, nơi này tạm thời vẫn an toàn.

「ウルティマとカレラなら、そう簡単に負ける事はないでしょう。ですが、油断なきようにお願いしますよ。戦場では、何が起きるかわかりませんから」

"Nếu là Ultima và Carrera thì sẽ không dễ dàng thua cuộc đâu. Nhưng xin đừng lơ là cảnh giác. Trên chiến trường, không biết chuyện gì sẽ xảy ra đâu".

ディアブロはそう言い残し、その場を後にした。

Diablo nói xong rồi rời khỏi đó.

ディアブロが到着した時、ヴェガを相手にテスタロッサとヒナタが奮闘していた。

Khi Diablo đến, Testarossa và Hinata đang chiến đấu hết mình với Vega.

テスタロッサは流石の一言で、既にスライム細胞を我が物にしている。それ故、ヴェガ相手に苦戦する様子もなく、ヒナタの援護に回っていた。

Testarossa quả không hổ danh, đã hoàn toàn làm chủ được tế bào slime. Do đó, cô không hề có dấu hiệu chật vật khi đối đầu với Vega, mà còn quay sang hỗ trợ Hinata.

今度は絶対に逃がさないように、念入りに封じ込め作戦を実行中だったのだ。

Lần này, để chắc chắn không để hắn chạy thoát, cô đang thực hiện một chiến dịch phong tỏa cẩn thận.

「なるほど、流石はテスタロッサですね」

"Ra vậy, quả không hổ là Testarossa".

「あら、貴方が褒めてくれるなんて、嬉しいわ」

"Ồ, được ngài khen, tôi vui quá".

感情のこもらぬやり取りだが、これでも本気で褒めているし、喜んでいるのだ。

Một cuộc trao đổi không cảm xúc, nhưng họ thực sự đang khen ngợi và vui mừng.

一方、ヴェガはというと。

Trong khi đó, Vega thì...

実のところ、困惑していた。

Thực ra, hắn đang rất bối rối.

(クソがァーーッ!! 何で俺は戦ってるんだッ!? どうして俺を狙うんだよぉ──ッ!!)

(Chết tiệt!! Tại sao ta lại phải chiến đấu!? Tại sao lại nhắm vào ta chứ!!)

ヴェガはもう、戦う気などなくなっていたのだ。

Vega đã không còn ý chí chiến đấu nữa.

強さを求めたものの、そんなものは孤独の前では無力だった。

Dù đã tìm kiếm sức mạnh, nhưng thứ đó lại trở nên vô dụng trước sự cô độc.

それ故に、ヴェガなりに反省したのだ。

Chính vì vậy, Vega đã tự mình kiểm điểm.

愚かな自分を見つめ直す時間だけは、無限にあった。

Hắn có vô vàn thời gian để nhìn lại bản thân ngu ngốc của mình.

そしてヴェガは、一つの真理に辿り着いていた。

Và Vega đã tìm ra một chân lí.

大事なのは、他人を思いやる心である──と。

Điều quan trọng là tấm lòng biết quan tâm đến người khác.

それを証明するように、かつての仲間達は無事だった。

Như để chứng minh điều đó, những người bạn cũ của hắn vẫn bình an.

遠くに見えるのはユウキだし、マイの姿だって確認出来た。

Phía xa kia là Yuki, và hắn cũng có thể thấy cả hình bóng của Mai.

無事だったのだ。

Họ vẫn bình an.

(結局よぉ、間違ってたのは俺だったんだな。仲間を庇って死ぬなんて、ボスも間抜けな野郎だと思っていたがよう、今じゃ羨ましく思えるぜ……)

(Cuối cùng thì, người sai là ta. Cứ nghĩ rằng chết để bảo vệ đồng đội, sếp cũng là một kẻ ngốc, nhưng giờ đây ta lại thấy ghen tị...)

以前には感じる事のなかった、ユウキへの羨望だ。

Một sự ghen tị với Yuki mà trước đây hắn chưa từng cảm thấy.

その気持ちを噛み締めたいのに、ヴェガの邪魔をする者達がいた。

Hắn muốn nghiền ngẫm cảm giác đó, nhưng lại có những kẻ đang cản đường.

(まあよ、この女共とも因縁があらあな……)

(Mà thôi, với lũ đàn bà này cũng có duyên nợ mà...)

かつて、ヴェガと戦った者達だった。

Những người đã từng chiến đấu với Vega.

しかも厄介な事に、女の片方──テスタロッサは、ヴェгаから見ても途(と)轍(てつ)もなくヤバい感じになっていた。

Hơn nữa, rắc rối là một trong hai người phụ nữ đó - Testarossa, ngay cả trong mắt Vega cũng trở nên vô cùng nguy hiểm.

この両名に加えて、やる気に満ちた様子のシオンとクマラが、攻撃に参加している。それがまた、無視出来ないほどの痛みをヴェガに与えていた。

Ngoài hai người đó, Shion và Kumara với vẻ mặt đầy quyết tâm cũng tham gia tấn công. Điều đó lại gây ra cho Vega một nỗi đau không thể xem thường.

このままじゃマズイと、ヴェガの本能が訴えかける。

Cứ thế này thì không ổn, bản năng của Vega mách bảo.

その焦りから、ヴェガは思わず反射的に行動してしまった。

Vì quá lo lắng, Vega đã hành động theo phản xạ.

「チィ、俺を助けろや!」

"Chết tiệt, cứu ta!"

ヴェガはそう叫び、地面に転がる幻獣族(クリプテッド)の死骸を餌にして『邪龍獣生産』を行ったのだ。

Vega hét lên và sử dụng xác của Ảo Thú Tộc đang nằm la liệt trên mặt đất làm mồi để thực hiện "Sản Sinh Tà Long Thú".

今のヴェガならば、餌さえあれば同時に十二体もの邪龍獣を生み出せた。

Vega hiện tại, chỉ cần có mồi, có thể tạo ra cùng lúc mười hai Tà Long Thú.

そして、餌は十分にあった。

Và mồi thì có thừa.

しかもそれらの存在値は、一千万を軽く超えていた。今のヴェガがとんでもない魔素(エネルギー)量を擁しているからこそ、生み出された『邪龍獣』にも反映されているという訳である。

Hơn nữa, giá trị tồn tại của chúng dễ dàng vượt qua mười triệu. Chính vì Vega hiện tại sở hữu một lượng ma tố (năng lượng) khổng lồ, nên nó cũng được phản ánh lên những "Tà Long Thú" được tạo ra.

技量(レベル)がないという弱点はそのままだが、素の力だけでもとんでもない戦闘能力を秘めた化け物であると言えた。

Điểm yếu không có kĩ năng (level) vẫn còn đó, nhưng chỉ riêng sức mạnh cơ bản thôi cũng đủ để nói rằng chúng là những con quái vật ẩn chứa sức chiến đấu khủng khiếp.

そんな『邪龍獣』達が、一斉に解き放たれたのだ。

Những "Tà Long Thú" đó đã được thả ra cùng một lúc.

同時に出現した十二体もの『邪龍獣』は、ヴェガの困惑した意思に従い大暴れし始めたのだった。

Mười hai con "Tà Long Thú" xuất hiện cùng lúc, tuân theo ý chí bối rối của Vega và bắt đầu quậy phá.

ヴェガの思惑としては、『邪龍獣』が暴れている隙に逃亡する事である。

Ý đồ của Vega là lợi dụng lúc "Tà Long Thú" đang quậy phá để trốn thoát.

今の状況はサッパリわからないし、自分が戦う理由もないと思っている。

Hắn hoàn toàn không hiểu tình hình hiện tại, và cũng không nghĩ mình có lí do gì để chiến đấu.

かつて行った悪事も、その大半は忘却の彼方だ。

Những việc làm xấu xa trước đây, phần lớn hắn đã quên đi.

何なら、贖(しょく)罪(ざい)だって終わっているつもりである。

Thậm chí, hắn còn cho rằng mình đã chuộc tội xong rồi.

だがそれは、ヴェガにとっての事情でしかない。ヒナタやテスタロッサからすれば、ヴェガは憎むべき敵なのだ。

Nhưng đó chỉ là lí do của riêng Vega. Đối với Hinata và Testarossa, Vega là kẻ thù đáng căm ghét.

そこに思い至らないのが、ヴェガの限界であった。

Không nhận ra điều đó chính là giới hạn của Vega.

ヴェガが『邪龍獣』を解き放った時、コルヌと対峙していたルドラにヴェルグリンドが問いかけた。

Khi Vega giải phóng "Tà Long Thú", Verugrynd hỏi Rudra, người đang đối đầu với Cornu.

「厄介な奴等が暴れ出したけど、また英雄達を呼び出すべきじゃなくて?」

"Lũ phiền phức kia đã bắt đầu quậy phá rồi, không phải chúng ta nên gọi các anh hùng ra lần nữa sao?"

ルドラ──マサユキの『英魂道導(ハシャノヨルベ)』ならば、何体かの『邪龍獣』を受け持てる。ヴェルグリンドが用意出来る『別(べつ)身(しん)体(たい)』次第だが、戦況を有利に立て直せるはずだ。

Nếu là "Dẫn Lối Anh Hồn" của Rudra... Masayuki, thì có thể đối phó được với vài con "Tà Long Thú". Tùy thuộc vào "Cơ thể khác" mà Verugrynd có thể chuẩn bị, họ có thể xoay chuyển tình thế chiến trường theo hướng có lợi.

そう考えたヴェルグリンドの発言だったのだが、これをルドラが却下する。

Đó là suy nghĩ của Verugrynd, nhưng Rudra đã bác bỏ.

「無理だな。一度呼び出した英雄は、力を使い果たしている。それに──『英魂道導(ハシャノヨルベ)』は本来、英雄達に負担をかけないように、各々の必殺技を同時に放つだけの技なんだ。長時間顕現させるのは、俺にとっても維持するのが大変なのさ」

"Không được. Anh hùng đã được triệu hồi một lần thì đã cạn kiệt sức lực. Hơn nữa... "Dẫn Lối Anh Hồn" vốn dĩ là một kĩ thuật chỉ để các anh hùng đồng loạt tung ra tuyệt kĩ của mình mà không gây gánh nặng cho họ. Việc duy trì sự hiện diện của họ trong thời gian dài đối với ta cũng rất khó khăn".

この場合、ルドラではなくマサユキにとって、だ。

Trong trường hợp này, không phải là đối với Rudra, mà là đối với Masayuki.

前回の〝魂(こん)痛(つう)〟でも大変だったが、アレでもまだ運が良かった方だ。下手すれば寿命が縮むのだと、ルドラは説明した。

Lần trước bị "linh hồn đau đớn" đã rất vất vả, nhưng đó vẫn còn là may mắn. Nếu không cẩn thận có thể sẽ bị giảm tuổi thọ, Rudra giải thích.

これを聞いて、ヴェルグリンドはアッサリと意見を翻す。

Nghe vậy, Verugrynd đã nhanh chóng thay đổi ý kiến.

「ならば、他の者達に頑張ってもらいましょうか」

"Vậy thì, chúng ta hãy để những người khác cố gắng vậy".

マサユキ優先らしい、ブレないヴェルグリンドであった。

Verugrynd vẫn luôn ưu tiên Masayuki, không hề thay đổi.

そうして、戦場は更に混迷する事となった。

Và thế là, chiến trường càng trở nên hỗn loạn hơn.

ヴェガが焦って放った『邪龍獣』達の相手をするのは、ゴブタ達の役目になった。

Đối phó với những con "Tà Long Thú" do Vega vội vàng thả ra đã trở thành nhiệm vụ của Gobuta và những người khác.

勿論、ゴブタ達だけではない。

Tất nhiên, không chỉ có Gobuta và đồng đội.

ゴブタ&ランガ、ガビル、ゲルド、この三名+一匹だけで十二体もの『邪龍獣』を相手するのは不可能だ。そこで、シオンとクマラがヴェガを放置して『邪龍獣』へと向かった。

Chỉ với Gobuta & Ranga, Gabiru, Gerudo, ba người cộng một con vật không thể nào đối phó được với mười hai Tà Long Thú. Vì vậy, Shion và Kumara đã bỏ qua Vega và hướng về phía Tà Long Thú.

それだけでなく、コルヌとルドラの戦いを観戦していたカリオン、ミッドレイ、フレイの三名も、援軍としてやって来る。ヴェルグリンドとルドラの会話を聞いていたので、自分達が動くべきだと判断したのだ。

Không chỉ vậy, Callion, Middray và Frey, ba người đang quan sát trận chiến giữa Cornu và Rudra, cũng đến làm viện binh. Vì đã nghe cuộc trò chuyện giữa Verugrynd và Rudra, họ đã quyết định rằng mình nên hành động.

これで、八名+一匹。

Vậy là tám người cộng một con vật.

そこに、事情を察したレオン、エルメシア、シルビアの三名も参戦だ。

Thêm vào đó, Leon, Elmesia và Sylvia, ba người đã nhận ra tình hình, cũng tham chiến.

それでもまだ一人足りなかったのだが、「──俺が相手をしよう」と言って、ソウエイが影から出現した。

Vẫn còn thiếu một người, nhưng Souei đã xuất hiện từ trong bóng tối và nói: "...Ta sẽ đối phó".

これによって、動きかけたヒナタがヴェガに向き直る。

Nhờ vậy, Hinata đang định di chuyển đã quay lại đối mặt với Vega.

ヴェガの思惑は外れた。

Ý đồ của Vega đã thất bại.

結局、テスタロッサとヒナタが立ち塞がっていて、逃げ出す隙が生まれなかったのだ。

Cuối cùng, Testarossa và Hinata đã chặn đường, không để lại bất kì kẽ hở nào cho hắn trốn thoát.

ところがここで、大きく状況が変化する。

Thế nhưng ngay tại đây, tình hình đã có một sự thay đổi lớn.

──世界が、停止した──

...Thế giới đã ngừng lại...

時間が止まった事で、戦場全てが静止した。

Thời gian ngừng lại, cả chiến trường chìm vào tĩnh lặng.

そして戦いの結末は、時間すらも統べる者達の手に委ねられる事になったのである。

Và kết cục của trận chiến đã được giao phó cho những kẻ có thể chi phối cả thời gian.

ジャヒルが、コルヌが、ヴェガが、その瞬間を迎えた。

Jahil, Cornu, Vega, đã đối mặt với khoảnh khắc đó.

時間が止まったのだと、三名が同時に理解する。

Cả ba người cùng lúc nhận ra rằng thời gian đã ngừng lại.

初めての体験だったが、普通に対応可能だ。イヴァラージェの子供達に、適応能力があったお陰である。その肉体を得た事で、宿った者達も〝停止世界〟に適応していたのだ。

Đây là lần đầu tiên trải nghiệm, nhưng họ có thể đối phó một cách bình thường. Đó là nhờ vào khả năng thích ứng của những đứa con của Ivalage. Nhờ có được cơ thể đó, những kẻ nhập vào cũng đã thích ứng với "Thế Giới Ngưng Đọng".

これにより、危機を脱した者がいた。

Nhờ đó, đã có kẻ thoát khỏi nguy hiểm.

ヴェガだ。

Đó là Vega.

ヴェガと十二体もの『邪龍獣』は、集った猛者達と互角に戦えていた。身体能力とスキル性能に頼った戦い方ではあったが、死体があれば直ぐに回復するという厄介な特性も有しているだけあって、実力で勝る者達を相手に一歩も退かなかったのだ。

Vega và mười hai Tà Long Thú đã có thể chiến đấu ngang ngửa với những kẻ mạnh tập trung tại đây. Dù là lối đánh dựa vào thể chất và hiệu năng kĩ năng, nhưng chúng còn có một đặc tính phiền phức là có thể hồi phục ngay lập tức nếu có xác chết, nên chúng không hề lùi bước trước những đối thủ mạnh hơn về thực lực.

十二名+一匹の内の半数は、存在値の差など物ともせずに、苦戦する事なく『邪龍獣』を押していた。

Một nửa trong số mười hai người cộng một con vật đã áp đảo "Tà Long Thú" mà không gặp chút khó khăn nào, bất chấp sự chênh lệch về giá trị tồn tại.

しかし残る半数は、決定打に欠ける戦いを強いられる事で、ジリジリと消耗する流れになっていた。

Thế nhưng, nửa còn lại bị buộc phải chiến đấu trong tình trạng thiếu đòn quyết định, dần dần bị bào mòn sức lực.

そうした状況が、時間が停止した事で一変したのである。

Tình hình đó đã hoàn toàn thay đổi khi thời gian ngừng lại.

ヴェガの周囲にいて〝停止世界〟の中で活動出来るのは、テスタロッサとシオンとディアブロのみだった。

Trong số những người xung quanh Vega, chỉ có Testarossa, Shion và Diablo có thể hoạt động trong "Thế Giới Ngưng Đọng".

ソウエイはディアブロから対処方法を学んではいたが、いまだ使いこなせてはいなかった。意識はあっても、身体を動かせずにいる。

Souei đã học được cách đối phó từ Diablo, nhưng vẫn chưa thể sử dụng thành thạo. Dù có ý thức nhưng cơ thể không thể cử động.

他の者達は全ての活動が封じられて、戦場に取り残されてしまっていた。

Những người khác đều bị phong tỏa mọi hoạt động và bị bỏ lại trên chiến trường.

致命的な事態、だったのだが……。

Đó là một tình huống chí mạng, nhưng...

これで決着とならなかったのは、敵だった『邪龍獣』達も〝停止世界〟では活動不能となっていたからだ。

Trận chiến không kết thúc ở đây là vì những "Tà Long Thú" vốn là kẻ thù cũng không thể hoạt động trong "Thế Giới Ngưng Đọng".

ヴェガが乗り移れば動けるだろうが、そうした事に知恵が回るほどヴェガは器用ではないのだ。ヴェガ自身、今何が起きているのか理解に苦しんでいるのだから、そこまで判断が及ぶはずがないのである。

Nếu Vega nhập vào thì chúng có thể cử động, nhưng Vega không đủ khéo léo để nghĩ ra điều đó. Bản thân Vega cũng đang khó khăn để hiểu chuyện gì đang xảy ra, nên không thể nào phán đoán được đến mức đó.

そもそもヴェガとしては、今は戦っている場合ではないと考えていた。なので、この状況は渡りに船だったのである。

Vốn dĩ, Vega cho rằng bây giờ không phải là lúc để chiến đấu. Vì vậy, tình huống này đúng là trời giúp.

幸か不幸か、ヴェガと直接斬り結んでいたのはヒナタであり、テスタロッサは少し離れて『虚無』を展開させていた。

May hay không may, người trực tiếp giao chiến với Vega là Hinata, còn Testarossa thì đứng cách một khoảng để triển khai "Hư Vô".

ヴェガの逃げ道を塞ぎ、一気に始末する構えだったのだ。

Cô định chặn đường thoát của Vega và xử lí hắn trong một lần.

ヴェガも本能的に危険を察知していたのだが、ヒナタの猛攻を凌ぐのに手一杯だった。そこに到来した千載一遇のチャンスに、ヴェガは迷いなく飛びついたのである。

Vega cũng đã cảm nhận được nguy hiểm một cách bản năng, nhưng hắn đã quá bận rộn để chống đỡ các đòn tấn công dữ dội của Hinata. Tận dụng cơ hội ngàn năm có một này, Vega đã không ngần ngại chớp lấy.

ヴェガの身を蝕むように、周囲を満たしていた『虚無』が牙をむいた。しかし、ヴェガを完全に消し去れるほどの密度ではない。

"Hư Vô" đang bao trùm xung quanh như muốn ăn mòn cơ thể Vega đã nhe nanh. Tuy nhiên, mật độ của nó không đủ để hoàn toàn xóa sổ Vega.

(痛(いて)ぇが、これくらいなら大した事ねーぜ!)

(Đau đấy, nhưng thế này thì cũng chẳng là gì!)

大した事はある。

Cũng là gì đấy.

何しろ今のテスタロッサは、ヴェルザードの相手をしていた時よりも凶悪になっていた。スライム細胞を我が物とした結果、先ほどまでとは比較にならない速度と精度で『虚無』を操れるようになっていた。

Dù sao thì Testarossa hiện tại đã trở nên hung ác hơn cả lúc đối đầu với Veruzard. Kết quả của việc làm chủ tế bào slime, cô đã có thể điều khiển "Hư Vô" với tốc độ và độ chính xác không thể so sánh được với trước đó.

そんなテスタロッサが構築した〝白き清浄なる世界(ニヒリスティックワールド)〟は、〝停止世界〟など物ともせずにヴェガを襲ったのである。

"Bạch Giới Thanh Tịnh" do Testarossa xây dựng đã tấn công Vega mà không hề bị ảnh hưởng bởi "Thế Giới Ngưng Đọng".

それを気にせずに突き破ったのだから、ヴェガは満身創痍となっていた。

Vì đã không màng đến mà xuyên qua nó, Vega đã toàn thân đầy thương tích.

それでも、生きているから問題ない──と考えるヴェガの方が、この場合は異常だと断言出来るだろう。

Dù vậy, Vega vẫn nghĩ rằng "còn sống thì không sao cả", có thể nói trong trường hợp này, suy nghĩ đó mới là bất thường.

『チッ、またも逃げられてしまったわ』

"Chậc, lại để hắn chạy thoát nữa rồi".

『ふむ。今回に限って言えば、貴女の落ち度ではなさそうですがね』

"Hừm. Riêng lần này thì có vẻ không phải lỗi của cô".

『あら? ディアブロがわたくしを慰めてくれるなんて、珍しい事もあるものね』

"Ồ? Diablo mà lại an ủi tôi, đúng là chuyện lạ".

『別に、事実を述べたまでです。あの者は、私やベニマル殿達と戦っても生き延びている。それを鑑みても、始末するのは困難でしょうから』

"Không có gì, tôi chỉ nói sự thật thôi. Kẻ đó đã sống sót sau khi chiến đấu với tôi và Benimaru-dono. Xét đến điều đó, việc xử lí hắn chắc chắn sẽ khó khăn".

それに──と、ディアブロが続ける。

Hơn nữa... Diablo tiếp tục.

『少し、違和感がありました』

"Tôi có cảm giác hơi kì lạ".

『違和感ですって?』

"Kì lạ ư?"

『ええ。迷宮内で対峙した時は、もっと力への渇望に満ていたのですがね。今の彼からは、そんな気迫がまるで感じられなかったのですよ』

"Vâng. Khi đối đầu trong mê cung, hắn tràn đầy khát khao sức mạnh hơn nhiều. Nhưng từ hắn bây giờ, tôi hoàn toàn không cảm nhận được khí phách đó".

貪欲なまでの、勝利への欲求。今のヴェガにはそれがなかった。

Một ham muốn chiến thắng đến mức tham lam. Vega hiện tại không có điều đó.

ディアブロはそれを見抜き、不審に思っていたのである。

Diablo đã nhận ra điều đó và cảm thấy nghi ngờ.

『勝つ気のない相手を倒しても面白くないとか、相変わらず貴方の視点はズレているわ』

"Đánh bại một đối thủ không có ý chí chiến thắng cũng chẳng vui vẻ gì, quan điểm của ngài vẫn lệch lạc như mọi khi".

テスタロッサが、呆れたようにそう締めくくった。

Testarossa kết luận một cách chán nản.

これに頷くのがシオンだ。

Shion gật đầu đồng tình.

『ディアブロがオカシイという意見には同意です。それに、難しく考える必要は何もないではないか! 敵ならば、倒す。敵じゃないかどうかも、倒してから考えれば済む話です!!』

"Tôi đồng ý với ý kiến rằng Diablo thật kì lạ. Hơn nữa, chẳng cần phải suy nghĩ phức tạp làm gì! Nếu là kẻ thù thì cứ tiêu diệt. Có phải kẻ thù hay không, cứ tiêu diệt xong rồi nghĩ cũng được!!"

色々と間違っている意見を、堂々と述べていた。

Cô ta đã đường đường chính chính nêu ra một ý kiến sai lầm ở nhiều khía cạnh.

そしてそのまま『悩むより慣れろと言いますし、私はもう行くとしましょう!!』と言い残して、ヴェガを追って去って行ったのである。

Và rồi cứ thế, cô ta nói "người ta bảo quen tay hay hơn là lo lắng, nên tôi đi đây!!" rồi đuổi theo Vega.

残されたディアブロとテスタロッサは、呆れたように顔を見合わせた。

Diablo và Testarossa còn lại nhìn nhau một cách chán nản.

『気になる点は多々あったけれど……』

"Dù có nhiều điểm đáng lo ngại..."

『シオン殿の言い分に一理あるのは、認めざるを得ませんね』

"Phải thừa nhận rằng lời nói của Shion-dono cũng có lí".

大きく頷き合う両名は、そのまま速やかにシオンの後を追ったのだった。

Cả hai gật đầu mạnh, rồi nhanh chóng đuổi theo Shion.

コルヌの前には、旧友三名が並び立っていた。

Trước mặt Cornu là ba người bạn cũ đang đứng cạnh nhau.

ルドラは剣を収納し、傍観の構えになっている。

Rudra đã tra kiếm vào vỏ và đứng ở thế quan sát.

『時間が止まっちまっているが、今の俺じゃあほとんど動けないだろうな』

"Thời gian đã ngừng lại rồi, nhưng với ta bây giờ thì gần như không thể cử động được".

『ええ、マサユキには無理ね』

"Vâng, Masayuki không thể làm được đâu".

マサユキは〝停止世界〟では何も出来ない。

Masayuki không thể làm gì trong "Thế Giới Ngưng Đọng".

というより、適応しているルドラが異常なのだ。

Hay đúng hơn, việc Rudra có thể thích ứng mới là bất thường.

ヴェルダナーヴァから直接教わった技なのだが、普通に考えて習得している方が不思議であった。

Đó là một kĩ năng được Verudanava trực tiếp dạy, nhưng nghĩ một cách bình thường thì việc học được nó mới là điều kì lạ.

そんなルドラだが、実際のところはマサユキを心配している。

Rudra như vậy, nhưng thực tế anh ta đang lo lắng cho Masayuki.

普通の少年でしかないマサユキの身体は、ルドラを宿すだけで精一杯なのだ。それを踏まえて無理せぬようにコルヌと戦っていたので、どれだけルドラの技量が卓越したものなのか理解出来ようというものだった。

Cơ thể của Masayuki, một cậu bé bình thường, chỉ có thể chứa đựng Rudra là đã hết sức. Dựa trên điều đó, anh ta đã chiến đấu với Cornu một cách cẩn trọng để không gắng sức quá mức, qua đó có thể hiểu được kĩ năng của Rudra xuất chúng đến mức nào.

途中からフェルドウェイの協力もあり、身体への負担は減っていた。その流れのまま今の状況となったので、ルドラとしてはこのまま戦闘終了になってくれると助かるのである。

Giữa chừng có sự giúp đỡ của Feldway, gánh nặng lên cơ thể đã giảm bớt. Cứ thế tình hình diễn ra như hiện tại, nên đối với Rudra, nếu trận chiến kết thúc như thế này thì thật tốt.

(ま、そう上手くいけばいいが、そうならなかった場合に備えて、少しでも体力を回復させとかねーとな)

(Mà, nếu mọi chuyện suôn sẻ thì tốt, nhưng đề phòng trường hợp không được như vậy, mình phải hồi phục thể lực một chút mới được.)

ルドラはそんなふうに思いつつ、様子を見守っていた。

Rudra vừa nghĩ vậy vừa quan sát tình hình.

コルヌの正面には、フェルドウェイが立っていた。

Trước mặt Cornu là Feldway đang đứng.

剣の技量(レベル)も、存在値も、全てが今のコルヌを上回っている。限界を超えるほどの疲労が蓄積していなければ、たった一人でもコルヌを倒せている実力者だ。

Cả kĩ năng kiếm thuật (level) lẫn giá trị tồn tại, tất cả đều vượt trội so với Cornu hiện tại. Nếu không tích tụ sự mệt mỏi vượt quá giới hạn, hắn là một kẻ mạnh có thể một mình đánh bại Cornu.

そんなフェルドウェイだが、剣を降ろしてコルヌへの説得中だった。

Feldway như vậy, nhưng hắn đã hạ kiếm xuống và đang thuyết phục Cornu.

オベーラとザラリオも、それに加勢している。

Obera và Zlario cũng đang hỗ trợ.

流石は元〝始原の七天使〟だけあって、全員が〝停止世界〟の影響を受けていない。時間の概念がなかった時代から、ヴェルダナーヴァの手足となって働いていたのだから、それも当然の話だった。

Quả không hổ là cựu "Thất Thiên sứ Nguyên thủy", tất cả đều không bị ảnh hưởng bởi "Thế Giới Ngưng Đọng". Từ thời đại không có khái niệm thời gian, họ đã làm việc như tay chân của Verudanava, nên đó là chuyện đương nhiên.

そんなフェルドウェイ達の会話だが、興奮するコルヌを宥めるところから始まった。

Cuộc trò chuyện của Feldway và những người khác bắt đầu bằng việc dỗ dành Cornu đang kích động.

自分の命令で異界への侵略を続けていただけで、コルヌに責任はないと主張するフェルドウェイ。

Feldway khẳng định rằng Cornu không có trách nhiệm, vì hắn chỉ tiếp tục xâm lược các thế giới khác theo lệnh của mình.

その通りよ、悪いのは全部フェルドウェイだ、と主張するオベーラとザラリオ。

Đúng vậy, tất cả là lỗi của Feldway, Obera và Zlario khẳng định.

いやいやいや、俺が死んだ後に何があったのだ? と困惑するコルヌ。

Không không không, sau khi ta chết đã có chuyện gì xảy ra? Cornu bối rối.

もはや、戦うどころではなくなっていた。

Họ đã không còn tâm trí để chiến đấu nữa.

ヴェルグリンドに焼き尽くされた事さえ、議題に上げる余裕がない状態である。

Ngay cả việc bị Verugrynd thiêu rụi cũng không có thời gian để đưa ra bàn luận.

時間が止まったのに、そのまま会話し続けているのだから、なかなかの混迷っぷりであった。

Thời gian đã ngừng lại mà họ vẫn tiếp tục trò chuyện, đúng là một tình cảnh hỗn loạn.

コルヌとしては、納得のいかない話ばかりだ。

Đối với Cornu, toàn là những chuyện khó có thể chấp nhận.

フェルドウェイが全次元、全世界を支配しようとした真の目的は、神であるヴェルダナーヴァを復活させようとしたからだった。

Mục đích thực sự của Feldway khi cố gắng thống trị tất cả các chiều không gian và thế giới là để hồi sinh Thần Verudanava.

そして、完全なる支配によって、あらゆる不幸を根絶しようと考えていたのだ。

Và, bằng sự thống trị hoàn toàn, hắn đã nghĩ đến việc xóa bỏ mọi bất hạnh.

服従しない者は排除するという過激思想ではあったが、力こそ正義という考え方に沿うならば、それもまた一つの理想形ではあった。

Dù là một tư tưởng cực đoan loại bỏ những kẻ không phục tùng, nhưng nếu theo quan điểm "sức mạnh là công lí", thì đó cũng là một hình mẫu lí tưởng.

そしてコルヌは、それが正しいと思い込んでいた一人である。

Và Cornu là một trong những người tin rằng điều đó là đúng.

オベーラやザラリオと違って、フェルドウェイと一番近い思想の持ち主だった訳だ。

Không giống như Obera hay Zlario, hắn là người có tư tưởng gần gũi nhất với Feldway.

全次元、全世界の完全支配は、まだまだ遠く道半ばだ。ヴェルダナーヴァが創った基軸世界から、観測が追い付かないほどの派生世界が誕生しているからである。

Việc thống trị hoàn toàn tất cả các chiều không gian và thế giới vẫn còn là một chặng đường dài. Đó là vì từ thế giới cốt lõi do Verudanava tạo ra, đã có vô số thế giới phái sinh ra đời mà không thể quan sát kịp.

それら異世界の、どこに神が再臨しようとも対応出来るように──というのが思想の根底にあったのだが、神たるヴェルダナーヴァは既に再臨を果たしていた。

Dù Thần có tái lâm ở bất kì thế giới nào trong số đó, họ đều có thể ứng phó... đó là nền tảng tư tưởng của họ, nhưng Thần Verudanava đã tái lâm rồi.

そうなると話は違ってくるし、何ならフェルドウェイの思惑すら飛び越えて、新世界を誕生させようと目論んでいるらしい。

Nếu vậy thì câu chuyện lại khác, thậm chí còn có vẻ như hắn đang âm mưu tạo ra một thế giới mới, vượt qua cả ý đồ của Feldway.

コルヌが混乱するのも、無理ない話だったのだ。

Việc Cornu bối rối cũng là điều dễ hiểu.

というより、オベーラやザラリオだって戸惑っているのだ。

Hay đúng hơn, ngay cả Obera và Zlario cũng đang bối rối.

『主が間違った道に進もうとしているのだから、それを指摘し、正して差し上げるのが配下たる我々の役目だろう?』

"Vì Chủ nhân đang đi sai đường, nên việc chỉ ra và sửa chữa điều đó là nhiệm vụ của chúng ta với tư cách là thuộc hạ, phải không?"

『は? 神は間違わない。お前だってそうだろう? お前は常に正しく、迷った事すらないではないか!!』

"Hả? Thần không bao giờ sai. Ngươi cũng vậy phải không? Ngươi luôn luôn đúng và chưa bao giờ do dự!!"

『それは──』

"Đó là..."

それはリーダーとして、部下を不安にさせたくなかったからだ──と、フェルドウェイは言葉にしかけて、それをグッと呑み込んだ。

Đó là vì với tư cách là một người lãnh đạo, tôi không muốn làm cho cấp dưới của mình lo lắng... Feldway định nói, nhưng rồi lại nuốt những lời đó vào trong.

リーダーとは、孤独なものだ。

Lãnh đạo là một kẻ cô độc.

常に迷っている優柔不断な者になど、誰も従わないのである。

Không ai sẽ đi theo một kẻ thiếu quyết đoán và luôn do dự.

部下の言葉を聞けば聞くほど、正しい道がわからなくなる。そう思ったからこそフェルドウェイは、自分だけの考えで正義を押し通し、部下にもそれを強要していたのだ。

Càng nghe lời cấp dưới, càng không biết con đường nào là đúng. Chính vì nghĩ vậy, Feldway đã áp đặt công lí theo suy nghĩ của riêng mình và ép buộc cấp dưới cũng phải làm theo.

コルヌはそれが正解だと思っていた。

Cornu nghĩ rằng đó là câu trả lời đúng.

この状況では悲しい事に、一番厄介なフェルドウェイ信者だったのだ。

Thật đáng buồn, trong tình huống này, hắn lại là tín đồ phiền phức nhất của Feldway.

『それは? 言ってくれ、フェルドウェイ! 俺はお前を信じているんだ!!』

"Đó là gì? Nói đi, Feldway! Ta tin ngươi!!"

『だから、それはだな……』

"Cho nên, đó là..."

ヴェルダナーヴァを盲目的に信じていたフェルドウェイからすれば、コルヌの言い分は耳が痛い話なのだ。

Đối với Feldway, người đã mù quáng tin vào Verudanava, lời nói của Cornu thật khó nghe.

神が間違わないという前提で全てを受け入れるならば、何一つ迷う事はないのである。

Nếu chấp nhận mọi thứ với tiền đề rằng Thần không bao giờ sai, thì sẽ không có gì phải do dự.

しかしそれは、ある意味で責任放棄であった。

Nhưng đó, theo một nghĩa nào đó, là sự thoái thác trách nhiệm.

個の意見など無意味であり、自分が生きている意味は何もなくなる。多様性は消滅し、神の意見しか反映されない寂しい世界になってしまう。

Ý kiến cá nhân trở nên vô nghĩa, và ý nghĩa tồn tại của bản thân cũng không còn. Sự đa dạng sẽ biến mất, và thế giới sẽ trở nên cô đơn khi chỉ có ý kiến của Thần được phản ánh.

(そうだ。考えてみれば、最初から間違えていたのだ。ヴェルダナーヴァ様は常に、多様性に満ちた世界こそを望んでいたではないか!)

(Đúng vậy. Nghĩ lại thì, mình đã sai ngay từ đầu. Chẳng phải ngài Verudanava luôn mong muốn một thế giới tràn đầy sự đa dạng sao!)

全知全能であろうが孤独は嫌だ──と、イヴァラージェと分離したのがヴェルダナーヴァなのだ。そんな主君が、自分達の意見を無視するはずがなかった。今更ながら、そう悟ったフェルドウェイである。

Dù toàn tri toàn năng nhưng vẫn ghét sự cô độc... đó là lí do Verudanava tách khỏi Ivalage. Một chủ nhân như vậy không thể nào phớt lờ ý kiến của chúng ta được. Mãi đến bây giờ, Feldway mới nhận ra điều đó.

『意見を出し合い、より良い選択をするべきだろう?』

"Chúng ta nên cùng nhau đưa ra ý kiến và lựa chọn phương án tốt hơn, phải không?"

『馬鹿な!? それで間違ったらどうする? 一番頭のいい者──つまり、お前が正解を導き出すのが、最良の結果に繋がるというものだ!!』

"Điên rồ!? Nếu làm vậy mà sai thì sao? Người thông minh nhất... tức là ngươi, đưa ra câu trả lời đúng mới là cách dẫn đến kết quả tốt nhất!!"

うーん、とフェルドウェイも頭を抱える。

"Ừm", Feldway cũng ôm đầu.

しかしながら、コルヌの発言を否定する論拠もなかった。何なら、自分の考えと似通っているのだから、思わず頷きそうになったほどである。

Tuy nhiên, hắn cũng không có lí do gì để phủ nhận lời nói của Cornu. Thậm chí, vì suy nghĩ của hắn cũng tương tự, hắn suýt nữa đã gật đầu đồng tình.

しかし、だ。

Thế nhưng.

フェルドウェイは気付いていた。

Feldway đã nhận ra.

リムルから神の血(さいぼう)を与えられ、死の淵より生還した事で、一つの真理に辿り着いていたのである。

Sau khi được Rimuru ban cho máu của thần (tế bào) và sống sót trở về từ cõi chết, hắn đã tìm ra được một chân lí.

ああ、いたのだ。

A, ngài ấy đã ở đó.

ここに居たのだ。

Ngài ấy đã ở đây.

私の神は、私を見捨てていなかった。

Thần của ta đã không bỏ rơi ta.

それどころか、むしろ──

Không những thế, mà còn...

真なる神が誕生する為のプログラムとして、私はヴェルダナーヴァ様から信用されていたのだ。

Với tư cách là một chương trình để một vị thần thực sự ra đời, tôi đã được ngài Verudanava tin tưởng.

というのが、フェルドウェイが得た天啓だ。

Đó là sự mặc khải mà Feldway đã nhận được.

勝手な妄想とも言う。

Cũng có thể nói là một ảo tưởng tự biên tự diễn.

けれどフェルドウェイは、ヴェルダナーヴァと、恩人にして新たな神となったリムルへの、心の奥底より湧き出る崇敬の念で溢れていた。そのせいかコルヌの事も見捨てられなかったし、可能であれば説得をしようとして、今まで以上に相手の意見に耳を傾けるようになってしまっていた。

Nhưng Feldway tràn đầy lòng sùng kính dâng trào từ sâu thẳm trái tim đối với Verudanava và Rimuru, người đã trở thành ân nhân và vị thần mới của hắn. Có lẽ vì vậy, hắn không thể bỏ rơi Cornu, và nếu có thể, hắn đã cố gắng thuyết phục, lắng nghe ý kiến của đối phương nhiều hơn bao giờ hết.

それ故の、泥沼である。

Chính vì vậy mà mọi chuyện càng thêm bế tắc.

オベーラとザラリオは、とっくの昔に呆れ顔だ。

Obera và Zlario đã chán nản từ lâu.

『違う違う。フェルドウェイだって、かなり間違っていたわ』

"Không, không phải. Feldway cũng đã sai lầm rất nhiều".

『大罪を犯していたな。そもそも、だ。部下の意見にも耳を傾けるほどの、器量の大きさは必要だろう?』

"Hắn đã phạm tội lớn. Vốn dĩ, cần phải có đủ sự rộng lượng để lắng nghe ý kiến của cấp dưới chứ?"

『大事よね、それ』

"Điều đó quan trọng nhỉ".

『自分の中に確固たる信念がないから、他人の言葉に惑うのだ』

"Vì không có một niềm tin vững chắc trong lòng nên mới bị lời nói của người khác làm cho bối rối".

『それはそれで、間違った信念に振り回される危険性もあるのよね……』

"Nhưng như vậy cũng có nguy cơ bị một niềm tin sai lầm chi phối..."

『それこそ、さっきまでのフェルドウェイだな』

"Đó chính là Feldway của lúc nãy".

『……これ、堂々巡りじゃない?』

"...Đây chẳng phải là một vòng luẩn quẩn sao?"

『正解のない話に真理を求めても、答えが出る訳もないな……』

"Tìm kiếm chân lí trong một câu chuyện không có câu trả lời đúng thì cũng chẳng có kết quả gì..."

とまあこんな感じで、議論が尽きる様子はなかった。

Và cứ thế, cuộc thảo luận dường như không có hồi kết.

ルドラは既に、休憩している。

Rudra đã nghỉ ngơi rồi.

ヴェルグリンドも既に他人事で、力の回復に努めるルドラを守護していた。

Verugrynd cũng không còn quan tâm đến chuyện của người khác, đang bảo vệ Rudra, người đang cố gắng hồi phục sức mạnh.

そこに通りかかったディアブロが、そんな様子を一瞥する。

Diablo đi ngang qua, liếc nhìn cảnh tượng đó một cái.

しかし、何も言わず。

Nhưng không nói gì.

侮蔑の視線を置き土産にして、その場を素通りしたのだった。

Hắn để lại một ánh mắt khinh bỉ rồi đi thẳng qua đó.

時間が止まったのだと、ジャヒルも認識していた。

Jahil cũng đã nhận ra rằng thời gian đã ngừng lại.

初めての体験だが、〝情報子〟を感知出来るようになった事で、その状況も自然と受け入れられたのである。

Đây là lần đầu tiên trải nghiệm, nhưng nhờ có thể cảm nhận được "hạt thông tin", hắn đã có thể chấp nhận tình hình một cách tự nhiên.

ジャヒルの前にはまだ、立ち塞がる者達がいた。

Trước mặt Jahil vẫn còn những kẻ đang cản đường.

ウルティマとカレラだ。時が止まる前と変わらず、猛攻が続いていた。

Đó là Ultima và Carrera. Cuộc tấn công dữ dội vẫn tiếp tục như trước khi thời gian ngừng lại.

そして、もう一人。

Và, một người nữa.

『あれ? これって時間が止まってる感じ?』

"Hả? Cảm giác như thời gian đang ngừng lại?"

そう呟いたのは、ユウキだった。

Người lẩm bẩm câu đó là Yuki.

異界で時間の流れを観測した事で、ユウキも〝停止世界〟への免疫が出来ていたのだ。

Nhờ quan sát dòng chảy thời gian ở thế giới khác, Yuki cũng đã có khả năng miễn nhiễm với "Thế Giới Ngưng Đọng".

しかしそれは、ユウキが天才だからこそ、だ。一緒に体験していたはずのマイだが、こちらは普通に取り残されていた。

Nhưng đó là vì Yuki là một thiên tài. Mai, người đáng lẽ cũng đã trải qua điều tương tự, lại bị bỏ lại một cách bình thường.

ラプラスでさえも、止まった時間を認識すら出来ずにいる。レオンもそうだが、元〝勇者〟であろうが不可能なものは不可能なのだ。

Ngay cả Laplace cũng không thể nhận ra thời gian đã ngừng lại. Leon cũng vậy, dù từng là "Dũng giả", nhưng cái gì không thể thì vẫn là không thể.

そんな訳で、ジャヒルに対する戦力は減ってしまったのだが、それについては問題なかった。

Vì vậy, lực lượng chiến đấu chống lại Jahil đã giảm đi, nhưng điều đó không thành vấn đề.

何しろ時が止まる前も、ウルティマとカレラだけでジャヒルの相手をしていたからだ。

Dù sao thì trước khi thời gian ngừng lại, cũng chỉ có Ultima và Carrera đối phó với Jahil.

しかもここに、ルミナスまで参戦した。

Hơn nữa, Luminous cũng đã tham chiến.

『そこの愚か者には思うところもある故、妾(わらわ)も手伝わせてもらうぞ』

"Ta cũng có vài điều muốn nói với kẻ ngu ngốc kia, nên thiếp cũng xin góp một tay".

それが当然という顔で、ウルティマとカレラに並び立ったのである。

Với vẻ mặt như thể đó là điều hiển nhiên, cô đứng ngang hàng với Ultima và Carrera.

『このクソ女共がァーーッ!!』

"Lũ đàn bà khốn kiếp!!"

ジャヒルの怨念混じりの罵声が、『思念』となって〝停止世界〟に響いた。

Tiếng chửi rủa đầy oán hận của Jahil biến thành "Tư niệm" và vang vọng trong "Thế Giới Ngưng Đọng".

それを聞いて、ウルティマが愉悦に満ちた表情を浮かべる。

Nghe vậy, Ultima nở một nụ cười đầy khoái trá.

『いいねえ、その悔しそうな表情! もっともっといたぶってあげるね♪』

"Tuyệt vời, cái vẻ mặt cay cú đó! Ta sẽ hành hạ ngươi nhiều hơn nữa♪"

『相変わらず、君は性格が悪いな! 私は優しいから、楽に始末してあげるべきだと主張するがね』

"Tính cách của cậu vẫn tệ như mọi khi! Tôi thì hiền lành nên tôi cho rằng nên xử lí hắn một cách nhẹ nhàng".

『何を言ってるのさ。さっきからずっと、新しい技の実験台にしてるじゃないか』

"Cậu đang nói gì vậy? Từ nãy đến giờ cậu vẫn đang dùng hắn làm vật thí nghiệm cho kĩ năng mới còn gì".

『それは仕方ないだろう? コイツがしぶと過ぎるんだからさ』

"Đó là chuyện không thể tránh khỏi đúng không? Vì tên này quá dai dẳng mà".

カレラの意見に、ウルティマも『まあね』と頷いた。

Trước ý kiến của Carrera, Ultima cũng gật đầu "Cũng đúng".

実際、ジャヒルはとんでもなくしぶとかった。

Thực tế, Jahil cực kì dai dẳng.

単純に存在値も膨大になっており、下手な攻撃を仕掛けても瞬時に回復してしまうのだ。

Giá trị tồn tại của hắn cũng đã tăng lên một cách khủng khiếp, nên dù có tung ra những đòn tấn công tầm thường, hắn cũng sẽ hồi phục ngay lập tức.

『お主らも相変わらずじゃが、こういう時は頼もしく思うぞ』

"Các ngươi vẫn như mọi khi nhỉ, nhưng những lúc thế này lại thấy thật đáng tin cậy".

『そっちもね、ルミナス。ボク達が協力する事なんて、この先ないかもよ?』

"Ngươi cũng vậy đó, Luminous. Có lẽ sau này chúng ta sẽ không còn cơ hội hợp tác nữa đâu?"

『そう考えれば、貴重な機会じゃな』

"Nếu nghĩ vậy thì đây là một cơ hội quý giá nhỉ".

実力面では、ウルティマやカレラの方が上回っていた。

Về mặt thực lực, Ultima và Carrera vượt trội hơn.

ルミナスもまた、同様だ。創世級(ジェネシス)である〝法則(ダルマ)〟まで手にしているので、戦闘能力という面でも優秀である。

Luminous cũng vậy. Vì đã có được cả "Pháp tắc (Dharma)" cấp Sáng thế (Genesis), nên về mặt năng lực chiến đấu cũng rất xuất sắc.

それなのに決着がついていないのは、何も彼女達が遊んでいたのが理由ではないのだった。

Vậy mà vẫn chưa phân thắng bại, lí do không phải là do họ đang chơi đùa.

ウルティマも、カレラも、両者共に『虚無』を纏(まと)った攻撃方法を編み出していた。以前から感じてはいたが開く事の出来なかった胸の奥の〝扉〟を、ようやく開け放つ事に成功したのだ。

Cả Ultima và Carrera đều đã sáng tạo ra phương thức tấn công bao bọc bởi "Hư Vô". Họ cuối cùng đã thành công trong việc mở ra "cánh cửa" sâu trong lòng mà trước đây họ có cảm nhận nhưng không thể mở được.

そうして、スライム細胞を得て強くなったからと、自分の趣味嗜好を優先させるような二人ではない。多少は調子に乗りつつも、的確にジャヒルを仕留めにかかっていた。

Và rồi, không phải vì có được tế bào slime và trở nên mạnh mẽ hơn mà họ lại ưu tiên sở thích cá nhân của mình. Dù có phần tự mãn, nhưng họ vẫn đang nhắm đến việc hạ gục Jahil một cách chính xác.

そしてルミナスは、神祖であったという記憶を蘇らせて、人格の再統合を試みていた。それによってかつてない〝力〟を手にしており、それこそ〝竜種〟にすら並ぶまでに至っていたのである。

Và Luminous, sau khi hồi phục kí ức về việc mình từng là Thần tổ, đã cố gắng tái hợp nhất nhân cách. Nhờ đó, cô đã có được một "sức mạnh" chưa từng có, thậm chí còn đạt đến mức ngang hàng với cả "Long chủng".

それでも倒しきれなかったのは、ジャヒルもまた膨大な魔力を有していたからである。

Dù vậy vẫn không thể đánh bại hoàn toàn là vì Jahil cũng sở hữu một lượng ma lực khổng lồ.

ジャヒルがスイームと融合していなければ、とっくに〝魂〟ごと消滅させていた。そう出来なかった悔しさから、彼女達の言葉も辛辣になるほかないのだ。

Nếu Jahil không hợp nhất với Swim, họ đã sớm tiêu diệt hắn cùng với cả "linh hồn". Chính vì sự tiếc nuối không thể làm được điều đó, lời nói của họ càng trở nên cay nghiệt hơn.

一方、ジャヒルにしても不満だらけだ。

Mặt khác, Jahil cũng đầy bất mãn.

ユウキの権能によって、自身の欲望に呑まれて死んだはずだったが、神の慈悲によって復活を遂げた。その事実を理解するなり、やはり自分は間違っていなかったのだと、歪み切った自信を取り戻したのだ。

Bởi quyền năng của Yuki, hắn đáng lẽ đã bị nuốt chửng bởi chính ham muốn của mình và chết đi, nhưng nhờ lòng từ bi của Thần, hắn đã được hồi sinh. Ngay khi hiểu ra sự thật đó, hắn đã lấy lại được sự tự tin méo mó rằng mình đã không sai.

それなのに、生意気な女三人に翻弄されている。

Vậy mà lại bị ba người phụ nữ xấc xược đùa giỡn.

それがジャヒルには許せないのだ。

Điều đó khiến Jahil không thể tha thứ.

どんどんと体力が削られる。

Thể lực dần dần bị bào mòn.

消耗は回復量を上回っており、このままでは敗北必至だった。

Sự tiêu hao đã vượt quá lượng hồi phục, cứ thế này thì thất bại là điều không thể tránh khỏi.

(ぐぬぬぬぬ、マズイ、マズイぞぉ!! まだまだ余力はあるが、このままでは負けてしまう……)

(Grừ, không ổn, không ổn rồi!! Dù vẫn còn dư sức nhưng cứ thế này thì sẽ thua mất...)

痛みは感じぬが、その身に恐怖が刻まれていく。

Không cảm thấy đau, nhưng nỗi sợ hãi đang khắc sâu vào cơ thể.

精神生命体──特に情報生命体(デジタルネイチャー)は、負けたと思った瞬間に敗北が決定してしまうのだ。

Sinh mệnh thể tinh thần - đặc biệt là Sinh mệnh thể thông tin (Digital Nature), ngay khoảnh khắc nghĩ rằng mình đã thua, thất bại sẽ được quyết định.

ジャヒルは焦り、妙案も思い浮かばぬまま応戦し続けている。

Jahil lo lắng, tiếp tục chiến đấu mà không nghĩ ra được kế sách nào hay.

時間が停止した今、放出系の技は全て扱えなくなり、それこそ、ジャヒルにとって不利な状況となってしまっていた。

Bây giờ, khi thời gian đã ngừng lại, tất cả các kĩ năng dạng phóng xuất đều không thể sử dụng được, đó là một tình thế bất lợi cho Jahil.

今までも、ユウキが邪魔して有効的な結果を得られていない。それなのに、これで完全に手詰まりとなってしまったのだ。

Từ trước đến nay, Yuki luôn cản trở và không thể đạt được kết quả khả quan. Vậy mà bây giờ, hắn đã hoàn toàn bị dồn vào đường cùng.

ジャヒルは忌々しく思ったが、それだけでは事態は改善しない。

Jahil cảm thấy bực bội, nhưng chỉ vậy thôi thì tình hình không được cải thiện.

ようやく理解したスイームの奥義──〝拡散歪曲量子砲(クアンタムスプラッシュ)〟でさえも、全ての物理法則が通用しない〝停止世界〟の中では使用不可能となっていた。

Ngay cả bí kĩ của Swim mà hắn cuối cùng cũng đã hiểu được... "Pháo Lượng Tử Khuếch Tán Oai Khúc", cũng không thể sử dụng được trong "Thế Giới Ngưng Đọng" nơi mọi định luật vật lí đều vô hiệu.

『クソがァーーーーッ!! 余が、魔導大帝たるこのワシが、このような場所で朽ちるなど許されんのだァーーッ!!』

"Chết tiệt!! Ta, Ma Đạo Đại Đế vĩ đại này, không thể nào mục rữa ở một nơi như thế này được!!"

ジャヒルは怒号の如き『思念』を飛ばした。

Jahil phóng ra một "Tư niệm" như tiếng gầm giận dữ.

『焼き尽くしてくれるわッ!!』

"Ta sẽ thiêu rụi ngươi!!"

そして、その怒りの感情を燃料にして、自身の権能を発動させる。

Và rồi, lấy cảm xúc giận dữ đó làm nhiên liệu, hắn kích hoạt quyền năng của mình.

究極付与(アルティメットエンチャント)『火焔之王(アグニ)』の業火であろうとも、〝停止世界〟の中では放出出来ない。だがしかし、自身の体内ならば話は別だ。

Ngay cả nghiệp hỏa của Phó thác Tối thượng "Hỏa Diễm Vương (Agni)", cũng không thể phóng ra trong "Thế Giới Ngưng Đọng". Nhưng, nếu là bên trong cơ thể của chính mình thì lại là chuyện khác.

『アイツ!?』

"Tên đó!?"

『ふむ、ヤツの体表で〝量子ゆらぎ〟の法則性が観測出来るのう。何か狙っておるようじゃ』

"Hừm, trên bề mặt cơ thể của hắn có thể quan sát được tính quy luật của "biến động lượng tử". Có vẻ như hắn đang nhắm đến điều gì đó".

『どうでもいいさ! 私が正面から、どんな企みであろうが打ち破ってみせようとも!!』

"Sao cũng được! Tôi sẽ đối đầu trực diện, bất kể âm mưu gì cũng sẽ phá tan cho xem!!"

ウルティマ、ルミナス、カレラの反応だ。

Đó là phản ứng của Ultima, Luminous và Carrera.

そしてそのまま三者三様に動こうとしたのだが、自(や)棄(け)になったようなジャヒルの攻撃は、そんな彼女達の想定を上回るものだった。

Và rồi cả ba định hành động theo cách riêng của mình, nhưng đòn tấn công liều lĩnh của Jahil đã vượt xa dự đoán của họ.

地力が違い過ぎたのだ。

Sức mạnh nền tảng quá chênh lệch.

ウルティマやカレラからすれば、二十倍以上の存在値になる。

Đối với Ultima hay Carrera, giá trị tồn tại của hắn gấp hơn hai mươi lần.

創世級(ジェネシス)を所有するルミナスからしても、倍以上の力を秘めていた。

Ngay cả với Luminous, người sở hữu cấp Sáng thế (Genesis), hắn cũng ẩn chứa sức mạnh gấp đôi.

そんなジャヒルが後先考えず、その力を内燃させて特攻してきたのだ。普通のやり方で止めるのは不可能だったのである。

Jahil như vậy đã không nghĩ trước sau, tự đốt cháy sức mạnh đó để tấn công liều chết. Việc ngăn chặn hắn bằng cách thông thường là không thể.

『あのさあカレラ、真正面で止めるんじゃなかったのかな?』

"Này Carrera, không phải cậu định chặn hắn từ chính diện sao?"

『無茶を言うんじゃない! アレは流石に、ちょっと無理かなって思えてね』

"Đừng có nói chuyện vô lí! Cái đó thì quả thật, tôi thấy hơi quá sức".

『……まあ、無理じゃな。あのような手は一見すると無謀じゃが、意外と理にかなっておるようじゃ』

"...Ừm, đúng là không thể. Một chiêu như vậy thoạt nhìn có vẻ liều lĩnh, nhưng lại có vẻ khá hợp lí".

口喧嘩し始めたウルティマとカレラを尻目に、ルミナスがそう評した。

Trong khi Ultima và Carrera bắt đầu cãi nhau, Luminous đã đưa ra nhận xét.

ジャヒルの攻撃は単純だ。

Đòn tấn công của Jahil rất đơn giản.

技量も何もなく、権能と地力を複合させた力業でしかない。

Không có kĩ năng gì cả, chỉ là một chiêu thức sức mạnh kết hợp giữa quyền năng và sức mạnh nền tảng.

だが、しかし。

Nhưng mà.

それはジャヒルも意図せぬままに、技術(アーツ)として機能していたのである。

Nó, dù Jahil không hề cố ý, đã hoạt động như một kĩ thuật (Arts).

究極付与(アルティメットエンチャント)『火焔之王(アグニ)』の業火による内燃は、ジャヒルの魔素(エネルギー)を消耗しながら体内で燃焼する。それはスイームの身体にあった動力炉と反応し、異常なまでのエネルギー上昇を記録した。

Sự đốt cháy bên trong bởi nghiệp hỏa của Phó thác Tối thượng "Hỏa Diễm Vương (Agni)" đã tiêu hao ma tố (năng lượng) của Jahil và bùng cháy trong cơ thể hắn. Nó phản ứng với lò phản ứng trong cơ thể Swim, ghi nhận một sự gia tăng năng lượng bất thường.

しかも、スイームの体表を覆っていた鱗は、今や究極の金属(ヒヒイロカネ)の鎧となってジャヒルを守っていたのだ。

Hơn nữa, lớp vảy bao phủ bề mặt cơ thể của Swim giờ đây đã trở thành một bộ giáp bằng Kim loại Tối thượng (Hihiirokane) bảo vệ Jahil.

それらの結果が複合した事で、ジャヒル自身が『極大火焔球』と化していた。

Kết quả của những điều đó kết hợp lại, bản thân Jahil đã biến thành một "Cực Đại Hỏa Viêm Cầu".

触れるだけで大ダメージを負うので、迂闊な手出しは命取りになるほどの危険度だった。

Chỉ cần chạm vào là sẽ bị thương nặng, mức độ nguy hiểm đến mức nếu sơ suất ra tay có thể sẽ mất mạng.

ジャヒルは跳躍するように飛び回る。

Jahil nhảy nhót khắp nơi.

スイームの面影などなくなってフットマンによく似た身体は、ボールのようによく弾んだ。

Cơ thể không còn chút hình bóng nào của Swim mà lại rất giống Footman, nảy lên như một quả bóng.

そして、その『極大火焔球』が触れた箇所は、大地ですら崩壊して塵となり、燃え尽きていったのだ。

Và những nơi mà "Cực Đại Hỏa Viêm Cầu" đó chạm vào, ngay cả mặt đất cũng sụp đổ thành tro bụi và cháy rụi.

『ゲラゲラゲラゲラゲラ!! ワシの恐ろしさを、とくと味わうがいい!!』

"Geragerageragera!! Hãy nếm trải sự đáng sợ của ta đi!!"

ジャヒルは哄笑し、ウルティマ達を追い詰めていく。

Jahil cười lớn, dồn ép Ultima và những người khác.

途中から他人事のように観戦していたユウキも、この状況はマズイと感じていた。

Yuki, người từ giữa chừng đã quan sát như thể chuyện không liên quan đến mình, cũng cảm thấy tình hình này thật tồi tệ.

ジャヒルの攻撃が、いつ何処に向かうかわからないからだ。

Vì không biết đòn tấn công của Jahil sẽ hướng về đâu, vào lúc nào.

ユウキの背後には、〝停止世界〟から取り残されたカガリ達がいる。ここに突進されたら、防ぐのは困難なのだ。

Phía sau Yuki là Kagali và những người khác bị bỏ lại trong "Thế Giới Ngưng Đọng". Nếu bị tấn công vào đây, việc phòng thủ sẽ rất khó khăn.

(ヤバいぞ。僕だけなら余裕で逃げ切れるけどさ、皆を守るのは難しい……っていうか、無理だよね?)

(Nguy rồi. Nếu chỉ có mình tôi thì có thể dễ dàng chạy thoát, nhưng bảo vệ mọi người thì khó... hay đúng hơn là không thể nhỉ?)

ユウキは思考するが、良い案は出ない。

Yuki suy nghĩ nhưng không tìm ra được phương án nào tốt.

どう考えても、こっちに来ないでくれ、と祈るしかなかった。

Dù nghĩ thế nào đi nữa, cũng chỉ có thể cầu nguyện rằng hắn đừng đến đây.

(でもさ、こういう事を考えちゃうと──)

(Nhưng mà, nếu cứ nghĩ những chuyện như thế này thì...)

悪い想像は、得てして当たってしまうもの。

Những tưởng tượng tồi tệ thường trở thành sự thật.

そのジンクスは、今回も的中する事になる。

Điềm gở đó, lần này cũng đã ứng nghiệm.

ユウキが見守る中、カレラが闘牛を相手するように、ジャヒルをひらりと回避した。

Trong lúc Yuki đang quan sát, Carrera đã nhẹ nhàng né tránh Jahil như thể đang đối phó với một con bò tót.

『ちょっと、また避けた!』

"Này, lại né nữa rồi!"

『当たり前だろう? こんなのを受け止めるとか、余程のバカじゃない限り実行しないさ!』

"Đương nhiên rồi? Đỡ một đòn như thế này, trừ khi là một kẻ ngốc mới làm!"

ウルティマがカレラを煽るも、平然と受け流される。そんな会話が繰り広げられたが、ユウキはそれどころではなかった。

Ultima khiêu khích Carrera, nhưng cô ta vẫn bình tĩnh đáp trả. Một cuộc trò chuyện như vậy diễn ra, nhưng Yuki không còn tâm trí nào để ý đến nữa.

(やべ……)

(Chết rồi...)

どう考えても、カレラが回避したジャヒルが、ユウキに向かって直撃コースだったのだ。

Rõ ràng là, Jahil mà Carrera vừa né tránh đang lao thẳng về phía Yuki.

ユウキ自身は回避余裕だが、それをしたら仲間が死んでしまう。

Bản thân Yuki có thể dễ dàng né tránh, nhưng nếu làm vậy, đồng đội của cậu sẽ chết.

(嘘だろ? この僕が、余程のバカになっちゃうって事か……)

(Không thể nào? Chẳng lẽ tôi lại trở thành một kẻ ngốc đến thế sao...)

仕方ないなと、ユウキは覚悟を決める。

Không còn cách nào khác, Yuki quyết định.

もっと上を目指したかったが、どうやらここまでと諦めるしかなさそうだ。

Cậu muốn vươn xa hơn nữa, nhưng có vẻ như đành phải từ bỏ ở đây.

しかし、ただで死ぬ気はない。

Tuy nhiên, cậu không có ý định chết một cách vô ích.

ジャヒルの攻撃は『能力殺封(アンチスキル)』だけで打ち消せないが、上手く『奪命掌(スティールライフ)』も併用する事で、被害を最大限減らそうと考えている。

Đòn tấn công của Jahil không thể bị vô hiệu hóa chỉ bằng "Phong Sát Kĩ Năng", nhưng cậu đang nghĩ đến việc kết hợp khéo léo với "Đoạt Mệnh Chưởng" để giảm thiểu thiệt hại đến mức tối đa.

上手くいけば、生き残れる。ユウキはそう信じて、賭けに出たのだ。

Nếu thuận lợi, cậu có thể sống sót. Yuki tin vào điều đó và đã đặt cược.

『ええい、ままよ!』

"Kệ đi, tới đâu thì tới!"

運を天任せ、だ。

Phó mặc vận mệnh cho trời.

絶対に言いたくなかったセリフだな──などと思いつつ、ユウキは身構えた。

Đúng là câu nói mà mình không bao giờ muốn nói... vừa nghĩ vậy, Yuki vừa vào thế thủ.

ジャヒルとの絶対的な魔力差は、下手な技術で打ち消せるものではない。権能の優位性も消えた今、待ち受ける結末は悲惨なものになるはずだ。

Sự chênh lệch ma lực tuyệt đối với Jahil không phải là thứ có thể bị vô hiệu hóa bằng những kĩ thuật tầm thường. Giờ đây, khi ưu thế về quyền năng cũng đã biến mất, kết cục chờ đợi chắc chắn sẽ rất thảm khốc.

それでも、運が良ければ……。

Dù vậy, nếu may mắn...

(最悪だよ……この僕が、最後は運頼みか……)

(Tệ thật... tôi mà cuối cùng lại phải trông chờ vào vận may sao...)

ユウキはそう自嘲し、それでも前向きに全力を尽くそうとして──目の前に出現した壁に、目を奪われた。

Yuki tự giễu như vậy, nhưng vẫn cố gắng dốc hết sức mình một cách tích cực... và rồi cậu bị thu hút bởi bức tường xuất hiện trước mắt.

『へっ、ボスらしくなく、偉く弱気じゃねーかよ!』

"Hê, không giống sếp chút nào, yếu đuối quá đấy!"

それが背中だったのだと、その憎まれ口を聞いて理解する。

Nghe thấy lời mỉa mai đó, cậu mới nhận ra đó là một tấm lưng.

『ヴェガかい?』

"Vega à?"

『おうよ!』

"Đúng vậy!"

その直後、強烈な振動が発生したような錯覚が起きる。

Ngay sau đó, một ảo giác về một chấn động dữ dội xảy ra.

ジャヒルとヴェガが衝突した結果だが、もしも時間が流れていたら、この周辺一帯は灰(かい)燼(じん)に帰していただろう。

Đó là kết quả của cuộc va chạm giữa Jahil và Vega, nhưng nếu thời gian vẫn trôi, khu vực xung quanh này có lẽ đã biến thành tro bụi.

『ヴェガ?』

"Vega?"

ユウキが呼びかけた。

Yuki gọi.

ヴェガは当たり前のように生きていた。

Vega vẫn sống như một điều hiển nhiên.

存在値を比べても、ジャヒルより格上なのだ。そう簡単に死ぬはずがないのである。

So sánh giá trị tồn tại, hắn còn cao hơn cả Jahil. Hắn không thể nào chết một cách dễ dàng như vậy.

しかも、だ。

Hơn nữa.

無傷ではなかったものの、ヴェガのターンはまだ終わっていなかった。

Dù không hề hấn gì, nhưng lượt của Vega vẫn chưa kết thúc.

ジャヒルの『極大火焔球』に対抗して、ヴェガは〝虚喰無限獄(インフィニットイーター)〟を発動させていた。ゼラヌスの〝暗黒増殖喰(デヴァステイターウイルス)〟も取り込んだ〝虚喰無限獄(インフィニットイーター)〟は、対象を蝕み自分の肉体に変化させるという、恐るべき効果を発揮する。

Để chống lại "Cực Đại Hỏa Viêm Cầu" của Jahil, Vega đã kích hoạt "Vô Hạn Ngục Nuốt Chửng Hư Không". "Vô Hạn Ngục Nuốt Chửng Hư Không" đã hấp thụ cả "Hắc Ám Sinh Sôi Nuốt Chửng" của Zelanus, phát huy một hiệu quả đáng sợ là ăn mòn đối tượng và biến họ thành một phần cơ thể của mình.

ユウキの『奪命掌(スティールライフ)』など目じゃないほどの、凶悪極まりない技なのだ。

Đó là một kĩ năng cực kì hung ác, khiến cho "Đoạt Mệnh Chưởng" của Yuki chẳng là gì cả.

ジャヒルは超高熱、超高威力の砲弾のようなものだが、ヴェガはそれすらも取り込む化け物だった。ジャヒルの『極大火焔球』が直撃したダメージは大きいが、それは『無限再生』によって修復されて、失ったエネルギーもジャヒルを喰らう事で補填している。

Jahil giống như một quả đạn pháo siêu nóng, siêu uy lực, nhưng Vega là một con quái vật có thể hấp thụ cả thứ đó. Sát thương từ "Cực Đại Hỏa Viêm Cầu" của Jahil là rất lớn, nhưng nó đã được sửa chữa bằng "Tái Sinh Vô Hạn", và năng lượng bị mất cũng được bù đắp bằng cách ăn Jahil.

危機どころか、どう見てもヴェガの勝利だったのだ。

Không phải là khủng hoảng, mà rõ ràng là chiến thắng của Vega.

バキボキゾルルルル──と、不気味に振動しながら、ヴェガがジャヒルを呑み込んでいく。

Baki-boki-zorurururu... vừa rung lên một cách đáng sợ, Vega vừa nuốt chửng Jahil.

火球と化していたジャヒルだが、ヴェガに捕捉されてしまっては、もう逃げる手段はない様子だった。

Jahil đã biến thành một quả cầu lửa, nhưng một khi đã bị Vega bắt được, có vẻ như hắn không còn cách nào để trốn thoát.

『クソ、離せ! 離さぬか、下郎めが!!』

"Chết tiệt, buông ra! Không buông ra sao, đồ hạ đẳng!!"

ジャヒルは必死に熱量を上げて、ヴェガを焼き尽くそうと考える。

Jahil cố gắng tăng nhiệt lượng để thiêu rụi Vega.

しかし、ヴェガは火傷(やけど)を物ともせずに、どんどんジャヒルを喰らっていった。

Thế nhưng, Vega không hề nao núng trước vết bỏng, tiếp tục ăn Jahil.

とてもグロい光景だ。

Một cảnh tượng thật kinh tởm.

常人なら直視を避けるものだが、それを気にするユウキではない。

Người thường sẽ tránh nhìn thẳng, nhưng Yuki không phải là người để ý đến điều đó.

『フッ、流石だね。心配して損したじゃないか』

"Hừ, quả không hổ danh. Lo lắng cho cậu đúng là thừa".

と、ヴェガに憎まれ口を叩いている。

Yuki mỉa mai Vega.

これに応じて、ヴェガも不敵に笑った。

Đáp lại, Vega cũng cười một cách ngạo nghễ.

『まあよ。俺様じゃなければ死んでただろうぜ』

"Ừm. Nếu không phải là ta thì đã chết rồi".

こちらも、ジャヒルの怨嗟をまるっと無視して、豪快に、それでいて嬉しそうにしていた。

Hắn cũng hoàn toàn phớt lờ sự oán hận của Jahil, tỏ ra hào sảng và vui vẻ.

ヴェガは満足していた。

Vega cảm thấy thỏa mãn.

どうしてユウキを庇ったのか、ヴェガ自身にも理解出来ない行動だった。

Hành động bảo vệ Yuki là điều mà chính Vega cũng không thể hiểu được.

いつものヴェガなら見捨てていた。

Nếu là Vega của mọi khi, hắn đã bỏ mặc.

しかしながら、気の遠くなるような孤独の時間を耐え抜いた事で、少しばかりヴェガに変化が生じていたのだ。

Tuy nhiên, sau khi chịu đựng khoảng thời gian cô độc đến mức gần như mất đi ý thức, Vega đã có một chút thay đổi.

不思議と満足しつつ、ヴェガは考える。

Vừa cảm thấy thỏa mãn một cách kì lạ, Vega vừa suy nghĩ.

(へへっ、俺だってやれば出来るじゃねーか!)

(Hehe, ta cũng làm được mà!)

自分の事しか考えず、他人なんて踏み台でしかないと思っていた。

Hắn từng nghĩ rằng chỉ cần lo cho bản thân, còn người khác chỉ là bàn đạp.

仲間なんて必要ないと、自分の心まで騙して生きてきたのだ。

Hắn đã sống và tự lừa dối cả trái tim mình rằng không cần đến đồng đội.

それが今、損得勘定すら抜きにして、自然と仲間の為に動けていた。

Vậy mà bây giờ, không hề tính toán thiệt hơn, hắn đã tự nhiên hành động vì đồng đội.

いや、ユウキ達が自分の事をどう思っているのか、その瞬間には、そんな事を気にする余裕もなかったのだ。

Không, vào khoảnh khắc đó, hắn thậm chí không có thời gian để bận tâm xem Yuki và những người khác nghĩ gì về mình.

ただ、皆に死んで欲しくなかった。

Chỉ là, hắn không muốn mọi người phải chết.

それがヴェガの本心であり、勝手に身体が動いた理由である。

Đó là tấm lòng thật sự của Vega, và là lí do cơ thể hắn tự động di chuyển.

ところが、満足しているヴェガと対照的なのが、今まさに喰い尽くされそうになっているジャヒルだった。

Tuy nhiên, trái ngược với Vega đang thỏa mãn, Jahil lại đang đứng trước nguy cơ bị ăn thịt.

(ふざけるな、ふざけるなよ!!)

(Đừng có đùa, đừng có đùa với ta!!)

と、どこまでも深く怨嗟の念を強めていた。

Hắn càng ngày càng tăng cường lòng oán hận sâu thẳm.

そして、一つの結論に到達する。

Và, hắn đã đi đến một kết luận.

その結果──

Kết quả là...

笑い合うユウキとヴェガに向かって、上空から『思念』が届いた。

Hướng về phía Yuki và Vega đang cười đùa với nhau, một "Tư niệm" từ trên cao truyền đến.

『おい、油断している場合じゃないぞ!』

"Này, không phải lúc để lơ là đâu!"

カレラだ。

Là Carrera.

何を言い出すんだという目をしたウルティマを放置して、ユウキ達に向けて警告を発したのだ。

Bỏ mặc Ultima đang nhìn với ánh mắt "cậu đang nói gì vậy", cô đã phát ra cảnh báo về phía Yuki.

どう見ても、戦いの決着はついている。

Rõ ràng là, trận chiến đã ngã ngũ.

それなのに何を──と思ったウルティマだが、かすかに魔法のようなものが発動する気配を察知した。

Vậy mà còn nói gì nữa... Ultima nghĩ, nhưng cô đã cảm nhận được một dấu hiệu mơ hồ về một thứ gì đó giống như ma pháp đang được kích hoạt.

時が止まっているのに発動可能なのは、自分達でさえ扱えない原初の魔法(プリミティブマジック)のみである。ジャヒル如きに使えるはずもないのだが、無視するには明確過ぎる気配であった。

Trong lúc thời gian ngừng lại mà vẫn có thể kích hoạt được thì chỉ có Ma Pháp Nguyên Sơ mà ngay cả họ cũng không thể sử dụng. Một kẻ như Jahil không thể nào sử dụng được, nhưng dấu hiệu đó quá rõ ràng để có thể phớt lờ.

とは言っても、魔法に長けたカレラやウルティマだからこそ気付けるレベルなので、絶妙なラインを保っての発動だった。

Tuy nhiên, đó là một cấp độ mà chỉ những người giỏi ma pháp như Carrera hay Ultima mới có thể nhận ra, nên nó được kích hoạt ở một ranh giới rất tinh tế.

何故ならそれは、ジャヒルの怨念が集約した死を媒体とした邪術であり、魔法とは一線を画する魔術だったからだ。

Bởi vì đó là một tà thuật sử dụng cái chết tập trung oán niệm của Jahil làm môi giới, một loại ma thuật khác biệt hoàn toàn với ma pháp.

魔法の如き効果を発揮するが、魔法ではない。

Nó có hiệu quả như ma pháp, nhưng không phải là ma pháp.

神秘奥義:輪廻転生(リインカーネーション)や大秘術:憑依転生(ポゼッション)のように、誰にでも扱えるように体系化された技術とは異なるのである。

Nó khác với những kĩ thuật được hệ thống hóa để bất kì ai cũng có thể sử dụng, như Bí mật Thần bí: Luân Hồi Chuyển Sinh hay Đại bí thuật: Nhập Xác Chuyển Sinh.

ジャヒルにのみ扱える固有邪法──それこそが、禁忌邪術:肉体奪取(ボディスナッチ)だったのだ。

Tà pháp cố hữu chỉ Jahil mới có thể sử dụng... đó chính là cấm kị tà thuật: Đoạt xác (Body Snatch).

この場合、原初二人を褒めるべきであった。

Trong trường hợp này, nên khen ngợi hai Nguyên sơ.

魔法のような効果を発揮するから、カレラやウルティマにも気配が感じ取れたのだ。全ての波動や波長が停止している〝停止世界〟でそれに気付くなど、如何にユウキが天才であろうと不可能だった。

Vì nó phát huy hiệu quả giống như ma pháp, nên Carrera và Ultima cũng có thể cảm nhận được dấu hiệu. Việc nhận ra điều đó trong "Thế Giới Ngưng Đọng" nơi mọi sóng và bước sóng đều ngừng lại, dù Yuki có là thiên tài đến đâu cũng là điều không thể.

ましてヴェガなど、何が起きたのか察してすらいない。攻撃を受けているのにも気付かず、カレラが何を警戒しているのかすら理解していなかった。

Huống chi là Vega, hắn thậm chí còn không nhận ra chuyện gì đã xảy ra. Hắn không nhận ra mình đang bị tấn công, và cũng không hiểu Carrera đang cảnh giác điều gì.

『何だ? 何が起きてやがる……?』

"Gì vậy? Chuyện gì đang xảy ra...?"

『ジャヒルがまだ生きているんだ! ヴェガ、さっさとヤツを殺せ!!』

"Jahil vẫn còn sống! Vega, mau giết hắn đi!!"

『お、おう?』

"Ờ, ờ?"

ユウキにそう命じられて、ヴェガも慌て出す。

Được Yuki ra lệnh như vậy, Vega cũng bắt đầu hoảng hốt.

しかし、その時は既に手遅れだった。

Thế nhưng, lúc đó đã quá muộn.

元々、肉体奪取(ボディスナッチ)は自分の死が前提にある技なのだ。殺そうにも、ジャヒルの死は既に確定しているのである。

Vốn dĩ, "Đoạt xác" là một kĩ năng dựa trên tiền đề cái chết của chính mình. Dù có muốn giết, cái chết của Jahil đã được định đoạt.

分析を完了させたマリアが、慌てたように叫んだ。

Maria, sau khi hoàn thành phân tích, đã hét lên một cách hoảng hốt.

《無理よ、無理だわ。ヤツの狙いは──》

<<Không được, không được rồi. Mục tiêu của hắn là...>>

ヴェガ自身の肉体だ。

Cơ thể của chính Vega.

ジャヒルはヴェガの〝心核(ココロ)〟を破壊して、その精神ごと乗っ取ろうとしているのである。

Jahil đang cố gắng phá hủy "Tâm hạch" của Vega và chiếm lấy cả tinh thần của hắn.

これに対抗しようとするも、ヴェガにはその手段が何もなかった。

Dù cố gắng chống lại, nhưng Vega không có bất kì phương tiện nào.

究極能力(アルティメットスキル)『邪龍之王(アジ・ダハーカ)』は無敵の権能だが、実は精神系の攻撃への対抗策は少なかった。内面に至る前に全てを弾くので、そこまで警戒する必要がなかった為だ。

Kĩ năng tối thượng "Tà Long Vương (Azi Dahaka)" là một quyền năng bất khả chiến bại, nhưng thực tế lại có rất ít biện pháp đối phó với các cuộc tấn công tinh thần. Vì nó đẩy lùi mọi thứ trước khi chúng có thể xâm nhập vào bên trong, nên không cần phải cảnh giác đến mức đó.

そもそも、究極能力(アルティメットスキル)所有者には、精神攻撃など通用しない。それが普通であり、精神の内面まで影響を及ぼすなど不可能だった。

Vốn dĩ, những người sở hữu Kĩ năng tối thượng không bị ảnh hưởng bởi các cuộc tấn công tinh thần. Đó là điều bình thường, và việc ảnh hưởng đến tận sâu bên trong tinh thần là không thể.

それを可能とするには、本当に幾つもの条件を満たさねばならず、丁寧に手順を踏む必要があったのだ。

Để có thể làm được điều đó, cần phải đáp ứng rất nhiều điều kiện và thực hiện các bước một cách cẩn thận.

ジャヒルの行動は、自棄になってのダメ元だった。

Hành động của Jahil là một canh bạc liều lĩnh.

ところが、運命はジャヒルに微笑んだのだ。

Thế nhưng, số phận đã mỉm cười với Jahil.

先ず、肉体の内面に至るという条件だが、これは喰われた事で達成していた。

Đầu tiên, điều kiện để xâm nhập vào bên trong cơ thể đã được hoàn thành khi hắn bị ăn thịt.

続いて、ヴェガの精神性。肉体面は強靭なのだが、ヴェガの精神は未熟で、非常に幼いままだった。それに加えて、果ての世界で消耗しきっていたのだ。

Tiếp theo, là tinh thần của Vega. Về mặt thể chất, hắn rất mạnh mẽ, nhưng tinh thần của Vega lại chưa trưởng thành và còn rất non nớt. Thêm vào đó, hắn đã bị kiệt quệ ở thế giới tận cùng.

〝心核(ココロ)〟が消えそうになった瞬間に復活したので、内面はボロボロ。精神的防御が壊滅した状態だったのである。

Vì đã hồi sinh ngay khoảnh khắc "Tâm hạch" sắp biến mất, nên bên trong hắn đã tan nát. Hệ thống phòng thủ tinh thần đã hoàn toàn sụp đổ.

ジャヒルが狙うには、最高のタイミングだったのだ。

Đó là thời điểm tốt nhất để Jahil tấn công.

──結果、ジャヒルが賭けに勝った──

...Kết quả, Jahil đã thắng cược...

ヴェガは驚愕の表情を浮かべ、ユウキへと救いを求める視線を向ける。

Vega kinh ngạc, ánh mắt cầu cứu hướng về phía Yuki.

『ボ、ボス、助けてくれ! な、何か変なんだ……俺の、俺の中に何かオゾマシイ何かがガガガガガガ──ッ』

"Sếp, sếp, cứu tôi! Có, có gì đó lạ lắm... trong tôi, trong tôi có thứ gì đó ghê tởm đang... gaga..."

ヴェガが苦しみ出し、その身体が大きく脈動し始める。

Vega bắt đầu đau đớn, cơ thể hắn co giật mạnh.

ジャヒルを喰った時と似たような現象だが、今度はヴェガの意思ではないのが明白だった。

Một hiện tượng tương tự như khi hắn ăn Jahil, nhưng lần này rõ ràng không phải là ý muốn của Vega.

『チッ、ヤバいぞ! とんでもないエネルギーだ』

"Chậc, nguy rồi! Năng lượng khủng khiếp quá".

『だね。今の内に始末したいけど、これはちょっとボク達の手に余るかな……』

"Đúng vậy. Tôi muốn xử lí hắn ngay bây giờ, nhưng có lẽ chuyện này hơi quá sức chúng ta..."

カレラとウルティマが焦っている。

Carrera và Ultima đang lo lắng.

ルミナスでさえも、言葉もない様子。

Ngay cả Luminous cũng không nói nên lời.

それもそのはずで、新たな化け物が誕生しようとしていたのだ。

Cũng phải thôi, một con quái vật mới đang sắp ra đời.

ヴェガとジャヒル、カケアシとスイームの存在値を統合して、その全ての権能を操れる化け物が。

Một con quái vật có thể điều khiển tất cả quyền năng sau khi hợp nhất giá trị tồn tại của Vega và Jahil, Kakeashi và Swim.

『ゲラゲラゲラゲラゲラッ!! 素晴らしい、素晴らしい力だぁ──ッ!!』

"Geragerageragera!! Tuyệt vời, một sức mạnh tuyệt vời!!"

邪悪に哄笑するのは、勝者となったジャヒルだった。

Kẻ cười một cách độc ác là Jahil, người đã chiến thắng.

『助げで、ボズぅ、助ゲデェ……』

"Cứu với, sếppp, cứuu..."

ジャヒルの右手の平の上には、ヴェガの頭が生えていた。

Trên lòng bàn tay phải của Jahil, đầu của Vega đã mọc ra.

敢えて、残していたのだ。

Hắn đã cố tình để lại.

『クゥズどもがぁ! このワシを舐めた報いを与えてやるぞォ!! このクソは見せしめだァ!!』

"Lũ rác rưởi! Ta sẽ cho các ngươi nếm trải hậu quả của việc coi thường ta!! Tên khốn này là để làm gương!!"

ジャヒルがヴェガの頭を握り込む。

Jahil nắm chặt đầu của Vega.

『ぐぎゃぁ!? やべっ、やべろぉ!!』

"Gya!? Dừng, dừng lại đi!!"

ヴェガが苦悶していた。

Vega đang quằn quại trong đau đớn.

恐ろしい圧力がかかって、頭蓋が割れそうになっている。というか、本当に割れた瞬間に力を緩める事で、ヴェガの頭は割れては再生するという流れを繰り返しているようだ。

Một áp lực khủng khiếp đè lên, hộp sọ của hắn như sắp vỡ ra. Hay đúng hơn, ngay khoảnh khắc nó thực sự vỡ, hắn lại nới lỏng lực, khiến cho đầu của Vega cứ lặp đi lặp lại quá trình vỡ ra rồi lại tái tạo.

ヴェガの権能は全て奪われたのか、痛覚までも再現されている様子。凄まじい苦痛を浴びせられたヴェガが泣き叫んでいるが、それはもう仕方のない話であった。

Có lẽ tất cả quyền năng của Vega đã bị cướp đi, ngay cả cảm giác đau đớn cũng được tái hiện. Vega đang la hét trong đau đớn tột cùng, nhưng đó là chuyện không thể tránh khỏi.

そんなヴェガとは対照的に、ジャヒルの方はどんどんスマートな体形に変化している。

Trái ngược với Vega, Jahil lại đang dần biến đổi thành một hình dáng thon gọn hơn.

フットマンをベースにしたものでも、少女となったスイームがモデルになっている訳でもない。元来のジャヒル、神祖トワイライト・バレンタインの高弟第一位であった若き日の姿となって、自身の肉体としての最適解を導き出していたのだ。

Không phải dựa trên Footman, cũng không phải lấy hình mẫu từ Swim khi trở thành một cô gái. Hắn đã trở về hình dạng thời trẻ của Jahil, đại đệ tử số một của Thần tổ Twilight Valentine, và tìm ra giải pháp tối ưu cho cơ thể của chính mình.

そしてその身は、全身が黒をベースとして虹色に輝く究極の金属(ヒヒイロカネ)の外骨格に覆われていた。

Và cơ thể đó, toàn thân được bao bọc bởi một bộ xương ngoài bằng Kim loại Tối thượng (Hihiirokane) màu đen làm nền và tỏa sáng bảy sắc cầu vồng.

ヴェガがゼラヌスをも喰っていた事で、その恐るべき肉体の情報が再現されていたのである。

Vì Vega đã ăn cả Zelanus, nên thông tin về cơ thể đáng sợ đó đã được tái tạo.

『ふぅ─────ッ、素晴らしい! かつてなく、余の力が漲(みなぎ)るのを感じるぞ』

"Phù... tuyệt vời! Ta cảm thấy sức mạnh của mình đang dâng trào hơn bao giờ hết".

ジャヒルが満足そうに、そう口にした。

Jahil nói với vẻ hài lòng.

その手の中では、ヴェガが苦痛に喘いでいる。

Trong tay hắn, Vega đang rên rỉ trong đau đớn.

その対比が、勝者と敗者の現実を物語っていた。

Sự tương phản đó đã nói lên thực tế của kẻ thắng và người thua.

ユウキはそれを見て、覚悟を決める。

Yuki nhìn thấy điều đó và quyết tâm.

(やれやれ。そんなに好きって訳じゃなかったけどさ、それでも君は、僕の仲間だったよ)

(Haiz. Dù không hẳn là thích cậu, nhưng dù sao đi nữa, cậu cũng là đồng đội của tôi.)

ヴェガには色々と、思う事もあった。

Với Vega, cậu cũng có nhiều suy nghĩ.

それでも……ジャヒルに好き放題させたままでいるほど、ユウキは無情ではないのだ。

Dù vậy... Yuki không phải là kẻ vô tình đến mức để Jahil muốn làm gì thì làm.

『心からの信頼関係じゃなかったけどさ、せめて楽にしてやるよ』

"Dù không phải là một mối quan hệ tin tưởng từ tận đáy lòng, nhưng ít nhất tôi sẽ cho cậu ra đi thanh thản".

ユウキはそう声を上げ、ジャヒルに向かって突進したのである。

Yuki hét lên và lao về phía Jahil.

これに文句をつけるのが、マリアだった。

Người phàn nàn về điều này là Maria.

《貴方はバカね? バカなのだわ》

<<Cậu đúng là đồ ngốc? Đồ ngốc mà>>

勝てる訳がない相手への突撃など、策でも何でもなく、ただの自己陶酔でしかない。

Tấn công một đối thủ không thể thắng không phải là một chiến lược, mà chỉ là sự tự mãn.

戦況を読み誤ったというのならバカにも出来ようが、最初から間違っているのを理解している相手には、どんな言葉も届かないのだ。

Nếu nói là đã đọc sai tình hình chiến trường thì còn có thể gọi là ngốc, nhưng đối với một đối thủ mà ngay từ đầu đã hiểu là mình sai thì bất kì lời nói nào cũng không thể chạm tới được.

でも、仲間の為に生きるユウキが、何故か眩しく見えるマリアである。

Nhưng Maria lại thấy Yuki, người sống vì đồng đội, không hiểu sao lại thật chói lòa.

《いいわ、いいのよ。それなら私が、貴方を生かすのよ》

<<Được thôi, được rồi. Vậy thì tôi sẽ giúp cậu sống sót>>

ユウキがどんな行動を取ろうとも、それを全力でサポートするのがマリアの役目だ。

Dù Yuki có hành động thế nào, việc hỗ trợ cậu hết mình là nhiệm vụ của Maria.

そうしなければ、ユウキが死んでしまう。それでは面白くないと、マリアは思うのである。

Nếu không làm vậy, Yuki sẽ chết. Như vậy thì chẳng vui chút nào, Maria nghĩ.

(信じているさ、君のねちっこい性格をね!)

(Tôi tin vào tính cách dai dẳng của cậu đấy!)

《うるさいわ、うるさいのよ!》

<<Ồn ào quá, ồn ào quá đi!>>

こうして二人は、仲が悪いという事実が信じられないほどに、互いが互いにとっての最高の相棒になっていく。

Cứ thế, hai người họ, đến mức không thể tin được rằng mối quan hệ của họ lại xấu, đã trở thành những người bạn đồng hành tuyệt vời nhất của nhau.

これに感銘を受けたのが、シオンであった。

Người bị ấn tượng bởi điều này là Shion.

ヴェガを追ってやって来たのだが、ヴェガがユウキ達を助けた時点で様子を見守っていたのだ。

Cô đã đuổi theo Vega, nhưng khi Vega cứu Yuki và những người khác, cô đã đứng lại quan sát.

『その心意気、気に入りました! カスでクズなだけの男かと思っていましたが、少しは見所があったのですね!!』

"Tinh thần đó, tôi thích! Tôi cứ nghĩ anh chỉ là một gã đàn ông rác rưởi, nhưng cũng có chút đáng xem nhỉ!!"

などと、本音をオブラートにくるんだりせずに投げつけた。

Cô nói thẳng những lời thật lòng mà không hề che đậy.

ジャヒルに特攻していたユウキは、それを聞いて少し凹みもしたのだが、シオンのサポートは願ったりだった。

Yuki, người đang tấn công Jahil, đã hơi chán nản khi nghe điều đó, nhưng sự hỗ trợ của Shion lại là điều cậu mong muốn.

ほぼ自殺行為に等しいのに、付き合ってくれるのだから大歓迎なのだ。

Hành động gần như là tự sát, nhưng việc có người đồng hành cùng khiến cậu rất vui.

『ぬぅ、雑魚共がァ!!』

"Hừ, lũ rác rưởi!!"

ジャヒルは不快感を露わにして、触手をシオンに向けて放った。

Jahil để lộ sự khó chịu và phóng xúc tu về phía Shion.

シオンはそれを、大太刀を振り回すようにして弾いていく。大雑把に見えるが、とんでもない技法だった。

Shion đã dùng đại thái đao của mình để đánh bật nó. Trông có vẻ thô kệch, nhưng đó là một kĩ thuật phi thường.

『大したもんだよ、ホントにさ』

"Giỏi thật đấy".

と、ユウキは苦笑する。そして、シオンが命懸けで作ってくれたチャンスを逃さぬように、ジャヒルの懐目掛けて『瞬間移動』を発動させた。

Yuki cười khổ. Và để không bỏ lỡ cơ hội mà Shion đã liều mạng tạo ra, cậu đã kích hoạt "Dịch Chuyển Tức Thời" nhắm vào ngực của Jahil.

この〝停止世界〟の中でも、目に見える範囲であれば『瞬間移動』を使いこなせるのだ。ユウキは出現するなり、最大出力で奥義を発動させた。

Ngay cả trong "Thế Giới Ngưng Đọng" này, cậu vẫn có thể sử dụng thành thạo "Dịch Chuyển Tức Thời" trong phạm vi có thể nhìn thấy. Ngay khi xuất hiện, Yuki đã kích hoạt bí kĩ với công suất tối đa.

『──死を渇望せよ(ロストエントロピー)!!──』

"...Khát Vọng Chết Chóc!!..."

『小賢しい! そのような児戯、もうワシには──むっ!?』

"Ranh ma! Trò trẻ con đó, đối với ta bây giờ... hử!?"

ユウキが突き出した掌底が、ジャヒルが差し出した右手、そこに生えていたヴェガの頭部に当たる。

Lòng bàn tay mà Yuki đẩy ra đã trúng vào đầu của Vega, thứ đang mọc ra từ bàn tay phải mà Jahil đưa ra.

その技で死を迎えた事があるだけに、ジャヒルは一瞬とはいえ怯んだ。しかし、身を苛むような苦痛も消失感さえも訪れず、何かの効果を打ち消したような感覚すら生じなかった。

Chính vì đã từng chết bởi kĩ năng đó, Jahil đã chùn bước dù chỉ trong một khoảnh khắc. Tuy nhiên, không hề có cảm giác đau đớn hay tan biến nào ập đến, thậm chí cũng không có cảm giác như một hiệu ứng nào đó đã bị vô hiệu hóa.

自分が強くなったお陰だなと、自画自賛するジャヒルだったが……実はその攻撃、ジャヒルに向けられた訳ではなかったのだ。

Jahil tự khen mình rằng đó là nhờ hắn đã trở nên mạnh mẽ hơn, nhưng thực ra, đòn tấn công đó không phải nhắm vào hắn.

ジャヒルがそう感じたのは正解で、対象はジャヒルではなかった。ヴェガだったのだ。

Cảm giác của Jahil là đúng, mục tiêu không phải là Jahil. Mà là Vega.

ヴェガの〝生きたい〟という渇望を反転させるのと同時に、恐怖と苦痛までも打ち消していた。

Đồng thời với việc đảo ngược khát khao "muốn sống" của Vega, nó cũng đã xóa bỏ cả nỗi sợ hãi và đau đớn.

それは、有情の技だった。

Đó là một kĩ năng hữu tình.

『へへっ、ありがとうな。もう痛くも怖くもねーぜ……』

"Hehe, cảm ơn nhé. Giờ thì không còn đau hay sợ nữa rồi..."

ヴェガの表情が安らいだ。

Vẻ mặt của Vega trở nên thanh thản.

しかも、それで終わりではなかったのだ。

Hơn nữa, mọi chuyện không kết thúc ở đó.

『──断(だん)頭(とう)鬼(き)刃(じん)!!』

"...Đoạn Đầu Quỷ Đao!!"

ジャヒルが怯んだ隙を狙い、接近したシオンが大太刀を一閃させた。

Nhân lúc Jahil chùn bước, Shion đã tiếp cận và vung một nhát đại thái đao.

不可能すら可能にするシオンならば、ジャヒルの手首を斬り飛ばせても不思議ではない。まして今は、ジャヒルがトラウマのある攻撃に怯んでいる状態だったから、究極能力(アルティメットスキル)『暴虐之王(スサノオ)』が十分に通用する。

Nếu là Shion, người có thể biến điều không thể thành có thể, thì việc chém đứt cổ tay của Jahil cũng không có gì lạ. Hơn nữa, bây giờ Jahil đang trong tình trạng hoảng sợ trước đòn tấn công gây ám ảnh, nên Kĩ năng tối thượng "Bạo Ngược Vương (Susano'o)" hoàn toàn có thể phát huy tác dụng.

結果としては、ヴェガの頭が生えた手首は見事に宙を舞う事となったのだ。

Kết quả là, cổ tay có mọc đầu của Vega đã bay lên không trung một cách ngoạn mục.

そして更に、ここで動いた者がいた。

Và rồi, có một người đã hành động.

『しょうがないヤツめ、妾(わらわ)も少しだけ手伝ってやろうぞ』

"Đúng là một kẻ phiền phức, thiếp cũng sẽ giúp một tay vậy".

シオンの心が動いたのと同様、ルミナスもユウキに感心していた。その想いに応えようと、ここぞというタイミングで参戦したのである。

Giống như trái tim Shion đã rung động, Luminous cũng rất ấn tượng với Yuki. Để đáp lại tình cảm đó, cô đã tham chiến vào đúng thời điểm thích hợp.

もっとも、ルミナスの狙いはジャヒルではなく、ヴェガだった。

Tuy nhiên, mục tiêu của Luminous không phải là Jahil, mà là Vega.

ユウキの攻撃だけでは、ヴェガはまだ生きていた。

Chỉ với đòn tấn công của Yuki, Vega vẫn còn sống.

しかしながら、その頭部はジャヒルの影響下にあり、ヴェガが宿していた〝暗黒増殖喰(デヴァステイターウイルス)〟までも支配権を奪われていた。

Tuy nhiên, đầu của hắn đang chịu ảnh hưởng của Jahil, và ngay cả "Hắc Ám Sinh Sôi Nuốt Chửng" mà Vega sở hữu cũng đã bị cướp mất quyền kiểm soát.

このままでは死ねないどころか、ヴェガの〝魂〟が解放される事もない。ユウキの権能の影響が薄れた途端、より大きな恐怖と苦痛に苛まれる事になるだろう。

Cứ thế này, không những không thể chết, mà "linh hồn" của Vega cũng sẽ không được giải thoát. Ngay khi ảnh hưởng từ quyền năng của Yuki yếu đi, hắn sẽ phải chịu đựng nỗi sợ hãi và đau đớn còn lớn hơn.

ルミナスは、それを見抜いたのだ。

Luminous đã nhìn thấu điều đó.

ジャヒルとヴェガの融合は、ウルティマやカレラでさえも分離不可能なレベルだった。故に、救済措置は一つしかない。

Sự hợp nhất của Jahil và Vega đã đạt đến mức mà ngay cả Ultima hay Carrera cũng không thể tách rời. Do đó, chỉ có một biện pháp cứu vãn duy nhất.

ヴェガの頭をキャッチしたルミナスが、慈愛に満ちた表情を浮かべてヴェガと視線を合わせた。

Luminous bắt lấy đầu của Vega, nở một nụ cười đầy nhân ái và nhìn thẳng vào mắt hắn.

『せめてもの、慈悲じゃ。貴様にも、苦痛なき滅びをくれてやろうぞ! 〝死せる者への祝福(デスブレッシング)〟──』

"Ít nhất thì, đây là lòng từ bi. Ta sẽ ban cho ngươi một cái chết không đau đớn! "Tử Giả Chúc Phúc"..."

それは、対象の〝魂〟にまで直接影響を与える〝停止世界〟でも発動する奇跡だ。法則が異なるので体外にまで影響を及ぼせないが、接触すれば関係なかった。

Đó là một phép màu có thể kích hoạt ngay cả trong "Thế Giới Ngưng Đọng", tác động trực tiếp đến cả "linh hồn" của đối tượng. Vì định luật khác biệt nên không thể tác động ra ngoài cơ thể, nhưng nếu tiếp xúc thì không thành vấn đề.

分離不可能な邪悪な力が邪魔したが、ルミナスはそれらも纏めて葬っていく。

Một thế lực tà ác không thể tách rời đã cản trở, nhưng Luminous đã chôn vùi tất cả chúng.

ヴェガは、生まれて初めて感謝した。

Vega, lần đầu tiên trong đời, đã cảm thấy biết ơn.

今まで焦がれるように望んでも、決して得られなかった安らぎを得た気分だ。

Hắn cảm thấy như đã có được sự bình yên mà trước đây dù có khao khát đến đâu cũng không thể có được.

それ以上に──

Hơn thế nữa...

自分は孤独ではないのだと、心の底から信じられた。

Hắn đã có thể tin từ tận đáy lòng rằng mình không hề cô đơn.

『……へへっ、嬉しいぜ……こんな俺なんかの為に、誰かが動いてくれるなんてよ……俺はぁ、満足だ──────』

"...Hehe, vui quá... vì một kẻ như ta mà lại có người ra tay giúp đỡ... ta, thỏa mãn rồi..."

ヴェガはそう言い残し、死んだ。

Vega nói xong rồi chết.

ヴェガの〝魂〟は、救われたのだ。

"Linh hồn" của Vega đã được cứu rỗi.

永劫の孤独の中で死ねない苦行よりも、安らかな死を望んでいた。そんなヴェガの願いは、その瞬間、見事に成就したのである。

Thay vì phải chịu đựng cực hình không thể chết trong sự cô độc vĩnh cửu, hắn mong muốn một cái chết thanh thản. Nguyện vọng đó của Vega, ngay khoảnh khắc ấy, đã được thực hiện một cách trọn vẹn.

ジャヒルが怯んだ隙にヴェガを楽にさせ、ユウキは『瞬間移動』で逃げていた。

Nhân lúc Jahil chùn bước, Yuki đã giúp Vega ra đi thanh thản, rồi dùng "Dịch Chuyển Tức Thời" để trốn thoát.

見事な連携の為せる業である。

Đó là thành quả của một sự phối hợp tuyệt vời.

(流石だね、マリア!)

(Quả không hổ là Maria!)

《黙るのよ! 貴方の考えなんてお見通しよ、お見通しなの》

<<Im đi! Suy nghĩ của cậu tôi đã nhìn thấu hết rồi, nhìn thấu hết rồi>>

そんなふうに憎まれ口を叩き合いながら、ユウキはジャヒルから距離を置いた。

Vừa mỉa mai nhau như vậy, Yuki vừa giữ khoảng cách với Jahil.

ユウキは、逃げ足だけならジャヒルを上回るのだ。

Yuki, nếu chỉ tính tốc độ chạy trốn, thì còn nhanh hơn cả Jahil.

これも全て、マリアの協力があってこそ、だった。

Tất cả những điều này đều là nhờ có sự giúp đỡ của Maria.

しかし、逃げただけでは終わらない。

Nhưng, chỉ chạy trốn thôi thì không kết thúc được.

その場に残された者達からすれば、ユウキの行動は無責任極まるものだった。迷惑行為も極まれりといった感じで、怒れるジャヒルの標的にされる事になる。

Đối với những người bị bỏ lại, hành động của Yuki là vô cùng vô trách nhiệm. Cảm giác như một hành vi gây phiền toái tột độ, họ sẽ trở thành mục tiêu của Jahil đang giận dữ.

残されたシオンやルミナスなど、その最たるものだ。

Shion và Luminous bị bỏ lại là những ví dụ điển hình nhất.

『クソがァ──ッ!! ワシを愚弄するなど、絶対に許さんぞ!!』

"Chết tiệt!! Sỉ nhục ta, ta tuyệt đối không tha thứ!!"

怒り心頭と言った様子のジャヒルから総攻撃を受けて、シオンの身体中にどんどん怪我が増えていく。シオンの『無限再生』でさえ、回復が追い付かないような激しい攻撃だ。それでも、近接したルミナスが接触して、瞬時に再生させるので流血はないのだが、エネルギーが削られているのは間違いなかった。

Bị tấn công tổng lực từ Jahil đang vô cùng tức giận, các vết thương trên cơ thể Shion ngày càng nhiều. Đó là một đòn tấn công dữ dội đến mức ngay cả "Tái Sinh Vô Hạn" của Shion cũng không kịp hồi phục. Dù vậy, Luminous ở gần đã tiếp xúc và tái tạo ngay lập tức nên không có máu chảy, nhưng chắc chắn năng lượng đang bị bào mòn.

『クッ、やはりクズはクズ、仏心を出したのが失敗でした』

"Chết tiệt, rác rưởi vẫn là rác rưởi, thể hiện lòng từ bi đúng là một sai lầm".

『うむ、そうじゃな。あのようなヤツを信用する方が愚かであったわ……』

"Ừm, đúng vậy. Tin tưởng một kẻ như thế đúng là ngu ngốc..."

ユウキへの恨みが増す二人である。

Mối hận của hai người đối với Yuki càng thêm sâu sắc.

ユウキからすれば、何を甘えた事を言っているのさ、という心境なのだが、それを口にするほど愚かではないので、黙って非難を受け入れる所存であった。

Đối với Yuki, cậu cảm thấy họ đang nói những lời thật ngây thơ, nhưng cậu không ngu ngốc đến mức nói ra điều đó, nên đành im lặng chấp nhận sự chỉ trích.

それに、ユウキにも余裕がある訳ではない。

Hơn nữa, Yuki cũng không hề thảnh thơi.

カガリやラプラス、ティアそれにマイ。そこにはまだ、四名の仲間を置き去りにしたままだからだ。

Kagali, Laplace, Tear và Mai. Ở đó vẫn còn bốn người đồng đội bị bỏ lại.

時間が止まった世界では、下手に触れると肉体を壊してしまいかねない。それが理由で、ユウキは仲間達を連れ出せないでいた。ジャヒルの目を欺くように土(つち)塊(くれ)を変形させた人形を置いているが、それだけで騙しきれるものではない。早くこの場から戦場を移して、仲間達に被害が出ないようにしたいと考えていたのである。

Trong thế giới thời gian ngừng lại, nếu chạm vào một cách bất cẩn có thể sẽ phá hủy cơ thể. Đó là lí do Yuki không thể đưa đồng đội của mình đi cùng. Cậu đã đặt một con búp bê biến dạng từ đất để đánh lừa Jahil, nhưng chỉ vậy thôi thì không thể lừa được hắn. Cậu muốn nhanh chóng di chuyển chiến trường khỏi nơi này để đảm bảo đồng đội không bị tổn hại.

もっとも、それはジャヒル次第だ。

Tuy nhiên, điều đó phụ thuộc vào Jahil.

焦ったらユウキの目論見がバレるので、程よくジャヒルが追い付ける距離に『瞬間移動』していた。

Nếu lo lắng, ý đồ của Yuki sẽ bị lộ, nên cậu đã "Dịch Chuyển Tức Thời" đến một khoảng cách vừa phải để Jahil có thể đuổi kịp.

『大した胆力じゃな』

"Can đảm thật đấy".

と、ユウキの考えを見抜いたルミナスが呟いた。

Luminous, người đã nhìn thấu suy nghĩ của Yuki, lẩm bẩm.

『ふむ。自分だけ逃げるなんてと思っていましたが、ヤツはヤツなりに、事情があったという訳ですね』

"Hừm. Tôi cứ nghĩ hắn chỉ biết chạy trốn một mình, nhưng xem ra hắn cũng có lí do của mình nhỉ".

シオンも納得している。

Shion cũng đã hiểu.

ただの卑怯者というレッテルは、どうにか貼られずに済みそうだった。

Cái mác kẻ hèn nhát có vẻ như đã được gỡ bỏ.

ユウキとしては、仲間達からジャヒルを遠ざけたいのだ。

Đối với Yuki, cậu muốn đưa Jahil ra xa khỏi đồng đội của mình.

攻撃された場合、時が動き出してから蘇生が可能かどうか、それはやってみなければわからない。

Nếu bị tấn công, sau khi thời gian bắt đầu trôi trở lại, việc hồi sinh có khả thi hay không, phải thử mới biết được.

〝魂〟さえ無事なら可能だと思ってはいたが、楽天的になるのは早計であろう。

Dù nghĩ rằng chỉ cần "linh hồn" còn nguyên vẹn là có thể, nhưng lạc quan lúc này có lẽ là quá sớm.

ルミナスは一つ頷き、ユウキにもう一度協力する事にしたのである。

Luminous gật đầu một cái và quyết định hợp tác với Yuki một lần nữa.

シオンとしても、異論はない。

Đối với Shion, cũng không có gì phản đối.

このまま猛攻に晒されるよりも、攻撃を分散してもらった方が助かるという算段だ。

So với việc tiếp tục hứng chịu các đòn tấn công dữ dội, việc phân tán các đòn tấn công sẽ giúp ích hơn.

『ふむ、本気を出してやる故、ついて来るがよかろう』

"Hừm, ta sẽ nghiêm túc đây, cứ theo ta là được".

『怖いのなら、逃げてもいいのですよ?』

"Nếu sợ thì có thể chạy đi cũng được?"

そんなふうに挑発しつつ、ルミナスとシオンもユウキを追って跳躍した。

Vừa khiêu khích như vậy, Luminous và Shion cũng nhảy theo sau Yuki.

ジャヒルはしばし熟考し、ニヤリと嗤(わら)う。

Jahil suy nghĩ một lúc rồi cười nhếch mép.

『よかろう。ワシの力を、存分に味わわせてやるとしよう!』

"Được thôi. Ta sẽ cho các ngươi nếm trải sức mạnh của ta một cách trọn vẹn!"

ジャヒルも、ユウキを追う事にした様子。

Jahil cũng đã quyết định đuổi theo Yuki.

これを上空で見ていたウルティマとカレラも、顔を見合わせて頷きあった。

Ultima và Carrera, những người đang quan sát từ trên cao, cũng nhìn nhau và gật đầu.

『犠牲者が出るのは、リムル様も悲しまれるだろうね』

"Nếu có người hi sinh, ngài Rimuru chắc cũng sẽ rất buồn".

『そうだとも。ここは私達も協力して、被害を出さないようにアイツを倒そうじゃないか!』

"Đúng vậy. Ở đây chúng ta cũng hãy hợp tác để đánh bại hắn mà không gây ra thiệt hại gì!"

ウルティマとカレラも、この作戦に乗っかった。

Ultima và Carrera cũng đã tham gia vào chiến dịch này.

どちらにしても、今のジャヒルは完全なる化け物だ。自分達だけで倒せると豪語するほど、ウルティマやカレラも力量差がわからない訳ではない。

Dù thế nào đi nữa, Jahil hiện tại là một con quái vật hoàn chỉnh. Dù có tự tin rằng có thể một mình đánh bại hắn, Ultima và Carrera cũng không phải là không nhận ra sự chênh lệch về sức mạnh.

正しく戦略を立て、それに従うのをヨシとした。

Họ đã quyết định lập một chiến lược đúng đắn và tuân theo nó.

こうして、ユウキに加えてルミナス、シオン、それにウルティマとカレラが手伝う形で、対ジャヒル戦が再開する事になったのである。

Cứ thế, cùng với Yuki, Luminous, Shion, và cả Ultima và Carrera cũng tham gia, trận chiến chống lại Jahil đã được tái khởi động.

こうして、ユウキの『瞬間移動』につられるように、皆が荒地まで誘導されるのだった。

Cứ thế, như bị cuốn theo "Dịch Chuyển Tức Thời" của Yuki, tất cả mọi người đã bị dẫn dụ đến một vùng đất hoang.

ジャヒルとしても、ユウキの狙いに気付いている。

Jahil cũng đã nhận ra ý đồ của Yuki.

そのままシオンとルミナスを倒してから、ゆっくりとユウキを追いかけてもよかった。

Hắn có thể đánh bại Shion và Luminous trước, rồi từ từ đuổi theo Yuki.

だがそうしなかったのは、愚かな作戦に付き合うのも悪くないと考えたからだ。

Nhưng hắn không làm vậy là vì hắn nghĩ rằng tham gia vào một kế hoạch ngu ngốc cũng không tệ.

理由は、単純。

Lí do, rất đơn giản.

獲得した力が余りにも素晴らしくて、それを心置きなく試してみたくなったからだ。

Vì sức mạnh mà hắn có được quá tuyệt vời, nên hắn muốn thử nó một cách thoải mái.

各個撃破するより、絶対的な力の誇示となる。

So với việc tiêu diệt từng người một, đây là một sự phô trương sức mạnh tuyệt đối.

何かを庇って全力を出せない者共を相手にするよりも、死力を尽くして歯向かってくる強者達を踏み潰す方が、より大きな快感を得られるだろう。ジャヒルは邪悪にも、そう愉悦していた。

So với việc đối phó với những kẻ không thể dốc toàn lực vì phải bảo vệ thứ gì đó, việc nghiền nát những kẻ mạnh đang liều mạng chống cự sẽ mang lại cảm giác khoái lạc lớn hơn. Jahil độc ác, đã vui sướng như vậy.

自分に手傷を負わせたシオンや、生意気なルミナス、それに、自分を馬鹿にするウルティマやカレラ。そして、一番憎むべき相手である、ユウキ。全員纏めて叩き潰し、力の差を理解(わか)らせてやるつもりであった。

Shion, kẻ đã làm hắn bị thương, Luminous xấc xược, và Ultima và Carrera, những kẻ coi thường hắn. Và cuối cùng, kẻ đáng ghét nhất, Yuki. Hắn định nghiền nát tất cả bọn họ, và cho họ hiểu rõ sự chênh lệch về sức mạnh.

そして、その場所に辿り着く。

Và rồi, hắn đã đến nơi đó.

『そこが貴様達の死に場所でいいのか?』

"Đó là nơi các ngươi chọn để chết à?"

『……やれやれ、僕は死ぬ気なんてないぜ?』

"...Haiz, tôi không có ý định chết đâu?"

『死ぬのは貴様じゃ!』

"Kẻ phải chết là ngươi!"

『その通りです!』

"Đúng vậy!"

消極的なのはユウキだけで、ルミナスとシオンはやる気満々だった。

Chỉ có Yuki là tiêu cực, còn Luminous và Shion thì đầy quyết tâm.

『ゲラゲラゲラゲラ!! 弱者とは、悲しいほどに愚かだな』

"Gerageragera!! Kẻ yếu thật đáng thương và ngu ngốc".

ジャヒルはそう嗤い、ユウキを見下した。

Jahil cười nhạo và coi thường Yuki.

ユウキには一度殺されているので、絶対に逃がさないと決意していた。

Vì đã từng bị Yuki giết một lần, nên hắn quyết tâm sẽ không để cậu chạy thoát.

ルミナスやシオンについても同様だ。

Đối với Luminous và Shion cũng vậy.

ジャヒルは、自分を傷つけた者を絶対に忘れない。実に執念深く、狭量な性格をしていた。

Jahil không bao giờ quên những kẻ đã làm tổn thương mình. Hắn có một tính cách vô cùng thù dai và hẹp hòi.

そんなジャヒルだったが、周囲への警戒も怠っていなかった。ちゃんとウルティマ達が付いて来ているのを確認し、邪悪に嗤う。

Jahil như vậy, nhưng hắn cũng không hề lơ là cảnh giác với xung quanh. Sau khi xác nhận Ultima và những người khác đang theo sau, hắn cười một cách độc ác.

『貴様らも逃がさんぞ。ワシを散々虚仮(こけ)にしたのだ、楽には死ねぬと覚悟するがいい』

"Các ngươi cũng không thoát được đâu. Đã sỉ nhục ta như vậy, hãy chuẩn bị tinh thần để không được chết một cách dễ dàng".

カガリやヴェガへの仕打ちを見てもわかる通り、ジャヒルは陰湿だ。敗北してしまったら、悲惨な目に遭わされるのは間違いなかった。

Như đã thấy qua cách đối xử với Kagali và Vega, Jahil là một kẻ thâm độc. Nếu bị đánh bại, chắc chắn sẽ phải chịu một kết cục thảm khốc.

だが、それに怯える者などいない。

Nhưng, không có ai sợ hãi điều đó.

『笑わせるでないわ! たとえ死すとも、貴様の思い通りにはならぬ!!』

"Đừng có làm ta buồn cười! Dù có chết, cũng sẽ không để ngươi được như ý!!"

『身のほどを知らぬ者ほど、大口を叩くものですね』

"Những kẻ không biết mình biết ta thường hay nói những lời to tát".

『まあさ、どうせ最後は君が死ぬよ? その時になって慈悲を乞うたって、絶対に許してあげないからね♪』

"Mà thôi, đằng nào cuối cùng cậu cũng sẽ chết thôi? Đến lúc đó dù có cầu xin lòng thương xót thì tôi cũng tuyệt đối không tha thứ đâu♪"

『私としては豪快に始末してやりたいが、それだと勿体ないかもね。まあ、難しい事は後で考えるとして、ほどほどに痛めつけてやるとしよう!』

"Tôi thì muốn xử lí hắn một cách hào phóng, nhưng như vậy có lẽ hơi lãng phí. Thôi thì, chuyện khó cứ để sau, trước mắt cứ hành hạ hắn một chút đi!"

という感じに、ルミナス、シオン、ウルティマ、カレラの四名が意気込む。

Cứ thế, Luminous, Shion, Ultima và Carrera, bốn người đều hăng hái.

負ける可能性を否定している訳ではなく、それも織り込んだ上で、勝利を狙うつもりであった。

Không phải là họ phủ nhận khả năng thua cuộc, mà là họ đã tính đến cả điều đó và nhắm đến chiến thắng.

ユウキとしては、サポートに徹する構えだ。

Đối với Yuki, cậu định sẽ tập trung vào việc hỗ trợ.

(僕の攻撃は通用しそうもないし、せめて『瞬間移動』を活用するとしますか!)

(Đòn tấn công của mình có lẽ không có tác dụng, nên ít nhất hãy tận dụng "Dịch Chuyển Tức Thời" vậy!)

どこまでも前向きに、対ジャヒル戦に臨むのであった。

Cậu đối mặt với trận chiến chống lại Jahil một cách vô cùng tích cực.

そうして始まった戦いだが、早々に優劣がハッキリした。

Và thế là trận chiến bắt đầu, nhưng ưu thế đã sớm được phân định rõ ràng.

ジャヒルが強過ぎたのだ。

Jahil quá mạnh.

それもそのはずで、ジャヒルの存在値は数億に達する。単なる数値だけで勝敗が決まる訳ではないが、その差を覆すのは至難であった。

Cũng phải thôi, giá trị tồn tại của Jahil đã đạt đến hàng trăm triệu. Dù thắng bại không chỉ được quyết định bởi những con số đơn thuần, nhưng việc lật ngược sự chênh lệch đó là vô cùng khó khăn.

ウルティマとカレラは、新たに得た『虚無』を駆使して勝負を仕掛けた。

Ultima và Carrera đã sử dụng "Hư Vô" mới có được để thách đấu.

ジャヒルに貫(ぬき)手(て)を放つウルティマ。

Ultima tung ra một đòn xuyên thủng về phía Jahil.

その毒爪は凶悪だが、悲しくも外骨格に弾かれてしまう。

Móng vuốt độc của cô rất hung ác, nhưng đáng buồn là đã bị bộ xương ngoài chặn lại.

黄金銃を撃ち放ち、剣で斬りつけるカレラ。

Carrera bắn súng vàng, và chém bằng kiếm.

類まれなる戦闘センスも、絶対的な防御力の前では虚しかった。

Cảm giác chiến đấu hiếm có cũng trở nên vô ích trước sức phòng thủ tuyệt đối.

ルミナスが所有する〝法則(ダルマ)〟は、ジャヒルにとっても脅威だ。

"Pháp tắc (Dharma)" mà Luminous sở hữu cũng là một mối đe dọa đối với Jahil.

しかしながら、ジャヒルは自らの腕を触手と変えて、滑らかに剣撃を受け流して見せた。

Tuy nhiên, Jahil đã biến cánh tay của mình thành xúc tu và nhẹ nhàng đỡ lấy đòn kiếm.

ルミナスの〝法則(ダルマ)〟でさえ通用しないのだから、シオンの剣(けん)戟(げき)だって似たようなものだ。

Ngay cả "Pháp tắc (Dharma)" của Luminous cũng không có tác dụng, nên nhát kiếm của Shion cũng tương tự.

何一つ、まともに攻撃が通用していなかった。

Không có một đòn tấn công nào thực sự có hiệu quả.

それもそのはずで、ジャヒルも新たに得た権能を利用して、対抗手段を繰り出していたのだ。

Cũng phải thôi, Jahil cũng đã sử dụng quyền năng mới có được để đưa ra các biện pháp đối phó.

『ふむふむ、究極能力(アルティメットスキル)『邪龍之王(アジ・ダハーカ)』か。使えるではないか!』

"Hừm hừm, Kĩ năng tối thượng 'Tà Long Vương (Azi Dahaka)' à. Cũng hữu dụng đấy chứ!"

ヴェガのように本能頼りではなく、ジャヒルは理性的に権能を把握した。しかも、ゼラヌスの〝暗黒増殖喰(デヴァステイターウイルス)〟まで取り込まれた現在の〝虚喰無限獄(インフィニットイーター)〟ならば、真っ向から『虚無』と喰らい合い、渡り合えるようになっていたのだ。

Không dựa vào bản năng như Vega, Jahil đã nắm bắt quyền năng một cách lí trí. Hơn nữa, với "Vô Hạn Ngục Nuốt Chửng Hư Không" hiện tại đã hấp thụ cả "Hắc Ám Sinh Sôi Nuốt Chửng" của Zelanus, hắn đã có thể đối đầu trực diện và chiến đấu ngang ngửa với "Hư Vô".

絶対的なエネルギー量は、ジャヒルの方が上である。

Lượng năng lượng tuyệt đối, Jahil vượt trội hơn.

ここまでくると、後は算数の問題だ。

Đến đây thì chỉ còn là vấn đề toán học.

多少は効率で負けていたとしても、最後に勝つのはジャヒルだった。

Dù có thua kém một chút về hiệu quả, nhưng người chiến thắng cuối cùng vẫn là Jahil.

もしもウルティマやカレラがリムルのスライム細胞を得ていなければ、今の攻防だけで命運が尽きていたはずだ。まだ勝負が成立しているだけでも、幸運だと言えるのである。

Nếu Ultima và Carrera không có được tế bào slime của Rimuru, có lẽ số phận của họ đã kết thúc chỉ với cuộc công phòng vừa rồi. Việc trận chiến vẫn còn tiếp diễn cũng có thể nói là một điều may mắn.

そんな状況なのだ。

Tình hình là như vậy.

長期戦では分が悪いと、歴戦の強者であるルミナス達が気付かぬはずがなかった。

Trong một trận chiến kéo dài, họ sẽ ở thế bất lợi, những kẻ mạnh dày dạn kinh nghiệm như Luminous không thể không nhận ra điều đó.

『お主ら、どうじゃ? 何か手立てはあるか?』

"Các ngươi, thế nào rồi? Có kế sách gì không?"

『気合で倒します!』

"Tôi sẽ đánh bại hắn bằng tinh thần!"

『シオン殿の意見は、現実的じゃないかな』

"Ý kiến của Shion-dono không thực tế lắm".

『ぶっちゃけ、ボクの最強奥義を叩き込んでも倒せる気がしないね……』

"Nói thật thì, dù có tung ra bí kĩ mạnh nhất của tôi, tôi cũng không nghĩ là có thể đánh bại được hắn..."

〝神滅弾(ジャッジメント)〟ならあるいは──とカレラは思ったが、いつになったら再使用可能となるのか不明だ。

Có lẽ "Thần Diệt Đạn (Judgement)" thì được... Carrera nghĩ, nhưng không biết khi nào mới có thể sử dụng lại được.

使えるなら直感的にわかるのだが、今は時間が止まっているので、再使用に必要な業(カルマ)が貯まっているのかどうかも把握出来ない。一日一発という制限への対策として〝停止世界〟が最適解となるなど、扱える者にしかわからない弱点であった。

Nếu có thể sử dụng, cô sẽ biết ngay bằng trực giác, nhưng vì thời gian đang ngừng lại, nên cô cũng không thể biết được nghiệp (karma) cần thiết để sử dụng lại đã tích đủ hay chưa. Việc "Thế Giới Ngưng Đọng" trở thành giải pháp tối ưu cho giới hạn một lần một ngày là một điểm yếu mà chỉ những người có thể sử dụng mới hiểu được.

また、極技──〝一閃(にのまえ)〟だが、これを放つには時期尚早だ。

Hơn nữa, kĩ năng tối thượng... "Nhất Thiểm", nhưng để tung ra nó thì còn quá sớm.

敵の特性を見抜き、確実に倒しきれるという確信を得る必要がある。

Cần phải nhìn thấu đặc tính của kẻ thù và có được sự tự tin rằng có thể đánh bại hoàn toàn hắn.

カレラは向こう見ずなバカなのではなく、天性の感覚で成否を判定出来た。それ故に、豪放磊(らい)落(らく)に戦いを楽しんでいるように見えるだけなのだ。

Carrera không phải là một kẻ ngốc liều lĩnh, mà cô có thể phán đoán thành bại bằng cảm giác bẩm sinh. Chính vì vậy, cô chỉ trông như đang tận hưởng trận chiến một cách hào sảng.

勝利を確信出来る何かが必要だった。

Cần một thứ gì đó có thể mang lại niềm tin chiến thắng.

もしここで〝一閃(にのまえ)〟を放てば、確かに大ダメージを与えられるだろう。

Nếu tung ra "Nhất Thiểm" ở đây, chắc chắn có thể gây ra sát thương lớn.

しかしその結果、カレラは行動不能になってしまう。その上で、手柄は他人の手に渡ってしまうのだ。

Nhưng kết quả là, Carrera sẽ không thể hành động được nữa. Hơn nữa, công lao lại rơi vào tay người khác.

(それはちょっと面白くないかな)

(Như vậy thì không vui lắm nhỉ.)

というのが、カレラの本音であった。

Đó là suy nghĩ thật lòng của Carrera.

如何にカレラが無謀でも、今のジャヒルに対して賭けに出る気はなかった。

Dù Carrera có liều lĩnh đến đâu, cô cũng không có ý định đặt cược với Jahil hiện tại.

連携可能な仲間がいるのなら、まだ奥の手を使うべきではない──というのがカレラの判断だった。

Nếu có đồng đội có thể phối hợp, thì chưa nên sử dụng át chủ bài... đó là phán đoán của Carrera.

逆に、仲間がいなければ──もう後がなければ、カレラは迷わず〝一閃(にのまえ)〟を放っていただろう。そういう二面性があるのも、カレラの本性であった。

Ngược lại, nếu không có đồng đội... nếu không còn đường lui, Carrera có lẽ đã không ngần ngại tung ra "Nhất Thiểm". Sự hai mặt đó cũng là bản chất của Carrera.

故に、本当の意味で脳筋(むぼう)なのはシオンなのだ。

Vì vậy, người thực sự là "não cơ" (liều lĩnh) chính là Shion.

後の事などまるで考えず、シオンがジャヒルに挑みかかる。

Không hề nghĩ đến hậu quả, Shion đã lao vào thách đấu với Jahil.

我武者羅に、無我夢中に、常に全力投球で。

Một cách liều lĩnh, say sưa, và luôn dốc hết sức mình.

そんなシオンを横目に、カレラとウルティマとルミナスは作戦会議だ。

Trong khi Shion đang như vậy, Carrera, Ultima và Luminous lại đang bàn bạc chiến thuật.

『ヤツの体力を大幅に削ったら、後の事を君達に託してもいいかな?』

"Nếu tôi làm giảm đáng kể thể lực của hắn, tôi có thể giao phần còn lại cho các cậu không?"

『ダメに決まってんじゃん。死んだらリムル様から怒られるからね』

"Đương nhiên là không được rồi. Nếu chết thì sẽ bị ngài Rimuru mắng đấy".

『──だな。ならばまだ、勝負に出るのは気が早いというものだ』

"...Đúng vậy. Vậy thì vẫn còn quá sớm để phân thắng bại".

『そうよな……少なくとも、この〝停止世界〟が解除されぬ限り、取り得る手段も限られるというものじゃ……』

"Đúng vậy nhỉ... Ít nhất thì, chừng nào "Thế Giới Ngưng Đọng" này chưa được giải trừ, các biện pháp có thể thực hiện cũng sẽ bị hạn chế..."

結局、妙案は出ず。

Cuối cùng, không có kế sách nào hay được đưa ra.

その様子を見て、ジャヒルが高らかに哄笑した。

Nhìn thấy cảnh đó, Jahil đã cười lớn.

『ゲラゲラゲラゲラッ!! 貧弱だな、雑魚共がぁ!!』

"Gerageragera!! Yếu ớt quá, lũ rác rưởi!!"

ジャヒルが洩らした素直な感想は、ウルティマ達の誇りを踏みにじるものだった。

Lời nhận xét thẳng thắn của Jahil đã chà đạp lên lòng tự trọng của Ultima và những người khác.

『殺す。苦しめて殺す。いたぶって殺す。死を懇願するようになるまで幾万年以上費やしてから、殺す』

"Giết. Hành hạ đến chết. Tra tấn đến chết. Sẽ mất hàng vạn năm cho đến khi ngươi cầu xin cái chết, rồi mới giết".

『気が合うじゃないか、ウルティマ。その際は協力するよ』

"Chúng ta hợp nhau đấy, Ultima. Khi đó tôi sẽ hợp tác".

熱しやすい悪魔娘達は、怒りを我慢するだけでも大変だ。

Những cô nàng ác ma dễ nổi nóng, chỉ việc kìm nén cơn giận thôi cũng đã rất vất vả.

『落ち着くのじゃ!』

"Bình tĩnh lại!"

というルミナスの制止を聞いても、苛立ちを隠せないでいた。

Dù nghe lời ngăn cản của Luminous, họ vẫn không thể che giấu sự bực bội.

もっとも、特攻しなかっただけ成長している。

Tuy nhiên, việc không tấn công liều lĩnh cũng là một sự trưởng thành.

ジャヒルに通用する算段もないまま勝負に出たら、よりエネルギーの消耗を早めて勝負がついていただろう。

Nếu ra tay mà không có kế hoạch nào có thể đối phó được với Jahil, có lẽ họ đã sớm cạn kiệt năng lượng và phân định thắng bại.

その証拠に、シオンが疲(ひ)労(ろう)困(こん)憊(ぱい)となっている。

Bằng chứng là, Shion đã kiệt sức.

ジャヒルは究極能力(アルティメットスキル)『邪龍之王(アジ・ダハーカ)』を我が物として、自身の鎧と化した究極の金属(ヒヒイロカネ)に纏わせている。全方面からの攻撃エネルギーをも喰らうように、死角なく万遍に、だ。

Jahil đã làm chủ Kĩ năng tối thượng "Tà Long Vương (Azi Dahaka)" và bao bọc nó quanh bộ giáp bằng Kim loại Tối thượng (Hihiirokane) của mình. Hắn đã bao phủ một cách toàn diện, không có điểm mù, để có thể nuốt chửng cả năng lượng tấn công từ mọi phía.

シオンの攻撃を軽く受け流しつつ、シオンのエネルギーを吸収していたのだ。

Vừa nhẹ nhàng đỡ lấy các đòn tấn công của Shion, hắn vừa hấp thụ năng lượng của cô.

倒れ込み、大きく息をするシオン。

Shion ngã xuống, thở hổn hển.

そんなシオンを、ルミナスが退避させている。

Luminous đang đưa Shion rút lui.

こうなると、残る者達は簡単に動く事さえ出来なくなっていた。

Đến nước này, những người còn lại thậm chí không thể dễ dàng di chuyển được nữa.

タフなシオンでさえあの様では、ウルティマやカレラでは一瞬にしてエネルギーを喰らい尽くされてしまうからだ。

Ngay cả Shion lì lợm cũng đã như vậy, thì Ultima hay Carrera sẽ bị nuốt chửng năng lượng trong nháy mắt.

接触可能なのは、ルミナスの〝法則(ダルマ)〟のみだろう。

Người duy nhất có thể tiếp xúc có lẽ là "Pháp tắc (Dharma)" của Luminous.

ただしそれは、攻撃が通用するという意味ではない。

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là đòn tấn công có hiệu quả.

ほとんど詰み状態であり、打つ手はなかった。

Gần như là một tình thế bế tắc, không còn cách nào khác.

『どうれ、生意気な小娘共には、お仕置きが必要であろうな』

"Thôi nào, với những cô nhóc xấc xược như các ngươi, cần phải có một hình phạt".

『ふざけるな。お前の方がガキなんだよ!』

"Đừng có đùa. Ngươi mới là đứa trẻ con!"

『だよね。ボク達の一パーセントも生きてない分際で、生意気!』

"Đúng vậy. Sống chưa được một phần trăm của chúng tôi mà đã xấc xược!"

激怒する、カレラとウルティマ。

Carrera và Ultima nổi giận.

『……』

"..."

『……』

"..."

ルミナスと、被害が出ないように存在感を消していたユウキは、二人の言葉に何も言えない。

Luminous và Yuki, người đã xóa bỏ sự tồn tại của mình để không gây ra thiệt hại, không thể nói gì trước lời nói của hai người.

見た目は少女でも、原初の寿命は基軸世界に準じるほどなのだ。それを思い出して、または思い知って、発言を控えたのだった。

Dù ngoại hình là một cô gái, nhưng tuổi thọ của Nguyên sơ gần như tương đương với thế giới cốt lõi. Nhớ lại, hoặc nhận ra điều đó, họ đã kiềm chế không nói gì.

そしてジャヒルは、馬鹿にするように呵呵大笑した。

Và Jahil, đã cười lớn một cách chế nhạo.

『ならば、かかって来い! 来ぬなら、ワシから行くぞ!!』

"Vậy thì, tấn công đi! Nếu không, ta sẽ đi trước!!"

太っていた頃の面影もなく、ジャヒルは機敏に動く。

Không còn chút dấu vết nào của thời còn béo, Jahil di chuyển một cách nhanh nhẹn.

ほぼ瞬間移動かと見紛うほどに、トップスピードまで一瞬で到達していた。

Trong nháy mắt, hắn đã đạt đến tốc độ tối đa, nhanh đến mức gần như có thể nhầm với dịch chuyển tức thời.

それは、スイーム以上の速度だ。

Đó là tốc độ vượt qua cả Swim.

ここが〝停止世界〟でなければ、亜光速に達した衝撃波だけでも被害が甚大だったはずである。

Nếu đây không phải là "Thế Giới Ngưng Đọng", chỉ riêng sóng xung kích đạt đến tốc độ cận ánh sáng cũng đã gây ra thiệt hại khổng lồ.

先ずジャヒルは、ウルティマを狙った。

Đầu tiên, Jahil nhắm vào Ultima.

瞬時に反応して回避行動に出たウルティマだが、僅かに体勢を崩している。そこを狙って、〝虚喰無限獄(インフィニットイーター)〟を纏わせた拳で殴りつけたのだ。

Ultima đã phản ứng ngay lập tức và thực hiện hành động né tránh, nhưng tư thế của cô hơi mất thăng bằng. Nhắm vào đó, hắn đã dùng nắm đấm bao bọc bởi "Vô Hạn Ngục Nuốt Chửng Hư Không" để tấn công.

拳は、ガードしたウルティマの両腕を穿った。

Nắm đấm đã xuyên qua hai cánh tay của Ultima đang trong tư thế phòng thủ.

その瞬間、その両腕が炎に包まれる。

Ngay khoảnh khắc đó, hai cánh tay của cô bị bao bọc bởi lửa.

ジャヒルは『火焔之王(アグニ)』の業火すらも意のままに操り、『火焔虚喰拳(ブラストブロウ)』に熱量を集中させていたのだ。

Jahil đã điều khiển cả nghiệp hỏa của "Hỏa Diễm Vương (Agni)" theo ý muốn, và tập trung nhiệt lượng vào "Hỏa Diễm Hư Thực Quyền (Blast Blow)".

『チッ!?』

"Chậc!?"

練り上げられた膨大なエネルギーがウルティマの両腕を弾けさせ、胸部で炸裂した。解き放たれた爆発的な破壊力が、ウルティマの小柄な身体を宙に舞わせて地面に叩きつける。

Năng lượng khổng lồ được tích tụ đã làm nổ tung hai cánh tay của Ultima và phát nổ ở ngực. Sức công phá khủng khiếp được giải phóng đã hất văng cơ thể nhỏ bé của Ultima lên không trung rồi đập xuống đất.

ウルティマのカバーに入ったカレラも、瞬時に叩きのめされる。

Carrera, người đã vào hỗ trợ Ultima, cũng bị đánh gục ngay lập tức.

『なっ!?』

"Cái gì!?"

驚愕した時は既に、カレラの身体から大量のエネルギーが奪われた後であった。

Khi cô kinh ngạc, đã là sau khi một lượng lớn năng lượng bị hút khỏi cơ thể cô.

〝暗黒増殖喰(デヴァステイターウイルス)〟の効果である。

Đó là hiệu quả của "Hắc Ám Sinh Sôi Nuốt Chửng".

ジャヒルの左腕が触手に変形し、地を這うようにしてカレラを襲ったのだ。

Cánh tay trái của Jahil biến thành xúc tu, bò trườn trên mặt đất và tấn công Carrera.

蛇のように絡みつきながら、カレラを食い荒らそうと暴れ狂う触手の群れ。その矛先は、もう一人の獲物であるウルティマにも向けられた。

Đám xúc tu cuồng loạn quấn lấy Carrera như những con rắn, cố gắng ăn thịt cô. Mũi nhọn của chúng cũng hướng về một con mồi khác, Ultima.

触手が絡みつき、ウルティマの動きを封じる。

Xúc tu quấn lấy, phong tỏa chuyển động của Ultima.

カレラも同様に、拘束された状態になっていた。

Carrera cũng bị trói buộc trong tình trạng tương tự.

意識はあるが身体を動かせないというのは、二人にとって屈辱的だ。しかしながら無理に身体を動かそうとしても、より激しくエネルギーを喰い荒らされるだけである。

Có ý thức nhưng không thể cử động cơ thể là một sự sỉ nhục đối với cả hai. Tuy nhiên, dù có cố gắng cử động cơ thể, họ cũng chỉ bị ăn mòn năng lượng một cách dữ dội hơn mà thôi.

ここは大人しく、助けを待つのが賢明なのだ。

Lúc này, ngoan ngoãn chờ đợi sự giúp đỡ là khôn ngoan nhất.

それを察して、ルミナスが〝法則(ダルマ)〟で触手を斬り裂いていくのだが……。

Nhận ra điều đó, Luminous đã dùng "Pháp tắc (Dharma)" để chém đứt các xúc tu, nhưng...

邪魔だ──とばかりに、ジャヒルの剛腕がルミナスを殴り飛ばしたのである。

Như thể nói "phiền phức", cánh tay rắn chắc của Jahil đã đánh bay Luminous.

『ゲラゲラゲラゲラゲラッ──ッ!! 弱い弱い弱い、弱いなぁ──っ!! 無敵だ。これほどまでの〝力〟が手に入るとは思わなんだが、今の余ならば、何(なん)人(ぴと)にも負けるハズがないッ!!』

"Geragerageragera!! Yếu, yếu, yếu, yếu quá!! Bất khả chiến bại. Ta không ngờ lại có được "sức mạnh" đến mức này, nhưng với ta hiện tại, không thể nào thua bất kì ai!!"

ジャヒルの哄笑が戦場に響いた。

Tiếng cười lớn của Jahil vang vọng khắp chiến trường.

神すらも屠れるという自信が、ジャヒルの中に渦巻いている。

Sự tự tin rằng có thể tiêu diệt cả thần linh đang cuộn trào bên trong Jahil.

〝神殺し〟を達成するのも夢ではないと、ジャヒルは獲得した力に酔っていた。

Việc đạt được "Sát thần" không còn là giấc mơ, Jahil đã say sưa với sức mạnh mình có được.

勝敗は決したように思われたが──

Tưởng chừng như thắng bại đã được quyết định, nhưng...

『うるさいですね』

"Ồn ào quá đấy".

『ホント、不快だわ』

"Thật khó chịu".

黒と白が到来した。

Đen và Trắng đã đến.

戦いはまだ、始まったばかりなのだった。

Trận chiến chỉ mới bắt đầu.

前に出たのは、ディアブロだ。

Người bước lên phía trước là Diablo.

『もしかして、一人で戦う気なのかしら?』

"Không lẽ, cô định chiến đấu một mình sao?"

『当然でしょう。貴女の実力は認めますが、正直に言って、邪魔です』

"Đương nhiên rồi. Tôi thừa nhận thực lực của cô, nhưng thành thật mà nói, cô là một trở ngại".

なので、あの二人を任せますよ──と言い残し、ディアブロがジャヒルに歩み寄る。

Vì vậy, tôi giao hai người đó cho cô... nói xong, Diablo tiến lại gần Jahil.

それは自然体で、まるで散歩しているかのように気負いがない。

Đó là một dáng vẻ tự nhiên, không hề gượng ép, như thể đang đi dạo.

ディアブロは悠然と、ジャヒルを見定める。

Diablo ung dung đánh giá Jahil.

そのエネルギーは凄まじく、少なく見積もってもディアブロの数倍に達していた。

Năng lượng của hắn vô cùng khủng khiếp, ước tính thấp nhất cũng gấp vài lần Diablo.

『クフフフフ、素晴らしい。リムル様からこちらを任されましたが、この状況を見通しておられたのでしょうね。敵としては申し分のない相手だと、この私が認めて差し上げますよ』

"Kufufufu, tuyệt vời. Tôi đã được ngài Rimuru giao cho việc này, nhưng có lẽ ngài đã lường trước được tình hình này rồi. Với tư cách là một kẻ thù, tôi thừa nhận rằng ngươi là một đối thủ hoàn hảo".

本音で言えば、ジャヒルは強敵だ。

Thành thật mà nói, Jahil là một đối thủ mạnh.

シオンでさえ倒しきれなかった時点で、それは証明されている。

Điều đó đã được chứng minh ngay từ thời điểm ngay cả Shion cũng không thể đánh bại hoàn toàn hắn.

もっともディアブロには、シオンについては別の感想もあった。

Tuy nhiên, Diablo lại có một suy nghĩ khác về Shion.

リムルのスライム細胞もなく、『虚無』の力も扱えないままで、よくぞあそこまで戦えたものだ──と、密かに感心していたのだ。

Không có tế bào slime của Rimuru, cũng không thể sử dụng sức mạnh của "Hư Vô", mà lại có thể chiến đấu đến mức đó... hắn đã thầm thán phục.

だからこそディアブロは、自身の幸運に感謝していた。

Chính vì vậy, Diablo đã cảm ơn sự may mắn của chính mình.

第一秘書でも倒せなかったジャヒルを、自らの手で葬れる機会を得て。これによってディアブロこそが、より重要だと知らしめられるだろう。

Có được cơ hội tự tay chôn vùi Jahil, kẻ mà ngay cả Đệ nhất Thư kí cũng không thể đánh bại. Nhờ đó, Diablo sẽ cho mọi người thấy mình quan trọng hơn.

主であるリムルの役に立てるのならば、それだけで本望なのだ。こうして活躍の場を与えられるのは、ディアブロにとっては望外の喜びなのである。

Nếu có thể giúp ích cho chủ nhân Rimuru, thì đó đã là nguyện vọng lớn nhất của hắn. Được trao cơ hội thể hiện như thế này là một niềm vui ngoài mong đợi đối với Diablo.

それでこそ、日々の研(けん)鑽(さん)が生きてくるというもの。

Chính vì vậy, sự rèn luyện hàng ngày mới có ý nghĩa.

ディアブロはこの機会を活かそうと、嬉々として張り切っていた。

Diablo, để tận dụng cơ hội này, đã hăng hái một cách vui vẻ.

それに、不安もあった。

Hơn nữa, cũng có một chút lo lắng.

ジャヒルに勝てるかどうかとか、そんなどうでもいい話ではない。

Không phải là chuyện có thể thắng được Jahil hay không, đó là một chuyện không đáng bận tâm.

実はディアブロ、ゼギオンまでやって来た気配を感じ取っていたのだ。早くしなければ、獲物を奪われかねないと心配していたのである。

Thực ra, Diablo đã cảm nhận được dấu hiệu của cả Zegion đang đến. Hắn lo lắng rằng nếu không nhanh tay, con mồi có thể sẽ bị cướp mất.

つまり、勝利するのは大前提。

Nói cách khác, chiến thắng là điều kiện tiên quyết.

(クフフフフ。前回はゼギオンに獲物を譲りましたからね、今回は私の手で、キッチリと始末して差し上げますよ)

(Kufufufu. Lần trước tôi đã nhường con mồi cho Zegion, nên lần này, tôi sẽ tự tay xử lí hắn một cách gọn gàng.)

と、ディアブロはジャヒルを値踏みする。

Diablo đánh giá Jahil.

これを受けて、ジャヒルが激昂した。

Đáp lại, Jahil nổi giận.

『なんだ、その目は? 余を、魔導大帝ジャヒルを、そのように驕(おご)った目で見るでないわ!!』

"Cái gì, ánh mắt đó là sao? Đừng có nhìn ta, Ma Đạo Đại Đế Jahil, bằng ánh mắt kiêu ngạo như vậy!!"

身のほどを知らぬ愚か者めと、ジャヒルはいきり立つ。

Đồ ngu ngốc không biết mình biết ta, Jahil tức giận.

絶対的な力──暴力の前には、小細工など無意味。下手な技量(レベル)など、理不尽なまでの力の本流に抗えるはずもないのだ。

Sức mạnh tuyệt đối... trước bạo lực, những tiểu xảo đều vô nghĩa. Những kĩ năng (level) tầm thường không thể nào chống lại được dòng chảy sức mạnh phi lí đó.

具体的に言えば、人の身では巨大隕石を押し返せないのが道理。

Cụ thể hơn, thân xác con người không thể đẩy lùi một thiên thạch khổng lồ là điều hiển nhiên.

ジャヒルの力は、小手先の技では受け流せないのだ。

Sức mạnh của Jahil không thể bị đỡ lại bằng những kĩ năng nhỏ nhặt.

『死ねィ──ッ!!』

"Chết đi!!"

剛腕に業火を纏わせて、ジャヒルはディアブロに殴り掛かった。

Bao bọc cánh tay rắn chắc bằng nghiệp hỏa, Jahil lao vào tấn công Diablo.

単純ながらも絶対的な技──『火焔虚喰拳(ブラストブロウ)』を炸裂させる。

Một kĩ năng đơn giản nhưng tuyệt đối... "Hỏa Diễm Hư Thực Quyền (Blast Blow)" được tung ra.

触れる者を破壊し、焼却し、喰い尽くす。攻防一体となった、無敵の技だ。

Phá hủy, thiêu rụi và ăn thịt những kẻ chạm vào. Một kĩ năng bất khả chiến bại, công thủ toàn diện.

体術や格闘技術などとは無縁なジャヒルだが、触手が分裂して勝手に敵に群がるだけなので、本人が何かをする必要はない。

Dù Jahil không rành về thể thuật hay kĩ thuật chiến đấu, nhưng vì xúc tu tự phân chia và tấn công kẻ thù, nên bản thân hắn không cần phải làm gì cả.

これも〝停止世界〟ならではの話で、物理法則に従えば、もっと凶悪な技となる。熱波は敵を焼き、爆発は衝撃波となって、弱者を蹂(じゅう)躙(りん)するのである。そしてそのまま、散っていくエネルギーを吸収すれば、ジャヒルは消耗せずに勝利出来るのだ。

Đây cũng là một câu chuyện chỉ có trong "Thế Giới Ngưng Đọng", nếu tuân theo định luật vật lí, nó sẽ trở thành một kĩ năng còn hung ác hơn. Sóng nhiệt sẽ thiêu đốt kẻ thù, vụ nổ sẽ biến thành sóng xung kích và chà đạp những kẻ yếu. Và cứ thế, nếu hấp thụ năng lượng đang tiêu tan, Jahil có thể chiến thắng mà không bị tiêu hao.

待っているだけで勝利が確定するという、ジャヒルに相応(ふさわ)しい帝王の技であった。

Chỉ cần chờ đợi là chiến thắng đã được xác định, đó là một kĩ năng của đế vương xứng đáng với Jahil.

『ゲラゲラゲラゲラ!! 死ね、雑魚が。ワシを舐めた事を後悔し、あの世で悔い改めるがイイッ!!』

"Gerageragera!! Chết đi, đồ rác rưởi. Hãy hối hận vì đã coi thường ta, và sám hối ở thế giới bên kia đi!!"

ジャヒルの自信に満ちた攻撃が、ディアブロに迫る。

Đòn tấn công đầy tự tin của Jahil đang tiến đến gần Diablo.

しかし、ディアブロは慌てず。

Thế nhưng, Diablo không hề hoảng hốt.

その口元が弧を描き、邪悪な笑みとなった。

Khóe miệng hắn cong lên, tạo thành một nụ cười độc ác.

『お前達にも教授してやろう。私の戦いぶりを、よく見ておくように』

"Ta cũng sẽ dạy cho các ngươi. Hãy quan sát kĩ trận chiến của ta".

と、ディアブロはテスタロッサ達に告げる。

Diablo nói với Testarossa và những người khác.

身体の自由を取り戻したウルティマとカレラは、忌々しそうだ。しかし文句を言うでもなく、大人しく従っている。

Ultima và Carrera, sau khi lấy lại được tự do cho cơ thể, tỏ ra rất bực bội. Nhưng họ không phàn nàn gì cả, mà ngoan ngoãn tuân theo.

ユウキも傍観中。

Yuki cũng đang quan sát.

ルミナスもこの機会を逃す事なく、テスタロッサの隣という特等席から、遠慮なく観戦するつもりでいる。

Luminous cũng không bỏ lỡ cơ hội này, định sẽ thoải mái quan sát từ vị trí đặc biệt bên cạnh Testarossa.

ディアブロが勝てばよし。負けたとしても、その間は休めるという算段なのだ。

Nếu Diablo thắng thì tốt. Dù có thua, trong thời gian đó cũng có thể nghỉ ngơi.

色々な思惑がある観覧者達など気にもせず、ディアブロはジャヒルに集中する。

Không hề bận tâm đến những khán giả với nhiều ý đồ khác nhau, Diablo tập trung vào Jahil.

迫り来る触手は、幾重にも分裂してディアブロに襲い掛かっていた。

Những xúc tu đang đến gần đã phân chia thành nhiều nhánh và tấn công Diablo.

だがしかし、それらはディアブロにかすりもしない。

Thế nhưng, chúng không hề chạm được vào Diablo.

完璧に見切り、最小の動きで回避している。しかも、その先の動きまで見通して、一切の乱れなく対処していた。

Hắn đã nhìn thấu hoàn toàn, né tránh bằng những chuyển động tối thiểu. Hơn nữa, hắn còn nhìn thấu cả những chuyển động tiếp theo và đối phó một cách hoàn hảo.

『チッ、やっぱさあ、認めるしかないよね……』

"Chậc, đúng là, phải thừa nhận thôi..."

『少なくとも今の時点では、な』

"Ít nhất là ở thời điểm hiện tại".

『不満なのはわかるけど、これは貴重な機会よ。あのディアブロが手の内を見せてくれるのだから、しっかりと勉強しなさいな』

"Tôi hiểu là cô không hài lòng, nhưng đây là một cơ hội quý giá. Diablo đó đang cho chúng ta thấy thực lực của hắn, nên hãy học hỏi cho kĩ vào".

面白くなさそうなウルティマとカレラを、テスタロッサが窘(たしな)めた。

Testarossa đã khiển trách Ultima và Carrera đang có vẻ không vui.

この先が重要なのだと、それとなく教えている。

Cô đang ngầm chỉ ra rằng phần sau mới là quan trọng.

ルミナスが言う。

Luminous nói.

『それにしても、凄まじい技量よな。あれだけの力が込められていては、技だけで凌ぐのは至難なのじゃ』

"Dù sao đi nữa, kĩ năng thật đáng sợ. Với sức mạnh như vậy, việc chỉ dùng kĩ năng để chống đỡ là vô cùng khó khăn".

その言葉の通り、ディアブロは変態的な技量を見せつけていた。

Đúng như lời nói, Diablo đã thể hiện một kĩ năng phi thường.

自身の肉体を『虚無崩壊』で最大限に高めつつも、肉体の崩壊速度と『無限再生』が釣り合うように、完璧に調整している。

Vừa tăng cường cơ thể của mình lên mức tối đa bằng "Hư Vô Băng Hoại", hắn vừa điều chỉnh một cách hoàn hảo để tốc độ phân hủy cơ thể và "Tái Sinh Vô Hạn" cân bằng với nhau.

暴力を真正面から受けたりせず、角度をつけて最大効率で対処する事で、見事に渡り合っていた。

Không trực diện đón nhận bạo lực, mà hắn đã đối phó một cách hiệu quả nhất bằng cách tạo góc, qua đó chiến đấu một cách xuất sắc.

それは、技の極致だ。

Đó là đỉnh cao của kĩ năng.

『っていうかさ、アレって魔法、だよね? どう見ても、使ってるよね?』

"Mà này, cái đó là ma pháp, phải không? Rõ ràng là đang dùng mà?"

『そうだな。時間が止まっている最中は魔法使用不可能だと思っていたが、なるほど、自己の体内ならば外の法則と分離しているから、魔法の行使が可能なんだね』

"Đúng vậy. Tôi cứ nghĩ rằng trong lúc thời gian ngừng lại thì không thể sử dụng ma pháp, nhưng ra là, nếu là bên trong cơ thể của chính mình thì sẽ tách biệt với các định luật bên ngoài, nên có thể sử dụng ma pháp".

理解は出来る──が、実行するとなると話は別だった。

Có thể hiểu được, nhưng để thực hiện lại là một chuyện khác.

『やっぱアイツ、認めたくないけど凄いよね』

"Tên đó, dù không muốn thừa nhận nhưng quả thực rất giỏi".

『……フンッ! いつか追い抜いてやるさ!!』

"...Hừ! Một ngày nào đó tôi sẽ vượt qua hắn!!"

ウルティマは憎まれ口を叩きつつもディアブロを認めているし、カレラはカレラで、ディアブロを目標に定めている。

Ultima vừa mỉa mai nhưng vẫn thừa nhận Diablo, còn Carrera thì đã đặt Diablo làm mục tiêu của mình.

テスタロッサもまた、ディアブロに驚きを隠せない。

Testarossa cũng không thể che giấu sự ngạc nhiên của mình trước Diablo.

ジャヒルとの差は絶望的なのに、魔法まで駆使して補っているのだから驚きだ。

Sự chênh lệch với Jahil là tuyệt vọng, nhưng hắn lại có thể bù đắp bằng cả ma pháp, thật đáng kinh ngạc.

全身を『虚無崩壊』で満たして身体能力を最大限まで高めて、それを更に魔法で強化する。その状態に鍛え抜いた技量(レベル)が合算されて初めて、ディアブロはジャヒルを上回っているのだった。

Lấp đầy toàn thân bằng "Hư Vô Băng Hoại" để tăng cường thể chất lên mức tối đa, rồi lại dùng ma pháp để cường hóa thêm. Chỉ khi kĩ năng (level) được rèn luyện đến mức đó được cộng vào, Diablo mới có thể vượt qua Jahil.

『素晴らしいわね。魔法と技能が融合した、新たな格闘技術。既存の魔闘士とは、根本から理論が異なっているようだわ』

"Tuyệt vời. Một kĩ thuật chiến đấu mới kết hợp giữa ma pháp và kĩ năng. Có vẻ như lí thuyết của nó khác biệt hoàn toàn so với các ma đấu sĩ hiện có".

悪魔三人娘は思い思いに、新しい理論に基づくディアブロの戦い方に魅入っていた。

Ba cô nàng ác ma, mỗi người một suy nghĩ, đều bị cuốn hút bởi lối đánh của Diablo dựa trên lí thuyết mới.

似ていて、非なる原理だ。

Một nguyên lí tương tự nhưng lại khác biệt.

大事なのは力の運用法なのは、強者ならば誰もが理解する理屈である。

Việc quan trọng là cách sử dụng sức mạnh là một lí lẽ mà bất kì kẻ mạnh nào cũng hiểu.

ミリムや〝竜種〟勢のように、無尽蔵に魔素を生み出せるのならば話は別だ。そういう非常識な存在をベースに考えるのは間違っているので、ここでは一般的な強者の話に限定する。

Nếu có thể tạo ra ma tố vô tận như Millim hay các "Long chủng" thì lại là chuyện khác. Việc suy nghĩ dựa trên những tồn tại phi thường như vậy là sai lầm, nên ở đây chúng ta chỉ giới hạn trong phạm vi những kẻ mạnh thông thường.

圧倒的なエネルギーを有する相手に、少ない魔力でどこまで通用するのか?

Đối mặt với một đối thủ sở hữu năng lượng áp đảo, với một lượng ma lực ít ỏi, có thể chống đỡ được đến đâu?

無駄をなくし、小さなエネルギーでも最大の効果を発揮させる事、それが一番大事なのである。

Loại bỏ sự lãng phí, và phát huy hiệu quả tối đa ngay cả với một năng lượng nhỏ, đó là điều quan trọng nhất.

ディアブロはそれを、常人では真似出来ない領域(レベル)で完成させていた。

Diablo đã hoàn thiện điều đó ở một đẳng cấp (level) mà người thường không thể bắt chước được.

テスタロッサ達がそれを再現しようとしても、数年は必要とするだろう。

Dù Testarossa và những người khác có cố gắng tái hiện điều đó, có lẽ cũng sẽ mất vài năm.

ただし、前提条件はクリアしているので、無限の時間を生きる彼女達ならば、いずれは可能とする技術であった。

Tuy nhiên, vì đã đáp ứng được các điều kiện tiên quyết, nên với những người sống vĩnh cửu như họ, đó là một kĩ thuật mà một ngày nào đó họ cũng có thể đạt được.

(だからこそ、それをわたくし達に見せたのでしょうけど……)

(Chính vì vậy, có lẽ anh ta đã cho chúng ta thấy điều đó...)

ディアブロの余裕を見せつけられたようで、少しイラッとなるテスタロossaだった。

Cảm giác như bị phô trương sự ung dung của Diablo, Testarossa hơi bực mình.

そんな悪魔三人娘達を教え導くように、ディアブロが告げた。

Như thể đang dạy dỗ ba cô nàng ác ma đó, Diablo nói.

『クフフフフフ、よく見るのです。これこそが、リムル様の叡智を観察し、加えてリムル様より授かった力を解析して得た真理──〝星天円環(セレスティアル)〟なのですよ!!』

"Kufufufufu, hãy nhìn cho kĩ đây. Đây chính là chân lí mà ta đã có được sau khi quan sát trí tuệ của ngài Rimuru, và phân tích sức mạnh được ngài ban cho... chính là "Tinh Thiên Viên Hoàn"!!"

星天円環(セレスティアル)の真理──それはディアブロが編み出した、リムルのスライム細胞に『虚無崩壊』を宿せて初めて可能となる戦闘奥義である。

Chân lí của Tinh Thiên Viên Hoàn -- đó là bí kĩ chiến đấu do Diablo sáng tạo ra, chỉ có thể thực hiện được sau khi chứa đựng "Hư Vô Băng Hoại" trong tế bào slime của Rimuru.

エネルギーの大小すらも問題にせず、最高の効率で再循環させる事で消耗をコントロールして──完全に調和された効果を生み出す。これによって継続戦闘が永遠に可能となり、どんな敵であろうが相手出来るようになるという優れた技法であった。

Không màng đến sự lớn nhỏ của năng lượng, bằng cách tái tuần hoàn với hiệu suất cao nhất để kiểm soát sự tiêu hao... tạo ra một hiệu quả hoàn toàn hài hòa. Nhờ đó, việc chiến đấu liên tục trở nên khả thi vĩnh viễn, và có thể đối phó với bất kì kẻ thù nào, đó là một kĩ thuật ưu việt.

後の世でも〝最強無敗の戦闘奥義〟と称えられる事になるのだが──前提条件が厳し過ぎて、扱える者は限定されている。リムル配下の幹部の内、幾人かのみに伝承される事となるのだった。

Sau này, nó được ca tụng là "bí kĩ chiến đấu mạnh nhất bất bại", nhưng... điều kiện tiên quyết quá khắt khe, nên số người có thể sử dụng rất hạn chế. Trong số các cán bộ dưới trướng của Rimuru, nó chỉ được truyền lại cho một vài người mà thôi.

余談だが──

Nói ngoài lề một chút...

前提条件とは言うまでもなく、リムルの〝スライム細胞〟の有無であった。

điều kiện tiên quyết ở đây, không cần phải nói, chính là việc có hay không “Tế bào Slime” của Rimuru.

『やっぱさあ、リムル様にオネダリして正解だったかな♪』

“Quả nhiên nài nỉ ngài Rimuru là quyết định đúng đắn nhỉ♪”

『なくても身体の調子は最高だったが、手に入れた今となっては、昔に戻りたくないかな』

“Dù không có nó thì cơ thể vẫn ở trạng thái tốt nhất, nhưng giờ đã có được rồi thì mình không muốn quay lại như xưa nữa”

ウルティマとカレラが、ヒソヒソと頷き合う。

Ultima và Carrera thì thầm gật đầu với nhau.

傍観中のユウキはともかく、ルミナスだけが仲間外れだ。

Bỏ qua Yuki đang đứng xem, chỉ có Luminous là bị cho ra rìa.

『リムルから何をもらったのか知らぬが、自慢か? 妾(わらわ)はもらっておらぬが?』

“Thiếp không biết các ngươi đã nhận được gì từ Rimuru, nhưng đang khoe khoang đấy à? Thiếp đây thì không nhận được gì đâu nhé?”

『当たり前じゃん。アンタは関係ないし』

“Đương nhiên rồi. Ngươi có liên quan gì đâu”

『図々しいぞ。我が君は、我らだけの財産だ!』

“Thật trơ trẽn. Chúa tể của chúng ta là tài sản của riêng chúng ta!”

『本当にそう。リムル様が門外不出となるように、法整備も進めなきゃならないわね』

“Đúng vậy. Chúng ta phải xúc tiến việc xây dựng luật pháp để ngài Rimuru không bị tuồn ra ngoài”

この際の発言は冗談でも何でもなく、今後は徹底して、スライム細胞の流出が防がれる事になる。これにはリムル(シエル)が完全同意した為に、ルミナスでさえ入手不可能となる未来が待ち受けているのだった。

Phát ngôn lần này hoàn toàn không phải là nói đùa, và từ nay về sau, việc rò rỉ tế bào Slime sẽ được ngăn chặn một cách triệt để. Vì Rimuru (Ciel) hoàn toàn đồng ý với điều này, nên một tương lai mà ngay cả Luminous cũng không thể có được đang chờ đợi.

そして、ディアブロだが──

Và rồi, Diablo...

悪魔三人娘への教示を終えて、遂に本気を出そうとしていた。

Sau khi chỉ dạy cho ba cô gái ác ma, cuối cùng anh ta cũng định nghiêm túc.

ジャヒルは強大だが、何も問題ない。

Jahil rất mạnh, nhưng không có vấn đề gì.

『中々楽しめました。貴方は教材としてもってこいでしたが、そろそろ終わりにしましょう。私の手下達を痛めつけてくれた御礼もかねて、私の本気をお見せします』

“Ta đã khá vui đấy. Ngươi là một tài liệu giảng dạy rất tốt, nhưng có lẽ đã đến lúc kết thúc rồi. Coi như là lời cảm ơn vì đã hành hạ thuộc hạ của ta, ta sẽ cho ngươi thấy sức mạnh thật sự của ta”

そう宣言して、ディアブロは魔力を高めていく。

Tuyên bố như vậy, Diablo bắt đầu tăng cường ma lực.

今の状態でもジャヒルを上回っていたのに、ここから更に超高速魔力励起によって、ディアブロの〝力〟は最高潮に達するのだ。

Dù ở trạng thái hiện tại đã vượt qua Jahil, nhưng từ đây, nhờ vào việc kích thích ma lực siêu tốc, “sức mạnh” của Diablo sẽ đạt đến đỉnh điểm.

そして、〝星天円環(セレスティアル)〟の真理を駆使している状態で放つ最強最悪奥義──〝終末世界への鎮魂歌(エンド・オブ・ワールド・レクイエム)〟ならば、ジャヒルをこの世から抹消するのも簡単であった。

Và rồi, nếu sử dụng奥義tối thượng và tồi tệ nhất được tung ra khi đang vận dụng chân lí của “Tinh Thiên Viên Hoàn (Celestial)”... “Tận Thế Trấn Hồn Ca (End of World Requiem)”, thì việc xóa sổ Jahil khỏi thế gian này cũng thật dễ dàng.

名付けて──〝星天円環滅覇(セレスティアルエンド)〟──この技によってディアブロは、ジャヒルを完全に始末するつもりだった。

Tên của nó là... “Tinh Thiên Viên Hoàn Diệt Bá (Celestial End)”... bằng kĩ năng này, Diablo định xử lí Jahil một cách triệt để.

万が一、倒しきれなかったとしても、勝負は決したようなものであった。

Giả sử có không hạ gục được, thì trận đấu cũng coi như đã ngã ngũ.

ただし、この技は反動が大き過ぎる為に、自身の肉体も最大強化しておく必要があった。

Tuy nhiên, vì kĩ năng này có sức bật lại quá lớn, nên anh ta cần phải cường hóa cơ thể của mình lên mức tối đa.

ディアブロは周囲の素粒子を取り込み、肉体の補強を瞬時に行っていく。高度なエネルギー運用にも耐えられる強靭な肉体を、周囲の物質を取り込み再構築しているのである。

Diablo hấp thụ các hạt cơ bản xung quanh và ngay lập tức củng cố cơ thể. Anh ta đang tái cấu trúc một cơ thể cường tráng có thể chịu được cả việc vận dụng năng lượng ở mức độ cao bằng cách hấp thụ các vật chất xung quanh.

そして、準備は完了間近となったのだが──

Và rồi, khi sự chuẩn bị sắp hoàn tất...

『きゃは♪』

“Kya ha♪”

──悪寒を伴う無邪気な笑い声が、戦場に鳴り響いた。

... một tiếng cười ngây thơ đến rợn người vang vọng khắp chiến trường.

『チッ』

“Chậc”

ディアブロが舌打ちする。

Diablo tặc lưỡi.

まさかの、時間切れ。

Không thể tin được, hết thời gian rồi.

しかしそれよりも、必ず入るであろう邪魔者を思って、ディアブロの表情が曇る。

Nhưng hơn thế nữa, nghĩ đến kẻ chắc chắn sẽ xen vào, vẻ mặt của Diablo trở nên u ám.

『やれやれ、どうやら私の出番はここまでのようですね』

“Haizz, xem ra lượt của ta chỉ đến đây thôi”

そして、その予感は的中する事になる。

Và rồi, linh cảm đó đã trở thành sự thật.

俺の〝虚(こ)喰(くう)崩(ほう)剣(けん)〟で御自慢の防御が破られたからか、ヴェルダナーヴァが目に見えて動揺していた。

Có lẽ vì lớp phòng ngự mà hắn tự hào đã bị “Hư Thực Băng Kiếm” của tôi phá vỡ, Verudanava trông có vẻ dao động thấy rõ.

快挙である。

Đúng là một thành tích tuyệt vời.

強がってはいたものの、最悪の場合は一方的に負けると思っていたから、一矢報いたようで満足だ。

Dù tỏ ra mạnh mẽ, nhưng tôi đã nghĩ rằng trong trường hợp xấu nhất sẽ thua một cách áp đảo, nên việc trả đũa được một đòn khiến tôi cảm thấy thỏa mãn.

って、いやいや。

Mà, khoan đã.

満足している場合ではなかった。

Đây không phải lúc để thỏa mãn.

ヴェルダナーヴァの雰囲気が変わっている。

Không khí quanh Verudanava đã thay đổi.

何かこう、最後の一線を越える決意をしたというか……。

Cứ như thể... hắn đã quyết tâm vượt qua lằn ranh cuối cùng vậy.

これはヤバいかも──と思ったのだが、おや?

Tôi đã nghĩ có lẽ gay go đây... nhưng, ủa?

ヴェルダナーヴァが凄そうな攻撃を仕掛けてきそうな雰囲気だったのに、急に止まった。

Verudanava trông như sắp tung ra một đòn tấn công khủng khiếp, nhưng đột nhiên hắn dừng lại.

何かあったのかと思ったが、こんなチャンスを逃す訳にはいかない。

Tôi tự hỏi có chuyện gì xảy ra, nhưng không thể bỏ lỡ một cơ hội như thế này được.

俺は迷いを捨てて、ヴェルダナーヴァに斬りかかった。

Tôi gạt bỏ do dự và lao vào chém Verudanava.

しかし、その瞬間。

Tuy nhiên, ngay lúc đó.

『チッ、動き出しそうだぜ!』

“Chậc, nó sắp bắt đầu di chuyển rồi đấy!”

──というギィの警告で、俺の意識がヴェルダナーヴァから逸れる。

... lời cảnh báo của Guy khiến sự tập trung của tôi rời khỏi Verudanava.

イヴァラージェが再び動き始めたのだ。

Ivalage đã bắt đầu di chuyển trở lại.

こういう時、シエルさんがいないと不便なんだよね。

Những lúc thế này, không có Ciel-san thật bất tiện.

俺だけでは、全方面への警戒が足りないのだ。

Chỉ một mình tôi thì không đủ cảnh giác tứ phía được.

それにしても、面倒な事になった。

Dù sao đi nữa, mọi chuyện đã trở nên phiền phức rồi.

目の前には、ヴェルダナーヴァ。

Trước mặt là Verudanava.

そして後方には、イヴァラージェだ。

Và phía sau là Ivalage.

面倒臭い事に、まだまだ元気で暴れ足りないと見える。

Thật phiền phức, trông nó vẫn còn đầy năng lượng và chưa quậy đủ thì phải.

『きゃは♪』

“Kya ha♪”

という笑い声が、思念となって〝停止世界〟に轟(とどろ)いた。

Một tiếng cười như thế vang vọng trong “Thế Giới Ngưng Đọng” dưới dạng tư niệm.

しかし、俺はもう止まれない。というか、止まる気はなかった。

Nhưng tôi không thể dừng lại được nữa. Hay đúng hơn là không có ý định dừng lại.

ヴェルダナーヴァの意識も、イヴァラージェに向けられているのだ。

Sự chú ý của Verudanava cũng đang hướng về phía Ivalage.

幸運とは重なるもので、思っていた以上に大きな隙が出来ている。

May mắn thường đến dồn dập, một sơ hở lớn hơn tôi nghĩ đã xuất hiện.

俺はかなり幸運な方だが、こと戦闘に関しては〝石橋を叩いて渡る〟性格だ。絶対に勝てる段取りをしてからでないと、不安で仕方ないのである。

Tôi là người khá may mắn, nhưng khi nói đến chiến đấu, tôi thuộc tuýp người “cẩn tắc vô áy náy”. Nếu không chuẩn bị kĩ lưỡng để chắc chắn chiến thắng, tôi sẽ không thể yên tâm được.

だから普段なら、運任せ、などという事態にはならない。そうならないように徹底的に準備しているし、不測の事態に備えて策も練ってある。

Vì vậy, thường thì sẽ không có chuyện phó mặc cho may rủi. Tôi luôn chuẩn bị kĩ lưỡng để tránh điều đó xảy ra, và cũng đã vạch ra các kế hoạch để đối phó với những tình huống bất ngờ.

なので今回のように、常に不安が付きまとう戦いは苦手なのだ。

Thế nên, tôi không giỏi những trận chiến luôn tiềm ẩn sự bất an như lần này.

逆に言えば、こんな状況だからこそ余計に、幸運に恵まれたのが染み渡るように嬉しかった。

Ngược lại, chính vì trong hoàn cảnh này mà việc được may mắn ưu ái lại khiến tôi cảm thấy vui sướng tột độ.

だから、後ろを気にせず全力で挑んだのだ。

Vì vậy, tôi đã dốc toàn lực tấn công mà không cần bận tâm đến phía sau.

『──無駄だよ』

“... Vô ích thôi”

俺の剣は、アッサリと受け止められた。

Thanh kiếm của tôi bị chặn lại một cách dễ dàng.

それが当然の結果だと、ヴェルダナーヴァの表情が物語っている。

Vẻ mặt của Verudanava cho thấy đó là kết quả tất yếu.

だが、俺は焦らない。

Nhưng tôi không hề nao núng.

どうせ受け止められると思っていたから、本命は次なのだ。

Vì tôi đã đoán trước là sẽ bị chặn lại, nên đòn chính của tôi là đòn tiếp theo.

『──帰って来い、シエル!!』

“... Trở về đi, Ciel!!”

俺は右拳を握りしめ、力いっぱいヴェルダナーヴァの左頬を殴った。鋼鉄を殴ったよりも硬い反応があり、多分ダメージはゼロだろうなと思われた。

Tôi nắm chặt tay phải và đấm hết sức vào má trái của Verudanava. Cảm giác còn cứng hơn cả đấm vào thép, có lẽ sát thương là bằng không.

しかし、俺の目的はシエルさんの奪還なのだ。

Tuy nhiên, mục đích của tôi là đoạt lại Ciel-san.

まだ結果は出て──

Kết quả vẫn chưa...

<<只今戻りました、主様(マスター)♪>>

<<Vừa rồi thần đã trở lại, chủ nhân (Master)♪>>

しゃあ──ッ、俺の勝ち!!

Shaaa... Tôi thắng!!

スマンな、ヴェルダナーヴァ君。もう俺に、負けはない。

Xin lỗi nhé, Verudanava-kun. Tôi sẽ không thua nữa đâu.

俺は満足して、シエルさんの帰還を喜んだ──のだが……急に視界が下がった気がする。

Tôi hài lòng và vui mừng vì sự trở về của Ciel-san... nhưng đột nhiên cảm thấy tầm nhìn của mình thấp xuống.

いや『万能感知』は今まで通りなのだが、目の位置が──って、せっかく生前の男らしい姿──ちょっぴり美化していたけど──だったのに、いつの間にやら慣れ親しんだ美少女(シズさん)モデルに戻っていた。

Không, “Cảm Nhận Vạn Năng” vẫn như trước, nhưng vị trí của mắt... ấy, tôi đang ở trong hình dạng nam tính của kiếp trước... dù đã được tô điểm một chút... vậy mà không biết từ lúc nào đã quay lại hình dạng thiếu nữ xinh đẹp (Shizu-san) quen thuộc.

あの、シエルさん?

À này, Ciel-san?

<<あの姿を披露するなど、全くもって論外です!>>

<<Việc để lộ hình dạng đó hoàn toàn không thể chấp nhận được!>>

何故か怒られてしまった。

Không hiểu sao tôi lại bị mắng.

理不-尽だとは思ったが、このやり取りが出来るだけで嬉しい気がする。

Dù thấy thật vô lí, nhưng chỉ cần có thể trò chuyện thế này thôi cũng đủ khiến tôi vui rồi.

もう一度、再認識した。

Tôi nhận ra một lần nữa.

俺にはシエルさんが必要なのだ、と。

Rằng tôi cần có Ciel-san.

そしてもう、何があっても怖くない。

Và giờ đây, dù có chuyện gì xảy ra, tôi cũng không còn sợ hãi.

誰が相手であろうが、俺が動じる事は何もないのだった。

Dù đối thủ là ai, tôi cũng sẽ không hề nao núng.

さてさて、三上悟の姿からリムルの姿に戻ったのは残念ではあるが、その点以外は絶好調だ。

Thôi thì, việc quay trở lại hình dạng Rimuru từ hình dạng Mikami Satoru có hơi tiếc nuối, nhưng ngoài điểm đó ra thì mọi thứ đều tuyệt vời.

しかもラッキーな事に、イヴァラージェの狙いは俺ではなく、ヴェルダナーヴァだったのだ。

Hơn nữa, thật may mắn là mục tiêu của Ivalage không phải là tôi, mà là Verudanava.

俺としては大歓迎なのだが、イヴァラージェが意味不明な発言をしたのだけは気になった。

Đối với tôi thì đó là điều đáng mừng, nhưng tôi chỉ bận tâm về phát ngôn khó hiểu của Ivalage.

『ワタシはルシア、ルシアは私♪』

“Ta là Lucia, Lucia là ta♪”

何を言っているんだ、という話だった。

Nó đang nói cái gì vậy chứ.

何とイヴァラージェは、ヴェルダナーヴァが放った〝記憶(メモリー)〟から〝ルシア〟の記憶を得た事で、自らがルシアだと思い込んでしまったようである。

Hóa ra, Ivalage đã nhận được ký ức của “Lucia” từ “Kí ức (Memory)” mà Verudanava phóng ra, và tự cho rằng mình chính là Lucia.

しかし、実際は違う。

Tuy nhiên, thực tế thì không phải vậy.

イヴァラージェはイヴァラージェであり、破壊の化身なのだ。

Ivalage vẫn là Ivalage, một hóa thân của sự hủy diệt.

その証拠に、外見はルシアだし記憶もあるのだろうが、その内面はイヴァラージェのままだ。自分の欲望にだけ忠実で、他者を思いやる事の出来ない子供のままだったのだ。

Bằng chứng là, dù có ngoại hình và có lẽ cả ký ức của Lucia, nhưng nội tâm của nó vẫn là của Ivalage. Nó vẫn là một đứa trẻ chỉ trung thành với dục vọng của bản thân và không thể quan tâm đến người khác.

ヴェルダナーヴァは、一体何を考えているのやら……。

Không biết Verudanava rốt cuộc đang nghĩ gì nữa...

どいつもこいつも余計な事をしやがって、というのが俺の本音だ。

Tên nào tên nấy toàn làm những chuyện thừa thãi, đó là suy nghĩ thật lòng của tôi.

だがまあ、それが理由なのかどうか不明だが、イヴァラージェがヴェルダナーヴァ目掛けて一直線に向かって行ったのだから大爆笑だ。

Nhưng mà, không biết có phải vì lí do đó không, nhưng việc Ivalage lao thẳng về phía Verudanava khiến tôi không nhịn được cười.

ラスボス同士が大激突とは、予想外の展開過ぎた。

Hai trùm cuối đại chiến với nhau, một diễn biến quá bất ngờ.

しかしそのお陰で、俺も一息つけそうだ。

Nhưng nhờ đó, tôi cũng có thể nghỉ ngơi một chút.

勝った方を相手にしなければならないが、二人同時に相手するよりマシな気がする。それに、運が良ければ漁夫の利が狙えそうだった。

Dù phải đối đầu với kẻ chiến thắng, nhưng vẫn tốt hơn là phải chiến đấu với cả hai cùng một lúc. Hơn nữa, nếu may mắn, tôi có thể ngư ông đắc lợi.

それにしても、一つ気になる事があった。

Dù vậy, có một điều khiến tôi bận tâm.

それは、シエルさんについてだ。

Đó là về Ciel-san.

俺はヴェルダナーヴァを殴るのと同時に、無我夢中で『魂暴喰』を発動させて、取り込まれているであろうシエルさんを『吸収』するつもりだったのだ。

Đồng thời với việc đấm Verudanava, tôi đã vô thức kích hoạt “Cắn Nuốt Linh Hồn” và định “Hấp Thụ” Ciel-san, người có lẽ đã bị bắt giữ.

しかしその作戦を成功させるには、敵の詳細な分析が必要不可欠だった。シエルさんがどこにいるのかわからない上に、どういう状態になっているかも不明だからだ。

Tuy nhiên, để kế hoạch đó thành công, việc phân tích chi tiết kẻ địch là điều không thể thiếu. Bởi vì tôi không biết Ciel-san đang ở đâu, và cũng không rõ tình trạng của cô ấy ra sao.

位置と状態という情報を得てからでないと、シエルさんを取り戻せる訳がなかったのである。

Nếu không có thông tin về vị trí và trạng thái, thì không đời nào tôi có thể đoạt lại Ciel-san.

ところが、だ。

Thế nhưng.

実にアッサリとシエルさんは戻って来た。

Ciel-san đã trở về một cách thật dễ dàng.

それは喜ばしい事なのだが、どう考えても俺の手柄ではない、と思えちゃうんだよね……。

Đó là một điều đáng mừng, nhưng dù nghĩ thế nào, tôi cũng không thể cho rằng đó là công của mình...

<<そんな事はありません! 主様(マスター)がいなければ、私はいまだに囚われたまま──>>

<<Không có chuyện đó đâu ạ! Nếu không có chủ nhân (Master), thần vẫn sẽ bị giam cầm cho đến tận bây giờ...>>

いやいや。

Không không.

絶対に嘘だよね?

Chắc chắn là nói dối đúng không?

<<心外です。私は主様(マスター)に嘘をついた事など、過去に一度たりとて有りません!! >>

<<Thật quá đáng. Thần chưa bao giờ nói dối chủ nhân (Master), dù chỉ một lần trong quá khứ!!>>

えっと、そうだったっけ?

Ừm, có thật vậy không?

俺、色々と騙された記憶があるような気がするけど……。

Tôi có cảm giác mình đã bị lừa rất nhiều lần rồi...

<<気のせいです>>

<<Chỉ là ngài tưởng tượng thôi ạ>>

本当に?

Thật không?

まあ、いい。

Thôi, được rồi.

まあいいさ。

Kệ đi.

深く考えたら負け──な気がするし、今はそれよりも大事な案件があったのを思い出していた。

Tôi có cảm giác nếu nghĩ sâu hơn sẽ thua, và lúc này tôi chợt nhớ ra có một vấn đề quan trọng hơn.

ベニマルだ。

Đó là Benimaru.

俺に出来る事は全て終えて、後の処置はラミリスに任せていた。

Tôi đã làm tất cả những gì có thể, phần xử lí còn lại giao cho Lamrys.

だけどシエルさんならば、もっと適切な対処が出来るのではないかと閃いたのだ。

Nhưng tôi chợt nảy ra ý nghĩ, nếu là Ciel-san, có lẽ cô ấy có thể xử lí một cách thích hợp hơn.

俺はベニマルの隣まで『瞬間移動(テレポート)』した。

Tôi “Dịch Chuyển Tức Thời (Teleport)” đến bên cạnh Benimaru.

『うぇ、リムル!? どうしてここに?』

“Ể, Rimuru!? Sao cậu lại ở đây?”

『いや、ベニマルが心配だったからね』

“À, tại tôi lo cho Benimaru”

『ベニマルちゃんは〝魔核〟も動き出して安定しているけど、まだ目覚めないのよさ』

“Benimaru-chan thì “Ma hạch” đã hoạt động trở lại và ổn định rồi, nhưng vẫn chưa tỉnh lại đâu”

無事なのは間違いなさそうで、一安心である。

Chắc chắn là cậu ta đã an toàn, tôi thở phào nhẹ nhõm.

ホッとしたところで、背後に気配が。

Vừa mới yên tâm thì có một luồng khí tức ở phía sau.

『よお、えらく余裕じゃねーか』

“Yo, trông cậu thong thả gớm nhỉ”

ギィだ。

Là Guy.

俺の真似をして『瞬間移動』してきたようだが、コイツも当たり前に使えるみたいだね。

Có vẻ như hắn đã bắt chước tôi và “Dịch Chuyển Tức Thời” đến đây, xem ra tên này cũng dùng được nó một cách bình thường nhỉ.

『余裕じゃねーよ。今の内に、ベニマルを目覚めさせようと思ってね』

“Thong thả gì đâu. Tôi đang định tranh thủ lúc này đánh thức Benimaru dậy đây”

Tôi vừa nghĩ đừng có làm phiền, vừa trả lời như vậy.

それなのに、ギィは更に絡んできた。

Thế nhưng, Guy vẫn tiếp tục bắt chuyện.

『ふーん、で? イヴァラージェは放置でいいのか?』

“Hửm, vậy sao? Cứ để Ivalage ở đó à?”

『それはこっちのセリフだよ。ギィ君さあ、見てないでイヴァラージェを止めてくれても良かったんじゃないの?』

“Đó là lời của tôi mới đúng. Guy-kun này, sao cậu không ra tay ngăn Ivalage lại mà cứ đứng nhìn thế?”

Nếu định đẩy rắc rối cho tôi, thì tôi cũng muốn hắn tự mình cố gắng chứ. Nghĩ vậy, tôi nhẹ nhàng phàn nàn, nhưng lại bị đáp trả bằng một giọng điệu kinh ngạc.

『うるせーよ。途中で剣を抜いちまったら、余計にヤバい事になりそうだったんだ。そうなったら、テメーが責任取ってくれたのかよ?』

“Ồn ào quá. Nếu giữa chừng ta rút kiếm ra thì mọi chuyện còn có thể trở nên tồi tệ hơn nữa đấy. Nếu thế, cậu có chịu trách nhiệm không?”

いいえ、取りません。

Không, tôi không chịu đâu.

なので、こう答えるのが正解だろう。

Vì vậy, trả lời thế này chắc là đúng rồi.

『だったら、仕方ないね』

“Vậy thì, đành chịu thôi nhỉ”

『ああ、仕方ない』

“Ừ, đành chịu thôi”

俺とギィは頷き合った。

Tôi và Guy gật đầu với nhau.

意外と仲良しに見えるから、困ったものである。

Trông chúng tôi có vẻ thân thiết đến bất ngờ, thật là phiền phức.

『その話はいいとして、ちょっと待ってくれ』

“Chuyện đó để sau đi, chờ một chút”

俺はそう断ってから、シエルさんにベニマルを診察してもらった。

Tôi nói vậy rồi nhờ Ciel-san kiểm tra cho Benimaru.

<<素晴らしい処置です>>

<<Một phương pháp xử lí tuyệt vời>>

確かに、処置は完璧に見える。

Đúng là, việc xử lí trông có vẻ hoàn hảo.

ラミリスのお陰で、心臓となる〝魔核〟も力強く鼓動していた。

Nhờ có Lamrys, “Ma hạch” là trái tim của cậu ta cũng đang đập một cách mạnh mẽ.

それならどうして、ベニマルは目覚めないんだ?

Vậy thì tại sao Benimaru vẫn chưa tỉnh lại?

<<主様(マスター)が注いだ力が少しばかり大きくて、それに慣れる為にベニマルの身体構造が変化しているみたいですね>>

<<Sức mạnh mà chủ nhân (Master) đã truyền vào có hơi lớn, nên có vẻ như cấu trúc cơ thể của Benimaru đang thay đổi để thích nghi với nó>>

ほ、ほほう?

Ồ, ồ?

俺が原因だったか。

Vậy ra nguyên nhân là do tôi à.

指摘されて気付いたけど、ベニマルの種族まで変化しているような……。

Được chỉ ra tôi mới nhận ra, nhưng có vẻ như cả chủng tộc của Benimaru cũng đang thay đổi...

鬼(き)神(しん)にして上位聖魔霊──〝炎(えん)霊(れい)鬼(き)〟だったのに、最上位聖魔霊──炎(えん)竜(りゅう)鬼(き)になっていた。

Từ một Quỷ thần (Kishin) và là Thánh ma linh thượng cấp... “Viêm Linh Quỷ”, giờ đây cậu ta đã trở thành Thánh ma linh tối thượng... Viêm Long Quỷ.

ミスった訳ではないので、多分……大丈夫だ。

Không phải là tôi đã làm sai, nên có lẽ... không sao đâu.

俺はそっと目を逸らし、見なかった事にした。

Tôi nhẹ nhàng đảo mắt đi và coi như không thấy gì.

誰だって、思わぬ事態に遭遇する事もある。

Ai cũng có lúc gặp phải những tình huống không lường trước được.

シエルさんがいれば、こんな事にはならなかっただろう。

Nếu có Ciel-san ở đây, chuyện này đã không xảy ra.

何しろ今回は、俺だけで行う初めての治療行為だったのだから、これはもう、そういうものとして受け入れるしかあるまい。

Dù sao thì đây cũng là lần đầu tiên tôi tự mình thực hiện một hành động trị liệu, nên đành phải chấp nhận nó như vậy thôi.

余計な工夫をしたからかも知れないが、因果関係が証明出来ないのだから、そこは無視すべきであった。

Có lẽ là do tôi đã thêm vào những thứ không cần thiết, nhưng vì không thể chứng minh được mối quan hệ nhân quả, nên tốt nhất là nên lờ đi.

種族が変わるとか大した問題ではないし、ベニマルが無事なのだから、それでいいと考える。

Việc thay đổi chủng tộc không phải là vấn đề lớn, và Benimaru vẫn an toàn, nên tôi nghĩ thế là được rồi.

俺はそういうふうにして、気持ちを切り替えた。

Tôi đã thay đổi suy nghĩ của mình theo cách đó.

<<それで、目覚めさせますか?>>

<<Vậy thì, ngài có muốn đánh thức cậu ta không?>>

そうだね、お願いするよ。

Ừ, nhờ cô cả.

そう願った瞬間、ベニマルが目覚めた。

Ngay khi tôi vừa ước, Benimaru đã tỉnh lại.

驚くほど自然だったので、喜ぶより唖然となったほどだ。

Nó tự nhiên đến mức tôi kinh ngạc hơn là vui mừng.

『あれ、リムル様?』

“Ể, ngài Rimuru?”

『お、おう。無事で何より』

“À, ừm. Cậu không sao là tốt rồi”

『それは俺のセリフ──って、あれ? どうして俺、無事なんです?』

“Đó là lời của tôi mới đúng... mà, ủa? Sao tôi lại không sao vậy?”

『まあいいじゃん、そういうの』

“Thôi mà, chuyện đó có sao đâu”

『まあ、そうですね』

“Vâng, cũng đúng”

そう言うなり、ベニマルはいきなり立ち上がった。

Vừa nói xong, Benimaru đột ngột đứng dậy.

『あれ? 何だか凄く調子がいいんですけど?』

“Ủa? Sao tôi cảm thấy cơ thể rất khỏe khoắn thế này?”

そうだろうね。

Chắc chắn rồi.

だって、種族も変化しているし、多分だけど、ビックリするほど魔素(エネルギー)量が増えているもの。

Bởi vì chủng tộc của cậu cũng đã thay đổi, và có lẽ lượng ma tố (năng lượng) cũng đã tăng lên một cách đáng kinh ngạc.

でも、隣にギィがいるので、余計な事は言わない。

Nhưng vì Guy đang ở bên cạnh, nên tôi không nói những điều thừa thãi.

俺はお口にチャックして、端的に用件を告げた。

Tôi im lặng và nói ngắn gọn yêu cầu của mình.

『それじゃあ、向こうで暴れているヤツがいるから、合流してやってくれる? シオンとかカレラとか、無茶してないか心配だしさ』

“Vậy thì, có một tên đang quậy phá ở đằng kia, cậu có thể đến hợp sức với mọi người không? Tôi lo Shion và Carrera đang làm liều”

『お任せを! 今なら、誰が相手でも負ける気がしませんよ!!』

“Cứ giao cho tôi! Bây giờ, dù đối thủ là ai, tôi cũng không có cảm giác sẽ thua đâu!!”

おお、頼もしい──と、思ったら。

Ồ, thật đáng tin cậy... tôi vừa nghĩ vậy.

『あ、俺の刀は折れちまったんでしたね……』

“A, thanh đao của tôi bị gãy rồi nhỉ...”

しまったという表情で、ベニマルが呟いた。

Benimaru lẩm bẩm với vẻ mặt tiếc nuối.

それなのに、そのまま『まあ、仕方ない!』と言って飛び出しそうになったので、慌てて止める。

Thế nhưng, cậu ta vẫn định nói “Thôi, đành chịu!” rồi lao đi, nên tôi vội vàng ngăn lại.

『ちょ、ちょっとベニマル君!?』

“Này, này, Benimaru-kun!?”

『なんでしょう?』

“Có chuyện gì vậy ạ?”

なんでしょう、じゃないんだよな……。

Không phải là “có chuyện gì vậy” đâu...

武器も持ずに強敵に向かうとか、俺は自殺を命じたつもりなどないんだよ。

Lao vào đối đầu với kẻ địch mạnh mà không có vũ khí, tôi đâu có ra lệnh cho cậu đi tự sát.

『代わりの武器を探すから、ちょっと待って──』

“Để tôi tìm vũ khí thay thế, chờ một chút...”

『あるのよさ!!』

“Có đây này!!”

俺は『虚数空間』の中に、幾つか予備の武器を仕舞っておいたのを思い出した。それを取り出してベニマルに与えようと思ったのだが、ラミリスが先に一振りの杖を取り出したのだ。

Tôi nhớ ra mình đã cất vài món vũ khí dự phòng trong “Không Gian Ảo”. Tôi định lấy ra đưa cho Benimaru, nhưng Lamrys đã lấy ra một cây trượng trước.

『ヴェルダナーヴァ様から預かってたヤツだけど、宝物庫に仕舞いっぱなしだったワケ。この姿にならないと取り出せなかったから、すっかり忘れてたのよさ!』

“Đây là thứ mà ngài Verudanava đã gửi cho ta, nhưng ta cứ để nó trong kho báu suốt. Phải ở trong hình dạng này mới lấy ra được nên ta quên béng mất!”

なるほど?

Ra vậy sao?

『名前はねえ、確かそう──〝繁栄(アルタ)〟だった!!』

“Tên của nó là, nếu ta nhớ không lầm... “Phồn Vinh (Alta)”!!”

ふむ。

Hừm.

でもさ、杖じゃあ、ねえ?

Nhưng mà, một cây trượng thì, nhỉ?

と思ったら、ベニマルが手にした瞬間に、太刀へと姿を変えたではないか。

Vừa nghĩ vậy thì ngay khoảnh khắc Benimaru cầm lấy, nó đã biến thành một thanh tachi.

『おお、凄いですね、これ!』

“Ồ, tuyệt vời quá, cái này!”

と、ベニマルが驚いている。

Benimaru kinh ngạc.

どうやらヴェルダナーヴァが創った武器は、所有者が望む形状になるようだ。これは負けた気がして、ちょっと悔しかった。

Có vẻ như vũ khí do Verudanava tạo ra sẽ biến thành hình dạng mà chủ nhân mong muốn. Cảm giác như mình đã thua, tôi có chút cay cú.

しかも、だ。

Hơn nữa.

ベニマルの折れた剣──〝紅(ぐ)蓮(れん)〟が、サラサラと崩れてしまったのだが、不思議な事にビー玉サイズの真紅の玉だけが残ったのだ。これを受け入れるように〝繁栄(アルタ)〟の刀身根本に小さな孔が空いて、ピタリと嵌(はま)ったのである。

Thanh kiếm bị gãy của Benimaru... “Hồng Liên (Guren)”... đã tan thành cát bụi, nhưng kì lạ là chỉ còn lại một viên ngọc màu đỏ thẫm cỡ viên bi. Như để tiếp nhận nó, một lỗ nhỏ xuất hiện ở gốc lưỡi đao của “Phồn Vinh (Alta)” và viên ngọc khớp vào một cách hoàn hảo.

『おお、これは……』

“Ồ, đây là...”

『まるで、〝紅(ぐ)蓮(れん)〟が再生されたみたいだな』

“Cứ như thể “Hồng Liên (Guren)” đã được tái sinh vậy”

『外見はそっくりになりましたが、威力は桁違いかと』

“Bề ngoài thì giống hệt, nhưng uy lực thì khác một trời một vực”

だろうね。

Chắc chắn rồi.

だってそれ、どう見ても創世級(ジェネシス)なんだもん。

Bởi vì nhìn thế nào thì nó cũng là Cấp Sáng Thế (Genesis) mà.

ラミリスもとんでもないモノを隠し持っていたものだが、忘れていたのなら仕方あるまい。そもそも、預かったのだって二千年以上前の話みたいだし、ラミリスが何度も繰り返しているという転生前の話だろうしな。

Lamrys cũng giấu một món đồ kinh khủng thật, nhưng nếu đã quên thì cũng đành chịu. Vốn dĩ, chuyện được gửi gắm cũng đã từ hơn hai nghìn năm trước, và có lẽ đó là chuyện từ trước khi Lamrys lặp đi lặp lại việc chuyển sinh.

それにしても、〝繁栄(アルタ)〟──か。

Dù sao đi nữa, “Phồn Vinh (Alta)”... hử.

ラミリスがコレを持っていたから、迷宮が富を生み出したのだろうか?

Có phải vì Lamrys có thứ này nên mê cung mới tạo ra của cải không?

それとも、単なる偶然か?

Hay chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên?

ラミリスの迷宮にはゲームの筐(きょう)体(たい)とかも流れ着いていたみたいだし、意外と〝繁栄(アルタ)〟の恩恵に与(あずか)っていたのかも知れないね。どちらにしろ調べてみたいので、この戦いが終わったら、クロベエと一緒に研究してみようと思ったのだった。

Mê cung của Lamrys dường như còn có cả những thứ như máy game thùng trôi dạt vào, có lẽ cô ấy đã được hưởng lợi từ “Phồn Vinh (Alta)” một cách bất ngờ. Dù thế nào đi nữa, tôi cũng muốn tìm hiểu, nên đã quyết định sẽ cùng Kurobe nghiên cứu sau khi trận chiến này kết thúc.

『それじゃあ、この戦いが終わったら新しい剣をクロベエに用意してもらうとして──今はそれを借りておくとしよう!』

“Vậy thì, sau khi trận chiến này kết thúc, tôi sẽ nhờ Kurobe chuẩn bị một thanh kiếm mới... còn bây giờ, cứ mượn tạm nó đi!”

『有難く借り受けますね、ラミリス様!』

“Thần xin trân trọng mượn, thưa ngài Lamrys!”

『いいっていいって、気にしないでいいのよさ!』

“Được mà được mà, không cần phải khách sáo đâu!”

Nhờ sự dễ dãi của Lamrys, vũ khí cho Benimaru cũng đã được chuẩn bị xong.

これで、憂いなし。

Vậy là không còn gì phải lo lắng.

『それじゃあ、頼んだぞベニマル!』

“Vậy thì, nhờ cả vào cậu đấy, Benimaru!”

『承知です。どんな敵だろうが、俺が倒して見せますよ!』

“Rõ. Dù kẻ địch là ai, tôi cũng sẽ đánh bại hắn cho ngài xem!”

ベニマルが不敵に笑う。

Benimaru cười một cách ngạo nghễ.

それならヴェルダナーヴァとかイヴァラージェの相手を任せたいのだが、流石にそれは、生き返ったばかりのベニマルには酷だろうな……。

Nếu vậy thì tôi muốn giao cho cậu ta đối phó với Verudanava hay Ivalage, nhưng điều đó quả là quá tàn nhẫn đối với Benimaru, người vừa mới được hồi sinh...

俺は、ベニマルを守ってくれていたゼギオンにも目を向けた。

Tôi cũng nhìn về phía Zegion, người đã bảo vệ Benimaru.

『ゼギオンも手伝ってやってくれ!』

“Zegion cũng giúp cậu ta một tay nhé!”

『御意!』

“Tuân lệnh!”

嬉しそうに、ゼギオンが返事する。

Zegion vui vẻ trả lời.

向こうでも頑張っているようだし、ベニマルとゼギオンまで援軍に加われば何とかなるはずだ。

Bên kia mọi người cũng đang cố gắng, nếu có thêm Benimaru và Zegion làm viện binh thì chắc chắn sẽ ổn thôi.

俺はそう確信しつつ、ベニマルとゼギオンを見送ったのだった。

Tôi tin chắc như vậy và tiễn Benimaru cùng Zegion đi.

ディアブロを前にして、ジャヒルは焦っていた。

Đối mặt với Diablo, Jahil đang cảm thấy sốt ruột.

感覚的には格下であるはずのディアブロに、一方的に圧倒されていたからだ。

Bởi vì hắn đang bị Diablo, người mà theo cảm nhận của hắn phải ở đẳng cấp thấp hơn, áp đảo một cách hoàn toàn.

(クソが、どうなっておる? このワシが、これほどまでに凶悪強大な力を手にしたというのに……)

(Chết tiệt, chuyện gì đang xảy ra vậy? Ta đây đã có được một sức mạnh kinh khủng và to lớn đến thế này mà...)

ディアブロには、ジャヒルの攻撃が何一つ通用しないのだ。

Không một đòn tấn công nào của Jahil có tác dụng với Diablo.

〝暗黒増殖喰(デヴァステイターウイルス)〟を纏わせた攻撃すらも、ディアブロは自身を守るように展開させた『虚無』で無効化してしまうのである。

Ngay cả những đòn tấn công được bao bọc bởi “Hắc Ám Sinh Sôi Nuốt Chửng (Devastator Virus)”, Diablo cũng vô hiệu hóa bằng “Hư Vô” mà anh ta triển khai để bảo vệ bản thân.

これでは、ディアブロを喰らって力に変換するのも不可能だった。

Như thế này thì việc ăn Diablo và chuyển hóa thành sức mạnh là không thể.

ならば他の者はと狙いを変えてみたが、悔しくも腹立たしい事に、この場にいる者達はそう簡単に仕留められそうになかったのだ。

Vậy thì nhắm vào những người khác, hắn đã thử thay đổi mục tiêu, nhưng thật cay đắng và tức giận, những người ở đây không phải là những kẻ có thể dễ dàng bị hạ gục.

究極能力(アルティメットスキル)『邪龍之王(アジ・ダハーカ)』の真骨頂は、喰らった対象の力を吸収する事にある。それは死体からでも構わないし、喰った素材を利用して『有機支配』と『複製量産』を活用すれば、強力な『邪龍獣』を多数生み出す事だって可能なのだ。

Điểm mạnh thực sự của Kĩ năng Tối thượng “Tà Long Vương (Azi Dahaka)” là hấp thụ sức mạnh của đối tượng bị ăn. Dù là từ xác chết cũng được, và nếu sử dụng nguyên liệu đã ăn để vận dụng “Chi Phối Hữu Cơ” và “Nhân Bản Hàng Loạt”, hắn có thể tạo ra vô số “Tà Long Thú” mạnh mẽ.

ヴェガは精神的に未熟で、その権能を理解していなかった。

Vega còn non nớt về mặt tinh thần và không hiểu được quyền năng đó.

ジャヒルは違う。究極能力(アルティメットスキル)『邪龍之王(アジ・ダハーカ)』の『能力吸収』という権能をも駆使して、敵のエネルギーを奪う事だって可能なのである。

Jahil thì khác. Hắn có thể sử dụng cả quyền năng “Hấp Thụ Kĩ Năng” của Kĩ năng Tối thượng “Tà Long Vương (Azi Dahaka)” để cướp đi năng lượng của kẻ địch.

それなのに、この場にいる者達からはエネルギーを奪えないでいた。

Thế nhưng, hắn không thể cướp được năng lượng từ những người ở đây.

ユウキは『瞬間移動』で逃げ回るし、ディアブロだけでなくテスタロッサ、ウルティマやカレラまでも、『虚無』を駆使してのけたのである。

Yuki thì dùng “Dịch Chuyển Tức Thời” để né tránh, và không chỉ Diablo mà cả Testarossa, Ultima và Carrera cũng đã sử dụng thành thạo “Hư Vô”.

ふざけるなと、ジャヒルは憤怒する。

Đừng có đùa, Jahil tức giận.

気絶中のシオンならば狙えるかと思ったが、ルミナスが鉄壁の守りを張っていた。ならばルミナスごと始末してやろうかと思うのだが、テスタロッサ達が三人がかりで邪魔をしてくる。

Hắn nghĩ có thể nhắm vào Shion đang bất tỉnh, nhưng Luminous lại tạo ra một lớp phòng ngự vững chắc. Vậy thì xử lí cả Luminous luôn, hắn nghĩ, nhưng Testarossa và hai người kia lại hợp sức cản trở.

そうこうしている内に、ディアブロに追い詰められて……こうなるともう、他の獲物に狙いを変える方がいいと判断せざるを得なかった。

Trong lúc đó, hắn bị Diablo dồn vào chân tường... đến nước này, hắn không còn cách nào khác ngoài việc quyết định thay đổi mục tiêu sang con mồi khác.

かと言って、それも限られる。

Nhưng nói vậy chứ, lựa chọn cũng có hạn.

戦場には幻獣族(クリプテッド)の死体が山のようにあるが、それを喰っても大きな意味はない。

Trên chiến trường có vô số xác chết của tộc Ảo thú (Cryptid), nhưng ăn chúng cũng không có nhiều ý nghĩa.

既にジャヒルは、スイームとカケアシという二大巨頭を我が物としていた。それなのに、ディアブロにはまるで歯が立たないからだ。

Jahil đã chiếm hữu được hai cự đầu là Swim và Kakeashi. Dù vậy, hắn vẫn không thể làm gì được Diablo.

素材を得れば『邪龍獣』を生み出せるのだが、〝停止世界〟ではそれも意味がない。残念ながら『邪龍獣』には、停止した時間の中を動き回る権能を付与出来なかったからだ。

Nếu có nguyên liệu, hắn có thể tạo ra “Tà Long Thú”, nhưng trong “Thế Giới Ngưng Đọng” thì điều đó cũng vô nghĩa. Thật không may, hắn không thể ban cho “Tà Long Thú” quyền năng di chuyển trong thời gian bị ngưng đọng.

強力な権能なのは間違いないのだが、今の状況を覆せるほどの決定的な力はなかった。ジャヒルは憤慨しつつも、この苦境を脱する術(すべ)はないか思案していた。

Đó chắc chắn là một quyền năng mạnh mẽ, nhưng không đủ sức mạnh quyết định để lật ngược tình thế hiện tại. Jahil vừa tức giận vừa suy tính xem có cách nào thoát khỏi tình cảnh khó khăn này không.

すると、少し離れた場所で呑気に話し合っている者達を発見したのだ。

Lúc đó, hắn phát hiện một nhóm người đang thản nhiên trò chuyện ở một nơi không xa.

それは当然、コルヌを説得しようとしているフェルドウェイ達である。

Đó chính là nhóm của Feldway đang cố gắng thuyết phục Cornu.

説得は、半ば完了していた。

Việc thuyết phục đã gần như hoàn tất.

何なら、気が抜けた会話が始まりそうな雰囲気まであったのだ。

Thậm chí còn có cả bầu không khí như thể một cuộc trò chuyện thoải mái sắp bắt đầu.

ジャヒルにとっては、見逃せない状況だった。

Đối với Jahil, đây là một tình huống không thể bỏ qua.

誰もが強者だ。喰えば新たな力が手に入る可能性が高く、この状況を打破する一手として期待出来たのである。

Ai cũng là kẻ mạnh. Nếu ăn họ, khả năng cao là hắn sẽ có được sức mạnh mới, và có thể hy vọng đó sẽ là một nước cờ để phá vỡ tình thế này.

ディアブロから逃げるのは至難の業だが、ここは気合の入れ所だとジャヒルは思った。故に、目の前に自身に似せた『邪龍獣』を生み出して、ディアブロの目を誤魔化すようにして背を向けたのである。

Trốn thoát khỏi Diablo là một việc cực kì khó khăn, nhưng Jahil nghĩ đây là lúc phải dồn hết sức. Vì vậy, hắn đã tạo ra một “Tà Long Thú” giống hệt mình ở phía trước để đánh lừa Diablo và quay lưng đi.

逃げるのではなく、ジャヒルの狙いはコルヌだった。

Không phải là chạy trốn, mục tiêu của Jahil là Cornu.

コルヌが宿ったハバタキの力も取り込めば、完全無欠になれると信じたのだ。

Hắn tin rằng nếu hấp thụ cả sức mạnh của Habataki mà Cornu đang sở hữu, hắn sẽ trở nên hoàn hảo không tì vết.

しかし、その願いは叶わない。

Tuy nhiên, ước nguyện đó không thành sự thật.

『チッ、やはりか』

“Chậc, quả nhiên là vậy”

背後に聞こえたのは、ディアブロの忌々しそうな呟きだ。

Phía sau lưng, hắn nghe thấy tiếng lẩm bẩm đầy bực bội của Diablo.

追って来ないのを不審に思ったジャヒルだが、その理由は目の前に出現した存在によって明かされる。

Jahil cảm thấy kì lạ vì Diablo không đuổi theo, nhưng lí do đã được giải thích bởi sự xuất hiện của một 존재 ngay trước mắt.

それは、ゼギオンだった。

Đó là Zegion.

ゼギオンの拳が、ジャヒルを殴り飛ばしたのだ。

Nắm đấm của Zegion đã đánh bay Jahil.

それだけで、ジャヒルは大きくエネルギーを損耗し──

Chỉ với một đòn đó, Jahil đã mất đi một lượng lớn năng lượng...

(クソッ、何が起きた!? 魔導大帝たるワシに、一体誰が──)

(Chết tiệt, chuyện gì đã xảy ra!? Ta là Ma Đạo Đại Đế, rốt cuộc là ai đã...)

──と混乱する。

... hắn hoang mang.

そして、そのまま体勢を立て直したジャヒルだったが、出来たのはそれだけだった。

Và rồi, Jahil đã lấy lại được thăng bằng, nhưng đó là tất cả những gì hắn có thể làm.

ジャヒルの前に、ベニマルが立ち塞がったのだ。

Benimaru đã đứng chắn trước mặt Jahil.

『コイツは俺に任せてもらおうか』

“Tên này cứ để tôi lo”

それを聞いて、ディアブロは肩を竦めた。

Nghe vậy, Diablo nhún vai.

やはりこうなったか──と思ったのだ。

Quả nhiên là thành ra thế này... anh ta nghĩ.

『よかろう』

“Được thôi”

ゼギオンは端的に頷き、腕を組んで見守る構えとなる。

Zegion gật đầu ngắn gọn, khoanh tay đứng nhìn.

元より、リムルからベニマルの手助けを命じられたので、何かあった時に動けばいいと考えていた。

Vốn dĩ, anh đã được Rimuru ra lệnh hỗ trợ Benimaru, nên anh nghĩ chỉ cần ra tay khi có chuyện gì đó xảy ra là được.

他の者ならばともかく、ベニマル相手に余計な手出しは不要、という事である。

Đối với người khác thì không nói, nhưng với Benimaru thì không cần phải can thiệp thừa thãi.

ディアブロは、ベニマルを見て唸る。

Diablo nhìn Benimaru và gầm gừ.

『ふ、む。ベニマル殿もリムル様の御力を授かり、遂に進化の果てに至ったのですね』

“Hừm, hừm. Benimaru-dono cũng đã được ngài Rimuru ban cho sức mạnh và cuối cùng đã đạt đến tận cùng của sự tiến hóa rồi nhỉ”

『そうなのか? それでか、身体の調子がいい訳だ』

“Vậy sao? Thì ra đó là lí do cơ thể tôi cảm thấy rất tốt”

実はベニマル、死にかけて──というか、実際に死んで──から生き返った事で、大きく力を増していたのだ。

Thực ra, Benimaru đã suýt chết... hay đúng hơn là đã chết... rồi được hồi sinh, và nhờ đó sức mạnh của cậu đã tăng lên đáng kể.

しかもその身体には、リムルの血──スライム細胞──が流れている。これが凄まじいまでに魔素を取り込み、ベニマルの身体を大いに強化していた。

Hơn nữa, trong cơ thể cậu còn có máu của Rimuru... tế bào Slime... đang chảy. Điều này đã hấp thụ một lượng ma tố kinh khủng và cường hóa cơ thể của Benimaru một cách đáng kể.

その結果として、最上位聖魔霊──炎(えん)竜(りゅう)鬼(き)へと至った訳だが、これはもう〝亜竜種〟とでも呼ぶべき存在なのだ。

Kết quả là, cậu đã tiến hóa thành Thánh ma linh tối thượng... Viêm Long Quỷ, nhưng đây đã là một tồn tại có thể gọi là “Á Long Chủng”.

その存在値は優に四千万を超えており、ラミリスから借り受けた〝繁栄(アルタ)〟からも主と認められたほどだ。

Giá trị tồn tại của cậu đã vượt xa bốn mươi triệu, đến mức được “Phồn Vinh (Alta)” mượn từ Lamrys công nhận là chủ nhân.

故に、今のベニマルには〝繁栄(アルタ)〟の力まで加算され、億に近い存在値を秘めていたのだった。

Vì vậy, Benimaru hiện tại còn được cộng thêm sức mạnh của “Phồn Vinh (Alta)”, ẩn chứa một giá trị tồn tại gần một trăm triệu.

ディアブロは、それを正確に見抜いていた。

Diablo đã nhìn thấu điều đó một cách chính xác.

(やれやれ。リムル様はこの機会に、ベニマル殿にも経験を積ませようという訳ですね。それではもう、私の出番は回ってこないでしょうね……)

(Haizz. Ngài Rimuru nhân cơ hội này muốn cho Benimaru-dono tích lũy kinh nghiệm đây mà. Vậy thì, chắc sẽ không đến lượt ta ra tay nữa rồi...)

そう悟り、自らの手でジャヒルにトドメを刺せなくて残念に思いつつも、それもまたリムルの望みなのだろうと受け入れたのだった。

Nhận ra điều đó, anh ta vừa tiếc nuối vì không thể tự tay kết liễu Jahil, vừa chấp nhận rằng đó có lẽ cũng là mong muốn của Rimuru.

しかし、ここで納得のいかない者がいた。

Tuy nhiên, có một người ở đây không thể chấp nhận được.

コルヌだ。

Đó là Cornu.

流石に殺意まで向けられたのだから、ジャヒルの接近に気付かぬはずがないのだ。

Bị nhắm đến với cả sát ý như vậy, không lí nào hắn lại không nhận ra sự tiếp cận của Jahil.

『何だ、虫ケラか? この俺に殺意を向けるなんて、少しばかり力を手に入れたから、調子に乗っちまったのか?』

“Gì đây, một con sâu bọ à? Dám hướng sát ý về phía ta, có được chút sức mạnh là lên mặt rồi sao?”

コルヌは、ジャヒルに向かって大言壮語を吐いた。

Cornu đã nói những lời khoác lác với Jahil.

実力的には、今のジャヒルの方が遥かに上だ。しかしコルヌはハバタキと一体化した事で、気が大きくなっていたのである。

Về thực lực, Jahil hiện tại mạnh hơn rất nhiều. Nhưng Cornu đã trở nên tự cao tự đại sau khi hợp nhất với Habataki.

そういうところが、コルヌのダメな点だ。

Đó chính là điểm yếu của Cornu.

フェルドウェイ達から落ち着けと説得されていたのに、全然活かせていないのも、マイナス点だった。

Dù được nhóm Feldway thuyết phục hãy bình tĩnh lại, nhưng hắn hoàn toàn không tiếp thu, đó cũng là một điểm trừ.

そんなコルヌだが、ハバタキと完全同化していて見た目にも変化があった。背中に生えているのがハバタキの羽であり、堕天使の翼に紛れて一対だけ黄金紅の輝きを放っていて、かなり恰好良くなっていたのだ。

Cornu như vậy, nhưng hắn đã hoàn toàn đồng hóa với Habataki và ngoại hình cũng có sự thay đổi. Trên lưng hắn là đôi cánh của Habataki, lẫn trong đôi cánh của đọa thiên sứ, có một cặp cánh tỏa ra ánh sáng vàng đỏ, trông rất ngầu.

そして、コルヌの自信を支えるのが、新たに獲得した『瞬間移動』の権能だった。これがあれば、どんな状況からでも逃げ出せるのだ。

Và thứ chống đỡ cho sự tự tin của Cornu chính là quyền năng “Dịch Chuyển Tức Thời” mà hắn vừa có được. Với nó, hắn có thể trốn thoát khỏi bất kì tình huống nào.

相手が『瞬間移動』を使えないという前提必須なのだが、もしも相手が追いかけて来たら、そこで次の対策を考えればいい──というのが、コルヌの安直な考えなのだった。

Với điều kiện tiên quyết là đối phương không thể sử dụng “Dịch Chuyển Tức Thời”, và nếu đối phương đuổi theo, thì lúc đó hắn sẽ nghĩ cách đối phó tiếp theo... đó là suy nghĩ đơn giản của Cornu.

考え過ぎるのも良くないというのは、ある意味で間違っていないのだ。

Suy nghĩ quá nhiều cũng không tốt, theo một nghĩa nào đó thì cũng không sai.

そして今回の場合、ジャヒルは『瞬間移動』など使えない。そもそもの話、本当の意味での『瞬間移動』を扱える者など十名に満たないので、コルヌの考えも理にかなってはいたのだった。

Và trong trường hợp này, Jahil không thể sử dụng “Dịch Chuyển Tức Thời”. Vốn dĩ, số người có thể sử dụng “Dịch Chuyển Tức Thời” đúng nghĩa cũng chưa đến mười người, nên suy nghĩ của Cornu cũng có lí.

もっとも、巻き込まれた者達からすれば大迷惑だ。

Dĩ nhiên, đối với những người bị cuốn vào thì đó là một sự phiền toái lớn.

『言ってやってくれ、フェルドウェイ! ザラリオ、オベーラ、お前らもだ! この俺が大事だと、大切な仲間なのだと、俺を殺そうとしたあのクソ馬鹿野郎に、ハッキリと教えてやってくれ!!』

“Nói cho nó biết đi, Feldway! Zalario, Obera, các ngươi cũng vậy! Hãy nói rõ cho cái tên khốn ngu ngốc định giết ta biết rằng ta quan trọng như thế nào, rằng ta là một đồng đội quý giá!!”

わかった、わかったから、もう黙れ──と、フェルドウェイは喉元まで出かかった言葉を呑み込んだ。

Được rồi, được rồi, im đi... Feldway nuốt lại những lời đã chực trào ra khỏi cổ họng.

そんなフェルドウェイの気持ちに気付きもせず、コルヌは怒りの矛先を変更して、更に文句を口にしようとして──

Không hề nhận ra cảm xúc của Feldway, Cornu thay đổi mục tiêu của cơn giận và định tiếp tục phàn nàn...

『大体、もう一方のアイツ等も何なんだ? 何がリム──』

“Mà cái đám kia cũng là cái gì vậy? Cái gì mà Rim...”

その瞬間、フェルドウェイがコルヌの意識を刈り取った。

Ngay lúc đó, Feldway đã cắt đứt ý thức của Cornu.

実に正しい状況判断だったと言えよう。

Có thể nói đó là một phán đoán tình hình hoàn toàn chính xác.

ザラリオやオベーラにも、異論はない。

Zalario và Obera cũng không có ý kiến gì.

もしも少しでも判断が遅れていたら、ディアブロに目をつけられていた。そうなると巻き込まれるのは必至で、とんでもなく面倒で、危険な目にあった可能性がある。

Nếu phán đoán chậm một chút thôi, họ đã bị Diablo để ý. Khi đó, việc bị cuốn vào là không thể tránh khỏi, và có khả năng họ sẽ gặp phải những rắc rối và nguy hiểm không lường trước được.

二人がフェルドウェイを支持するのも、実に当然な話であった。

Việc cả hai ủng hộ Feldway cũng là điều hoàn toàn tự nhiên.

まして、この場にはゼギオンもいた。

Hơn nữa, ở đây còn có cả Zegion.

ディアブロとゼギオンから睨まれてしまっては、三人がかりでもコルヌを庇うのは不可能だっただろう。

Nếu bị cả Diablo và Zegion lườm, thì dù có ba người cũng không thể bảo vệ được Cornu.

コルヌはもっと、フェルドウェイに感謝すべきであった。

Cornu lẽ ra phải biết ơn Feldway nhiều hơn.

ジャヒルと戦う事になったベニマルだが、それでも彼我のエネルギー格差は大きい。

Benimaru đã phải chiến đấu với Jahil, nhưng sự chênh lệch về năng lượng giữa họ vẫn còn rất lớn.

今のベニマルからしても、ジャヒルは倍以上の存在感なのだ。

Ngay cả với Benimaru hiện tại, Jahil vẫn có sự tồn tại gấp đôi cậu.

しかし、何の問題もなかった。

Tuy nhiên, không có vấn đề gì cả.

ベニマルは、自分が勝つと確信していたのだ。

Benimaru tin chắc rằng mình sẽ thắng.

その理由は幾つかあるが、一番はジャヒルに恐れを抱かなかったからだ。

Có một vài lí do cho điều đó, nhưng lí do lớn nhất là vì cậu không hề sợ hãi Jahil.

ベニマルにとって怖くない敵は、強くないのである。

Đối với Benimaru, một kẻ địch không đáng sợ thì không phải là kẻ mạnh.

『で、お前は誰だ? 死ぬ前に、名前くらい聞いておいてやる』

“Vậy, ngươi là ai? Trước khi chết, ta sẽ nghe tên ngươi”

と、ベニマルが語り掛ける。

Benimaru nói.

今のジャヒルは、ベニマルからすれば初対面なのだ。

Đối với Benimaru, Jahil hiện tại là một người xa lạ.

気配も混ざっていて、見覚えがあるような気はするものの、思い出せずにいた。

Khí tức của hắn cũng bị pha tạp, dù có cảm giác quen thuộc, nhưng cậu không thể nhớ ra.

それも仕方のない話で、今のジャヒルは先日までと別人の如くだ。カケアシとスイーム、それに加えてヴェガが混ざっている。そのヴェガにしろ、ゼラヌスを喰らっているので、異形と化していた。

Đó cũng là điều dễ hiểu, Jahil hiện tại đã khác hẳn so với vài ngày trước. Hắn là sự pha trộn của Kakeashi và Swim, cộng thêm cả Vega. Mà Vega cũng đã ăn Zelanus, nên đã biến thành một sinh vật dị hình.

これらが複合して、究極生命体へと至っていた訳だが、ベニマルからすれば知った事ではなかったのだ。

Tất cả những thứ này kết hợp lại đã tạo nên một sinh vật tối thượng, nhưng đối với Benimaru thì điều đó không quan trọng.

ジャヒルは、そんなベニマルの態度に憤慨した。

Jahil tức giận trước thái độ của Benimaru.

『舐めるなよ、小僧がァ!! ワシは、ワシこそが魔導大帝ジャヒルなりィ──ッ!! 神を殺し、新たな創世神として君臨するのは、ワシを置いて、他にいないのだァ────ッ!!』

“Đừng có coi thường ta, tên nhóc con!! Ta, chính ta là Ma Đạo Đại Đế Jahil!! Kẻ sẽ giết thần và ngự trị với tư cách là một Sáng Tạo Thần mới, ngoài ta ra không còn ai khác!!”

そう絶叫するのと同時に、ジャヒルも己の頭を冷やす。

Đồng thời với việc gào thét như vậy, Jahil cũng tự làm nguội cái đầu của mình.

今の状況は非常にマズイ。それを自覚出来ないほど、ジャヒルは愚かではないのだ。

Tình hình hiện tại rất tồi tệ. Jahil không ngu ngốc đến mức không nhận ra điều đó.

活路としては、一人で出て来たベニマルを喰らい、その武器を奪う事だ。

Con đường sống duy nhất là ăn Benimaru, người đã một mình xuất hiện, và cướp lấy vũ khí của cậu ta.

(アレは紛れもなく、神が創造した神器であろうな。あのような愚者には勿体ない代物であるからして、ワシが有効活用してやらねばなるまい)

(Đó chắc chắn là một thần khí do thần tạo ra. Một món đồ quý giá như vậy thật lãng phí cho một kẻ ngu ngốc như hắn, ta phải tận dụng nó một cách hiệu quả)

ジャヒルはそう決意した。

Jahil đã quyết định như vậy.

表の態度は怒って冷静さを失っているように見せかけつつ、内心は冷静に、自分が勝利する為の道筋を組み立てていくジャヒルなのだった。

Bề ngoài tỏ ra tức giận và mất bình tĩnh, nhưng bên trong, Jahil vẫn bình tĩnh xây dựng con đường dẫn đến chiến thắng cho mình.

一方。

Trong khi đó.

ジャヒルの叫びを聞いて、ディアブロとゼギオンが苛ついていた。

Nghe thấy tiếng hét của Jahil, Diablo và Zegion cảm thấy bực bội.

『愚物が、不敬ですよ』

“Tên ngu xuẩn, thật bất kính”

『不敬だな。実に不愉快だ』

“Bất kính thật. Vô cùng khó chịu”

新たな創世神のあたりが、二人の逆鱗をナデナデしまくったようだ。

Câu nói về Sáng Tạo Thần mới dường như đã chọc vào vảy ngược của cả hai.

神はリムルただ一人──と信じて疑わない二人だからこそ、ジャヒルの発言が許せないのである。

Bởi vì cả hai đều tin chắc rằng chỉ có một vị thần duy nhất là Rimuru, nên họ không thể tha thứ cho phát ngôn của Jahil.

ベニマルはそこまで妄信していないので、ジャヒルの言葉よりも二人の反応に、ちょっとだけドン引きしている。

Benimaru không cuồng tín đến mức đó, nên cậu có chút e dè trước phản ứng của hai người họ hơn là lời nói của Jahil.

『まあまあ、落ち着けよ』

“Thôi nào, bình tĩnh lại đi”

と、形ばかり二人を宥めるベニマルだった。

Benimaru chỉ xoa dịu hai người họ cho có lệ.

それから、ジャヒルに意識を集中させて、話しかけるのだ。

Sau đó, cậu tập trung vào Jahil và bắt chuyện.

『ああ、お前か。神樹では世話になったが、御礼はキッチリとさせてもらおうか』

“À, là ngươi à. Ở Thần thụ đã được ngươi chiếu cố rồi, để ta trả lễ cho ngươi một cách đàng hoàng nhé”

名乗られてようやく、目の前の敵がジャヒルだと気付いたベニマルである。

Được xưng tên, Benimaru cuối cùng cũng nhận ra kẻ địch trước mắt là Jahil.

そうして敵の正体が判明してみると、思い出すのは神樹での因縁だ。守りに徹するという消極的な戦いを強いられたのは、ベニマルとしても苦渋の決断だったのである。

Và khi đã biết được danh tính của kẻ thù, cậu lại nhớ đến mối duyên nợ ở Thần thụ. Việc bị buộc phải chiến đấu một cách bị động, chỉ tập trung vào phòng thủ, cũng là một quyết định cay đắng đối với Benimaru.

戦略的にも戦術的にも目的を達成したので、事実上の勝利だったのだが、ベニマルからすれば完全勝利ではなかった。

Dù đã đạt được mục tiêu cả về mặt chiến lược lẫn chiến thuật, và trên thực tế là một chiến thắng, nhưng đối với Benimaru, đó không phải là một chiến thắng hoàn toàn.

やはり相手を倒して禍根を絶ってこそ、勝利したと胸を張れるのだ。

Chỉ khi đánh bại đối thủ và diệt trừ hậu họa, cậu mới có thể tự hào nói rằng mình đã chiến thắng.

それがベニマルの持論であり本音だったので、今回の遭遇は願ってもないものだった。

Đó là quan điểm và suy nghĩ thật lòng của Benimaru, nên cuộc gặp gỡ lần này là một điều cậu hằng mong ước.

『こちらのセリフだ!!』

“Đó là lời của ta mới đúng!!”

とジャヒルが叫び、ベニマルに速攻を仕掛けた。

Jahil hét lên và tấn công Benimaru một cách chớp nhoáng.

ディアブロに勝つのは難しい上に、新たに登場したゼギオンからも只ならぬ気配を感じていた。今はベニマル一人だが、この二人にまで加勢されると、ジャヒルの勝率が大幅に低下してしまうだろう。そうなる前に、ベニマルを倒さねばならぬのだ。

Việc chiến thắng Diablo đã khó, mà hắn còn cảm nhận được một luồng khí tức bất thường từ Zegion vừa xuất hiện. Bây giờ chỉ có một mình Benimaru, nhưng nếu cả hai người kia cũng tham chiến, thì tỉ lệ chiến thắng của Jahil sẽ giảm đi đáng kể. Trước khi điều đó xảy ra, hắn phải đánh bại Benimaru.

ジャヒルとしては、ベニマルにも違和感があったのだが、それは所有している剣のせいだろうと判断している。迷いを捨て、見出した活路に全力で飛びついたのだった。

Đối với Jahil, hắn cũng cảm thấy có điều gì đó kì lạ ở Benimaru, nhưng hắn cho rằng đó là do thanh kiếm mà cậu ta đang sở hữu. Gạt bỏ do dự, hắn dốc toàn lực vào con đường sống mà mình đã tìm thấy.

ジャヒルは両拳を燃やした。

Jahil đốt cháy cả hai nắm đấm.

大気に炎が燃え移らないので、燃えているという描写は正確ではない。しかしジャヒルの拳は超高熱を帯びて、真っ赤に輝いていた。燃え盛る炎を連想させるモノだったのだ。

Ngọn lửa không lan ra không khí, nên miêu tả là “đang cháy” không hoàn toàn chính xác. Tuy nhiên, nắm đấm của Jahil tỏa ra một nhiệt độ cực cao và phát sáng màu đỏ rực. Nó gợi lên hình ảnh của một ngọn lửa đang bùng cháy dữ dội.

そしてベニマルに向かって、ラッシュする。連続でパンチを放つと、それは触手となって分裂し、ベニマルを狙って降り注いだのだ。

Và rồi hắn lao vào tấn công Benimaru. Khi hắn tung ra những cú đấm liên tiếp, chúng biến thành những xúc tu phân tách và đổ xuống nhắm vào Benimaru.

けれど、ベニマルは動じない。

Nhưng Benimaru không hề nao núng.

スッと左足を前に出し、地面を滑るように前に出る。

Cậu ta nhẹ nhàng đưa chân trái ra trước, lướt đi trên mặt đất.

触手がベニマルに触れ──たハズが、すり抜けた。続々と降り注ぐ拳の雨も、その全てがベニマルに触れる事は叶わず、宙を穿ってしまったのだ。

Xúc tu chạm vào Benimaru... tưởng chừng là vậy, nhưng lại xuyên qua. Cơn mưa nắm đấm liên tục đổ xuống, nhưng không một đòn nào có thể chạm vào Benimaru, tất cả đều đánh vào không khí.

『き、貴様ァ、何をしたァ──ッ!?』

“Ng... Ngươi, ngươi đã làm gì...?”

『究極能力(アルティメットスキル)『陽炎之王(アマテラス)』──極意──『陽(よう)炎(えん)』さ。これは攻防一体の極意でね、その真価は、お前自身の身体に教えてやるさ。最後の餞(はなむけ)として、な』

“Kĩ năng Tối thượng “Dương Viêm Vương (Amaterasu)”... Cốt lõi... “Dương Viêm”. Đây là một cốt lõi công thủ nhất thể, giá trị thực sự của nó, ta sẽ cho chính cơ thể ngươi biết. Coi như là món quà tiễn biệt cuối cùng”

ベニマルの身体は、立ち上る陽炎(かげろう)の如く揺らめいていた。

Cơ thể của Benimaru lung lay như một làn hơi nóng bốc lên.

実体はあるのに、触れられない。触れられないが、ベニマルはそこに在(い)るのだ。

Có thực thể nhưng không thể chạm vào. Không thể chạm vào, nhưng Benimaru vẫn ở đó.

ph_slime23_ill008.jpg

ジャヒルが放った無数の触手が、触れる者を瞬時に蒸発させるほどの超高熱源と化してベニマルを襲ったのだが、それら全てが無駄だった。

Vô số xúc tu mà Jahil tung ra đã biến thành những nguồn nhiệt cực cao có thể làm bốc hơi bất cứ thứ gì chạm vào và tấn công Benimaru, nhưng tất cả đều vô ích.

そもそも、ベニマルには超高熱攻撃など通用しないのである。

Vốn dĩ, những đòn tấn công nhiệt độ cực cao không có tác dụng với Benimaru.

『何をォ──』

“Cái gì...”

『──〝朧(おぼろ)黒(こく)炎(えん)・百(ひゃっ)華(か)繚(りょう)乱(らん)〟──』

“... “Lung Hắc Viêm - Bách Hoa Liễu Loạn”...”

ベニマルは、ジャヒルを斬った。

Benimaru đã chém Jahil.

一瞬にして粉微塵となるほど、無数の斬撃でジャヒルを斬り刻んだのだ。

Chỉ trong nháy mắt, Jahil đã bị vô số nhát chém cắt thành từng mảnh nhỏ.

ジャヒルの細胞片に、黒い炎が纏わりつく。それは、万物を焼き尽くす『虚無』が変化した炎だ。

Những ngọn lửa đen bao bọc lấy các mảnh tế bào của Jahil. Đó là ngọn lửa biến đổi từ “Hư Vô” có thể thiêu rụi vạn vật.

ジャヒルの〝暗黒増殖喰(デヴァステイターウイルス)〟を纏った超高熱触手も危険極まりない攻撃だったが、ベニマルの〝朧黒炎〟はその上をいく。

Những xúc tu nhiệt độ cực cao được bao bọc bởi “Hắc Ám Sinh Sôi Nuốt Chửng (Devastator Virus)” của Jahil cũng là một đòn tấn công cực kì nguy hiểm, nhưng “Lung Hắc Viêm” của Benimaru còn ở một đẳng cấp cao hơn.

触れられず、消火も出来ず、全てを焼き尽くすまで消滅しない。そして今回、その炎に包まれたジャヒルはというと、想像を絶する苦痛の中で焼かれていった。

Không thể chạm vào, không thể dập tắt, và sẽ không biến mất cho đến khi thiêu rụi tất cả. Và lần này, Jahil bị bao bọc trong ngọn lửa đó đã bị thiêu đốt trong một nỗi đau không thể tưởng tượng được.

細胞の一(ひと)欠(か)けらにまで意思が宿っていた事が災いとなり、再生する細胞とそれを燃やし尽くそうとする〝朧黒炎〟のせめぎ合いを、最期の瞬間まで体験する事になってしまったのだった。

Việc ý chí tồn tại trong từng mảnh tế bào đã trở thành một tai họa, và hắn đã phải trải qua cuộc giằng co giữa các tế bào tái sinh và “Lung Hắc Viêm” cố gắng thiêu rụi chúng cho đến tận giây phút cuối cùng.

『意外と簡単に終わったな』

“Kết thúc dễ dàng hơn mình nghĩ nhỉ”

相性が良かったと、ベニマルが笑う。

Do khắc chế tốt, Benimaru cười.

『見事だ、ベニマル殿』

“Tuyệt vời, Benimaru-dono”

『やれやれ、やはり出番がなくなりましたよ』

“Haizz, quả nhiên là không còn lượt của tôi nữa rồi”

心から称えるゼギオンに対し、ディアブロは残念そうだ。

Đối với lời khen ngợi chân thành của Zegion, Diablo lại có vẻ tiếc nuối.

ベニマルは苦笑する。

Benimaru cười gượng.

『ディアブロは好きに暴れているんだろ? 俺なんて、最近は指揮ばかりだったからな。たまには全力で戦わせてくれよ』

“Diablo chẳng phải đã được quậy tưng bừng rồi sao? Tôi thì gần đây toàn chỉ huy thôi. Thỉnh thoảng cũng phải để tôi chiến đấu hết sức chứ”

『わかっていますとも。その身体にも問題なく馴染んでいるようですし、私が譲るべき意義のある戦いだったと思いますよ』

“Tôi hiểu mà. Có vẻ như ngài cũng đã quen với cơ thể đó một cách ổn thỏa, và tôi nghĩ đây là một trận chiến có ý nghĩa để tôi nhường lại”

そう答えたディアブロも、ベニマルに任せて正解だと思ってはいたのだ。良きライバル関係にあるからこそ、ベニマルの成長が嬉しくもあり、悔しくもあった。

Diablo trả lời như vậy, nhưng anh ta cũng nghĩ rằng việc giao cho Benimaru là đúng đắn. Chính vì là đối thủ tốt của nhau, nên sự trưởng thành của Benimaru vừa khiến anh ta vui mừng, vừa có chút cay đắng.

ベニマル、ディアブロ、ゼギオン──リムル配下の中でも、最強を競う三名である。その関係性は、これからもずっと続くのだった。

Benimaru, Diablo, Zegion... trong số các thuộc hạ của Rimuru, họ là ba người cạnh tranh ngôi vị mạnh nhất. Mối quan hệ đó sẽ còn tiếp tục mãi mãi.

そんなベニマル達を見て、溜息を吐く者達がいた。

Nhìn thấy nhóm Benimaru, có những người đã thở dài.

『あらあら、ベニマルと言ったかしら? お兄様の剣を手にしたら、私とも互角以上に戦えそうね』

“Ara ara, có phải là Benimaru không nhỉ? Nếu có được thanh kiếm của anh trai, có vẻ như cậu ta có thể chiến đấu ngang ngửa hoặc hơn cả ta đấy”

蒼い髪をかきあげるようにして、ヴェルグリンドがそう嘆いた。

Vén mái tóc xanh của mình, Verugrynd than thở.

半分は謙遜だが、半分は本気である。

Một nửa là khiêm tốn, nhưng một nửa là thật lòng.

ベニマルの成長ぶりは異常で、半ば〝竜種〟と化していた。

Sự trưởng thành của Benimaru thật phi thường, cậu ta đã gần như hóa thành “Long chủng”.

リムルが何かしたのだろうなと察したヴェルグリンドは、本気のベニマルと戦ったらどうなるのだろうと、少しばかり真面目に検討してみたのである。

Verugrynd đoán rằng Rimuru đã làm gì đó, và cô đã nghiêm túc suy nghĩ một chút về việc nếu chiến đấu với Benimaru hết sức thì sẽ ra sao.

それは、悩ましい設問だった。

Đó là một câu hỏi khó nghĩ.

勝てるかも知れないし、負けるかも知れない。

Có thể thắng, cũng có thể thua.

つまり、ほぼ互角という結論であった。

Nói cách khác, kết luận là gần như ngang sức.

ベニマルが〝繁栄(アルタ)〟を手にしていなければ、ヴェルグリンドが勝利する。それは間違いないのだが、武器があれば強さが並ばれるというのは、ヴェルグリンドからすればショックであった。

Nếu Benimaru không có “Phồn Vinh (Alta)” trong tay, Verugrynd sẽ thắng. Điều đó không có gì phải bàn cãi, nhưng việc có vũ khí là có thể ngang sức với cô, đối với Verugrynd, đó là một cú sốc.

『フッ、お前はそのままでいいのさ。何故ならば〝グリュン〟──お前の剣は、この俺なのだからな』

“Hừ, em cứ như vậy là được rồi. Bởi vì “Gryun”... thanh kiếm của em, chính là ta đây mà”

そんなふうに、惚れた女をナチュラルに口説くルドラであったが、宿主であるマサユキにもその〝声〟は筒抜けなのだ。ルドラが顕現しているお陰か、〝停止世界〟をちゃんと認識出来ていたのである。

Rudra tán tỉnh người phụ nữ mình yêu một cách tự nhiên như vậy, nhưng “giọng nói” đó cũng lọt vào tai của vật chủ là Masayuki. Có lẽ nhờ Rudra đang hiện diện, nên cậu ta cũng có thể nhận thức được “Thế Giới Ngưng Đọng” một cách rõ ràng.

だからこそ、只今絶賛羞恥していた。

Chính vì vậy, cậu đang vô cùng xấu hổ.

『まあ♡ ルドラ!!』

“Ôi♡ Rudra!!”

ヴェルグリンドが嬉しそうなのも、マサユキを悶絶させている要因の一つである。

Việc Verugrynd trông có vẻ vui mừng cũng là một trong những nguyên nhân khiến Masayuki quằn quại.

(もうやめて、もう止めてぇ──っ!! これ、後で絶対に僕がからかわれるヤツぅ──ッ!!)

(Đừng nữa, dừng lại đi!! Chuyện này, sau này chắc chắn mình sẽ bị trêu chọc cho xem!!)

内心でそう絶叫するも、誰の心にも届かない。

Dù gào thét trong lòng như vậy, nhưng không ai nghe thấy.

(大体さ、イチャイチャしている場合じゃないだろ!? そこにいるコルヌを殺すとか言って憤ってたのに、もうなかった事になってるの?)

(Mà này, đây đâu phải lúc để tình tứ chứ!? Mới nãy còn tức giận nói sẽ giết Cornu ở kia, giờ đã coi như không có chuyện gì rồi sao?)

いい加減だな──と、マサユキは思った。

Thật là tùy tiện... Masayuki nghĩ.

まあ、ヴェルグリンド自身が無頓着っぽかったので、ルドラの怒りも持続しなかったのだろうが、それにしても放置し過ぎである。

Mà, bản thân Verugrynd cũng có vẻ không quan tâm lắm, nên cơn giận của Rudra chắc cũng không kéo dài, nhưng dù vậy thì cũng bỏ mặc quá rồi.

フェルドウェイ達が参戦してきて、どうやらコルヌの説得を始めたらしいのを見て、戦う気が失せたのだろうけど、それならそれで、決着はキチンとして欲しいというのが、マサユキの意見であった。

Thấy nhóm Feldway tham chiến và có vẻ như đã bắt đầu thuyết phục Cornu, có lẽ ông ta đã mất hứng chiến đấu, nhưng nếu vậy thì cũng phải giải quyết dứt điểm, đó là ý kiến của Masayuki.

要は、イチャイチャせずに後始末をちゃんとしろ、という話なのである。

Nói tóm lại, là đừng có tình tứ nữa mà hãy dọn dẹp cho xong đi.

とは言え、ルドラがコルヌに興味を失くした理由もわかるのだ。

Tuy nhiên, cậu cũng hiểu lí do tại sao Rudra lại mất hứng thú với Cornu.

(コルヌって人も、悪い人なんだけど、悪い人じゃないって言うか……)

(Cái người tên Cornu này, dù là người xấu, nhưng lại không hẳn là người xấu...)

いや、悪い人なのだが──余りにも常識知らずな面が見えて、これはコルヌの仲間、フェルドウェイ達の教育が悪い、という事情が見え隠れしていた。

Không, là người xấu đấy... nhưng lại để lộ ra những mặt quá thiếu hiểu biết, và ẩn sau đó là lí do việc giáo dục của đồng đội Cornu, nhóm Feldway, không được tốt.

心底の悪人ならともかく、例えるなら子供がイキッているだけ、というか。直ぐにピキッているのも小者っぽくて、逆に憎めない感じに見えてしまっていた。

Nếu là một kẻ xấu xa từ trong tâm, thì không nói, nhưng ví như một đứa trẻ đang ra vẻ ta đây vậy. Việc dễ dàng nổi nóng cũng trông rất tiểu nhân, và ngược lại lại khiến hắn trông có vẻ không đáng ghét.

(まあさ、僕の場合は迷惑をかけられないから、そんなふうに高みの見物が出来るんだけどさ……)

(Mà, trường hợp của mình thì không bị làm phiền, nên mới có thể đứng xem như vậy...)

それでも、様子見かな、と思うマサユキなのだった。

Dù vậy, Masayuki vẫn nghĩ nên quan sát thêm một chút.

そんなコルヌだが、今は驚き過ぎて言葉もなく、ベニマル達を目で追っていた。

Còn Cornu, lúc này hắn quá kinh ngạc đến nỗi không nói nên lời, chỉ biết dõi theo nhóm của Benimaru.

コルヌが意識を失っていたのは、ほんの僅かな間だった。

Cornu chỉ bất tỉnh trong một khoảnh khắc rất ngắn.

故に、目を開けた瞬間には、ベニマルがジャヒルにトドメを刺していたのだ。

Vì vậy, ngay khi hắn mở mắt ra, Benimaru đã kết liễu Jahil.

ジャヒルがバラバラになったのは、コルヌにも意味不明だった。

Việc Jahil bị tan thành từng mảnh, Cornu cũng không hiểu được.

ベニマルの剣筋を、目で追えなかったのである。

Hắn không thể theo kịp đường kiếm của Benimaru bằng mắt.

『……いや、本当に何なんだ、アイツは?』

“... Không, tên đó rốt cuộc là cái gì vậy?”

ようやくコイツも現実を理解したか──と、フェルドウェイは思った。

Cuối cùng thì tên này cũng hiểu ra thực tế rồi sao... Feldway nghĩ.

『我らが貴様を諭していた理由が、ようやく理解出来ただろう?』

“Ngươi cuối cùng cũng hiểu lí do tại sao bọn ta lại khuyên răn ngươi rồi chứ?”

フェルドウェイからしても、ジャヒルは憎むべき敵だった。

Đối với Feldway, Jahil cũng là một kẻ thù đáng ghét.

フェルドウェイが心を許しかけていたヴェガが、せっかく生き返ったというのに、再び言葉を交わす事もなく殺されてしまった。救いは〝死〟にしかなかったとはいえ、それはジャヒルの所業が原因である。

Vega, người mà Feldway đã gần như tin tưởng, vừa mới được hồi sinh, lại bị giết chết mà không kịp nói một lời nào. Dù cho sự cứu rỗi duy nhất là “cái chết”, nhưng nguyên nhân của nó là do hành động của Jahil.

コルヌの説得を後回しにしてヴェガに協力していたら、もしかすると運命も変わっていたかも知れない。しかしフェルドウェイにとっては、コルヌも大切な仲間だったのだ。

Nếu anh ta hoãn việc thuyết phục Cornu lại để giúp Vega, có lẽ vận mệnh đã khác. Nhưng đối với Feldway, Cornu cũng là một đồng đội quan trọng.

『今までの私は、少しばかり自己中心的過ぎた──』

“Ta từ trước đến nay, có hơi quá ích kỉ...”

『少し?』

“Hơi thôi à?”

『おいおい、自分の事を脳内で美化するのは止めておけ』

“Này này, đừng có tự tô vẽ bản thân trong đầu nữa”

外野──オベーラとザラリオ──が煩(うるさ)いが、フェルドウェイは完全無視だ。

Những người ngoài cuộc... Obera và Zalario... thật ồn ào, nhưng Feldway hoàn toàn lờ đi.

『──だからこそ、これからは仲間を大切にすると誓おう!』

“... Chính vì vậy, từ nay về sau ta thề sẽ trân trọng đồng đội!”

『フェルドウェイ様!!』

“Ngài Feldway!!”

『私について来てくれるか、コルヌ?』

“Ngươi có đi theo ta không, Cornu?”

『勿論です。俺で良ければ、喜んで!!』

“Tất nhiên rồi. Nếu là tôi thì, rất sẵn lòng!!”

フェルドウェイの説得は成功した。

Việc thuyết phục của Feldway đã thành công.

コルヌはヴェルグリンド達への遺恨を捨てて、和解する事となる。

Cornu sẽ từ bỏ mối thù với nhóm Verugrynd và hòa giải.

というか、ここで従わなければベニマル達も敵に回りそうだという損得勘定も働いて、正しい判断が出来たのだ。

Hay đúng hơn là, nếu không tuân theo ở đây, nhóm của Benimaru cũng có thể sẽ trở thành kẻ thù, sự tính toán lợi hại đó đã giúp hắn đưa ra quyết định đúng đắn.

オベーラとザラリオはもう何も言わず、それを生暖かい目で見守ったのだった。

Obera và Zalario không nói gì nữa, chỉ im lặng theo dõi với một ánh mắt ấm áp.

そして舞台は、決戦の場所へと戻る。

Và rồi sân khấu quay trở lại nơi quyết chiến.

ヴェルダナーヴァは、困惑していた。

Verudanava đang bối rối.

そのせいか、状況分析にも手間取っている。

Vì thế mà việc phân tích tình hình cũng gặp khó khăn.

それも仕方のない話で、最愛のルシアが黄(よ)泉(み)帰(がえ)ったと思った瞬間に、折り悪しくイヴァラージェが活動を再開したからだ。

Đó cũng là điều dễ hiểu, bởi vì ngay lúc hắn nghĩ rằng Lucia yêu quý của mình đã trở về từ cõi chết, thì Ivalage lại hoạt động trở lại vào một thời điểm không thích hợp.

しかも、イヴァラージェの狙いはヴェルダナーヴァだった。

Hơn nữa, mục tiêu của Ivalage chính là Verudanava.

否。

Không.

ヴェルダナーヴァが大事に抱え込んでいるルシアの〝魂〟に向かって、イヴァラージェが狙いを定めていたのである。

Ivalage đang nhắm vào “linh hồn” của Lucia mà Verudanava đang ôm chặt trong lòng.

『きゃはははは♪ 愛って素敵! 一つになろう? そしたら、幸せ。みんな、幸せ♪』

“Kyahahahaha♪ Tình yêu thật tuyệt vời! Chúng ta hãy hợp làm một đi? Nếu vậy, sẽ hạnh phúc. Mọi người, đều hạnh phúc♪”

イヴァラージェは醜悪だった。

Ivalage thật gớm ghiếc.

ルシアの外見をしていても、内面が悍(おぞ)ましい。

Dù có ngoại hình của Lucia, nhưng nội tâm lại kinh tởm.

(違う。こんなハズじゃなかった……ボクの愛したルシアは……)

(Không. Không thể như thế này được... Lucia mà ta yêu...)

ルシアの欠片を寄せ集めて、一つの形に練り上げたとしても、それは完全なる本物とは言い難い。

Dù có gom góp những mảnh vỡ của Lucia và nhào nặn thành một hình dạng, cũng khó có thể nói đó là một bản thể hoàn chỉnh.

ここに至ってようやく、ヴェルダナーヴァも自身の過ちに気付いたのである。

Đến lúc này, Verudanava cuối cùng cũng nhận ra sai lầm của mình.

<<愚かね、ヴェルダ。でも、アナタを狂わせた原因は私。私が死んだから、アナタを惑わせてしまったのね>>

<<Thật ngu ngốc, Veruda. Nhưng, nguyên nhân khiến chàng hóa điên là do em. Vì em đã chết, nên đã làm chàng mê muội phải không>>

違う、君は何も悪くない──と、ヴェルダナーヴァは叫びたかった。

Không phải, nàng không có lỗi gì cả... Verudanava muốn hét lên như vậy.

悪いのは自分で、ルシアではないのだ、と。

Lỗi là ở hắn, không phải ở Lucia.

しかし、そんな余裕は残されていなかった。

Tuy nhiên, hắn không còn thời gian để làm điều đó.

もう直ぐそこまで、イヴァラージェが接近していたのである。

Ivalage đã đến rất gần rồi.

イヴァラージェの手には、〝記憶(メモリー)〟がある。その代わりに、ヴェルダナーヴァは〝慈愛(カーマ)〟を手にしていた。

Trong tay Ivalage là “Kí ức (Memory)”. Thay vào đó, Verudanava lại có trong tay “Từ ái (Karma)”.

イヴァラージェは愛を奪おうとするかのように、ヴェルダナーヴァに斬りかかってきた。

Ivalage lao vào chém Verudanava như thể muốn cướp đi tình yêu.

殺して喰らって、再び一つになろうとしているのだ。

Nó định giết và ăn thịt để một lần nữa hợp làm một.

それは決して悪ではない。

Đó không phải là hành động xấu xa.

イヴァラージェにとっては、正義の行為である。

Đối với Ivalage, đó là một hành động chính nghĩa.

ヴェルダナーヴァにとっても、それは世界の摂理であり、真理だった。

Đối với Verudanava, đó cũng là quy luật và chân lí của thế giới.

………

.........

……

......

...

世界は残酷だが、全てを与えてくれる。

Thế giới thật tàn khốc, nhưng cũng ban cho tất cả.

それが、ヴェルダナーヴァの創造した世界だ。

Đó là thế giới mà Verudanava đã tạo ra.

ヴェルダナーヴァは、〝全なる一〟──その孤独に耐えかねた。

Verudanava, “Một thể thống nhất”... không thể chịu đựng được sự cô đơn đó.

だからこそ、退屈を紛らわせる為に世界を生み出した。その過程で、ヴェルダナーヴァと根源を同一とする妹弟達──〝竜種〟が誕生する。

Chính vì vậy, hắn đã tạo ra thế giới để xua tan sự nhàm chán. Trong quá trình đó, những người anh em cùng chung nguồn gốc với Verudanava... “Long chủng”... đã ra đời.

〝竜種〟が四体となった事で、混沌としていた世界が安定した。秩序が整ったのだ。

Khi có bốn “Long chủng”, thế giới hỗn loạn đã trở nên ổn định. Trật tự đã được thiết lập.

これを管理する者として生み出したのが、〝始原の七天使〟である。安定した世界に法則が定められ、基軸世界が確固たるものとなっていく。

Kẻ được tạo ra để quản lí điều này chính là “Thất Thiên sứ Nguyên thủy”. Trong thế giới ổn định, các quy luật được định ra, và thế giới cốt lõi trở nên vững chắc.

孤独ではなくなったヴェルダナーヴァだったが、それでもまだ、心の空白を埋める事は出来なかった。捨ててしまった『万能』の代わりとなるには、世界は未熟過ぎたのだ。

Verudanava không còn cô đơn nữa, nhưng vẫn không thể lấp đầy khoảng trống trong lòng. Để thay thế cho “Vạn năng” đã bị vứt bỏ, thế giới vẫn còn quá non nớt.

ヴェルダナーヴァは忍耐強く待った。

Verudanava đã kiên nhẫn chờ đợi.

ゆるやかに世界は変貌していく。

Thế giới dần dần thay đổi.

大いなる力の化身として土着の神々が誕生していく中、神祖──ルミナス・トワイライト・バレンタインが誕生する。

Trong khi các vị thần bản địa ra đời với tư cách là hóa thân của sức mạnh vĩ đại, Thần tổ... Luminous Twilight Valentine... đã được sinh ra.

神祖の登場によって、世界は革新を迎えた。

Sự xuất hiện của Thần tổ đã mang lại một cuộc cách mạng cho thế giới.

世界に満ちた生命から、知的生命体が誕生したのだ。

Từ sự sống tràn ngập thế giới, các sinh vật có trí tuệ đã ra đời.

そして──

Và rồi...

長き時を経て遂に、自由に行動して自由に意思を主張する存在として、〝魂〟の受け皿となる人類が誕生したのである。

Sau một thời gian dài, cuối cùng, với tư cách là những tồn tại có thể tự do hành động và tự do bày tỏ ý chí, nhân loại, vật chứa của “linh hồn”, đã ra đời.

ヴェルダナーヴァは歓喜した。

Verudanava vui mừng khôn xiết.

虚無の世界に退屈していたヴェルダナーヴァにとって、生命の活動を見るだけでも楽しいものだった。人間という生き物の活動は感動的ですらあり、ヴェルダナーヴァは世界の一員となる事を夢見るほどだった。

Đối với Verudanava, người đã chán ngán thế giới hư vô, chỉ cần nhìn thấy hoạt động của sự sống cũng đã là một điều thú vị. Hoạt động của loài người thậm chí còn mang lại cảm giác xúc động, đến mức Verudanava đã mơ ước trở thành một phần của thế giới.

しかし、問題もあった。

Tuy nhiên, cũng có vấn đề.

知性を獲得した人間達は、互いに刺激し合い予想も出来ない行動を取る。それを放置してしまえば、直ぐに相争い自滅への道を歩み始めてしまうのだ。

Những con người có được trí tuệ đã kích thích lẫn nhau và có những hành động không thể lường trước được. Nếu để mặc họ, họ sẽ sớm bắt đầu tranh giành và bước đi trên con đường tự diệt.

基軸世界から派生して幾つかの世界が生まれていたが、その全てで似通った傾向が確認出来ていた。

Từ thế giới cốt lõi, một vài thế giới khác đã được sinh ra, và ở tất cả chúng đều có thể thấy được những xu hướng tương tự.

それは、感情が原因である。

Nguyên nhân là do cảm xúc.

知恵と欲望、喜怒哀楽を与えたのは、人をより大きく発展させる為に必要だと考えたからだ。それなのに、過度に大きくなりすぎた感情は、他者の主張を排除する傾向にあった。

Việc ban cho trí tuệ và dục vọng, hỉ nộ ái ố, là vì hắn nghĩ rằng điều đó cần thiết để con người phát triển hơn nữa. Thế nhưng, những cảm xúc trở nên quá lớn lại có xu hướng loại bỏ những lập luận của người khác.

主義主張、自分が正しいと考える定義が異なれば、諍(いさか)いが生じた。

Nếu các chủ trương và định nghĩa về điều mình cho là đúng khác nhau, xung đột sẽ nảy sinh.

理性的に話し合うよりも、怒りのままに自己の正当性のみを訴え、ぶつかり合う事例の方が多かった。

Những trường hợp chỉ biết la hét về sự chính đáng của bản thân theo cơn giận dữ và đối đầu nhau nhiều hơn là những cuộc nói chuyện lí trí.

何故ならば、根源となる主張が当人達にとって、絶対に譲れぬ正義だった為だ。

Bởi vì đối với họ, lập luận gốc rễ chính là công lí tuyệt đối không thể nhượng bộ.

ヴェルダナーヴァは考えた。

Verudanava đã suy nghĩ.

こうした現象はある程度の必要悪と割り切り、魂の修練場として世界の有り方を容認しよう、と。

Hắn quyết định chấp nhận những hiện tượng này như một cái ác cần thiết ở một mức độ nào đó, và chấp nhận sự tồn tại của thế giới như một nơi rèn luyện linh hồn.

人を完全に管理してしまえば、争いはなくなるだろう。

Nếu quản lí con người một cách hoàn toàn, chiến tranh sẽ không còn nữa.

しかしそれでは、個々の感情が起伏する事もなくなり、平等で公平であろうとも自由意志の存在しない、刺激の存在しない世界(ディストピア)となってしまう。

Nhưng nếu vậy, cảm xúc của mỗi cá nhân sẽ không còn thăng trầm, và dù có bình đẳng và công bằng, thế giới sẽ trở thành một nơi không có ý chí tự do, không có sự kích thích (dystopia).

それでは孤独だった頃と、似たようなもので……。

Như vậy thì cũng giống như khi còn cô đơn...

そんな世界は、ヴェルダナーヴァの望むものではなかったのだ。

Một thế giới như vậy không phải là điều Verudanava mong muốn.

それから何度も調整を繰り返し、人類が望むべき姿になるように発展させようと試みた。

Sau đó, hắn đã lặp đi lặp lại việc điều chỉnh và cố gắng phát triển nhân loại theo hướng mà họ nên có.

数多(あまた)の他次元並列世界にて条件を細かく変更して、異なる進化を遂げさせたのだ。

Ở vô số thế giới song song ở các chiều không gian khác, hắn đã thay đổi các điều kiện một cách chi tiết để tạo ra những sự tiến hóa khác nhau.

それに協力したのが、ギィ達である。

Người đã hợp tác với hắn chính là nhóm của Guy.

光があれば影が生じるように、〝始原の七天使〟に対応して生まれたのが〝原初の七悪魔〟だ。ギィは、その筆頭にして最強の存在だった。

Như ánh sáng tạo ra bóng tối, “Thất trụ Nguyên sơ” đã được sinh ra để đối ứng với “Thất Thiên sứ Nguyên thủy”. Guy là người đứng đầu và là tồn tại mạnh nhất trong số đó.

ヴェルダナーヴァが直接生み出した存在ではないので、原初達に命令する事は出来ない。ギィが手伝ってくれたのは、ヴェルダナーヴァと友誼を結んだからだった。

Vì không phải là tồn tại do Verudanava trực tiếp tạo ra, nên hắn không thể ra lệnh cho các Nguyên sơ. Guy đã giúp đỡ vì đã kết bạn với Verudanava.

ギィだけではなく、ヴェルダナーヴァには他にも協力者がいた。

Không chỉ có Guy, Verudanava còn có những người hợp tác khác.

ダグリュールやラミリスといった、自然発生した神々だ。

Đó là những vị thần tự nhiên như Dagruel và Lamrys.

そうした土着の神々を参考にして、神祖ルミナス・トワイライト・バレンタインを誕生させた。肉体を有する新たな生命体として生み出したのだが、その有能な頭脳を駆使してヴェルダナーヴァを手助けしてくれる事となる。

Dựa trên những vị thần bản địa đó, hắn đã tạo ra Thần tổ Luminous Twilight Valentine. Hắn đã tạo ra cô với tư cách là một sinh vật mới có cơ thể, và cô đã dùng trí tuệ ưu tú của mình để giúp đỡ Verudanava.

彼等の協力も得て、遂に理想的な環境が完成した。全ての次元を〝魂〟が循環するように、永劫回帰するシステムが構築されたのである。

Với sự hợp tác của họ, cuối cùng một môi trường lí tưởng đã được hoàn thành. Một hệ thống Vĩnh kiếp hồi quy đã được xây dựng để “linh hồn” có thể tuần hoàn qua tất cả các chiều không gian.

──こうして各世界は、多種多様に発展していく事になる──

... Cứ như vậy, mỗi thế giới đã phát triển theo những cách đa dạng khác nhau...

全ての物事が上手く働き始めた時、運命の輪が大きく廻った。

Khi mọi thứ bắt đầu hoạt động trôi chảy, bánh xe vận mệnh đã quay một vòng lớn.

ルシアと出会い、ヴェルダナーヴァは愛を知る。

Gặp gỡ Lucia, Verudanava đã biết đến tình yêu.

そして二人は愛し合い、ルシアにミリムが宿った。

Và rồi hai người yêu nhau, và Millim đã được thụ thai trong bụng Lucia.

ミリムが誕生すると同時に、ヴェルダナーヴァは全ての力を失った。

Đồng thời với việc Millim ra đời, Verudanava đã mất đi toàn bộ sức mạnh.

しかし、そんな事実など些事だった。

Tuy nhiên, sự thật đó chỉ là chuyện nhỏ.

結局のところ、ヴェルダナーヴァはこの世界を愛していたし、娘であるミリムが無事に、健やかに成長する事を望んだ。全ての生命体にそうあるべきと定めたように、自分の娘であるミリムが〝親超え〟してくれるのを願っていたのだ。

Suy cho cùng, Verudanava yêu thế giới này, và mong muốn con gái mình là Millim được lớn lên bình an và khỏe mạnh. Giống như đã định ra cho tất cả các sinh vật, hắn cũng mong muốn con gái mình là Millim sẽ “vượt qua cha mẹ”.

故に、全ての権能が失われようとも、ヴェルダナーヴァは困らなかった。

Vì vậy, dù có mất đi tất cả quyền năng, Verudanava cũng không hề bối rối.

何の問題もない──ハズだったのだ。

Không có vấn đề gì... đáng lẽ là vậy.

全ての力を失い、只人となった神たる存在を討伐し、神殺しを達成したと誇るような下劣な愚者がいるなどと、ヴェルダナーヴァには想像の埒外だった。

Việc có những kẻ ngu xuẩn hèn hạ đến mức tự hào vì đã đánh bại một vị thần mất hết sức mạnh và trở thành một người bình thường, và đạt được thành tích giết thần, là điều nằm ngoài sức tưởng tượng của Verudanava.

解釈違いも甚だしいが、全ての思考の自由を許した責任はヴェルダナーヴァにあった。

Dù là một sự hiểu lầm nghiêm trọng, nhưng trách nhiệm cho việc cho phép mọi suy nghĩ tự do là của Verudanava.

そしてその凶刃が、愛するルシアにまで及ぶに至って──ヴェルダナーヴァにも迷いが生じる。

Và khi lưỡi dao độc ác đó chạm đến cả Lucia yêu quý của hắn... Verudanava cũng bắt đầu do dự.

果たして、自分は正しかったのだろうか? ──と。

Liệu rằng, mình đã đúng hay chưa? ...

………

.........

……

......

...

ヴェルダナーヴァが消えた事で、世界は秩序を失うかに見えた。しかし、ギィを筆頭とする調停者達の努力によって、辛うじてマシな状態を維持していた。

Với sự biến mất của Verudanava, thế giới dường như đã mất đi trật tự. Tuy nhiên, nhờ nỗ lực của các Điều phối viên đứng đầu là Guy, tình hình đã được duy trì ở một trạng thái tạm ổn.

神が人に討たれるなど、有り得ない話だ。

Thần bị người đánh bại, đó là một chuyện không thể xảy ra.

或いはそれは、世界の強制力によるものだったのかも知れない。

Hoặc có lẽ đó là do sức mạnh cưỡng chế của thế giới.

システムの性質上、神の愛は平等に注がれなければならない。

Do bản chất của hệ thống, tình yêu của thần phải được ban phát một cách bình đẳng.

それなのに、ヴェルダナーヴァが特定の個人を愛した事により、エラーが生じた可能性だ。

Thế nhưng, việc Verudanava yêu một cá nhân cụ thể có thể đã gây ra một lỗi.

神の弱体化がその証左であり、神に迷いが生じた原因でもある。

Sự suy yếu của thần là bằng chứng cho điều đó, và cũng là nguyên nhân khiến thần do dự.

ならば、誰も愛さなければいいという話になるが、それでは意味がないというのが、ヴェルダナーヴァの迷える思考であった。

Nếu vậy, thì chỉ cần không yêu ai là được, nhưng nếu thế thì lại không có ý nghĩa gì, đó là suy nghĩ mâu thuẫn của Verudanava.

構築されたシステムが、ルシアの存在を害悪だと断じた。それ故に、強制力という名の反動が生じて、ヴェルダナーヴァとルシアを排除したのならば──世界をゼロに戻して、再構築する必要があった。

Nếu hệ thống đã được xây dựng kết luận rằng sự tồn tại của Lucia là một điều có hại, và vì thế đã gây ra một phản ứng mang tên sức mạnh cưỡng chế để loại bỏ Verudanava và Lucia... thì cần phải đưa thế giới trở về con số không và tái cấu trúc lại.

それこそがヴェルダナーヴァの下した結論だったのだが、どうやらその考えは、根本から間違っていたのかも知れなかった。

Đó chính là kết luận mà Verudanava đã đưa ra, nhưng có vẻ như suy nghĩ đó đã sai lầm ngay từ gốc rễ.

『きゃは♪』

“Kya ha♪”

邪悪な笑顔は、純粋な悪意に満ちていた。

Nụ cười tà ác tràn ngập ác ý thuần túy.

その行為は悪ではないが、他者に一切慮(おもんぱか)る事はない、究極なまでの自己中(ワガママ)だ。

Hành động đó không phải là ác, nhưng nó là sự ích kỉ đến cùng cực, hoàn toàn không quan tâm đến người khác.

ヴェルダナーヴァは、それを許容していた。

Verudanava đã chấp nhận điều đó.

その結果が今の状況なので、自業自得だと言える。

Kết quả của nó là tình hình hiện tại, có thể nói là gieo gió gặt bão.

剣が交差する。

Kiếm giao nhau.

その瞬間、イヴァラージェが嗤った。

Ngay lúc đó, Ivalage cười khẩy.

『私が愛してアゲルね。ずっと一緒。ずっとずっと一緒♪』

“Ta sẽ yêu ngươi. Mãi mãi bên nhau. Mãi mãi mãi mãi bên nhau♪”

『君は何を言って──あっ』

“Ngươi đang nói gì...”

イヴァラージェから広がったのは、底なしの『虚無』だった。イヴァラージェはギィとの戦闘で、恐るべき『魂暴喰』を学習し、我が物としていたのである。

Thứ lan tỏa từ Ivalage là một “Hư Vô” không đáy. Ivalage đã học được “Cắn Nuốt Linh Hồn” đáng sợ trong trận chiến với Guy và biến nó thành của mình.

欲望が、ヴェルダナーヴァに纏わりつく。

Dục vọng quấn lấy Verudanava.

それらは物質的な虚体を備えて、一度抱き着いたら離れないのだ。

Chúng có một cơ thể hư ảo vật chất, và một khi đã ôm lấy thì sẽ không buông ra.

『好き。大好き。愛するって、こういう感じ♪』

“Thích. Rất thích. Yêu là cảm giác như thế này♪”

ヴェルダナーヴァは呑まれていく。

Verudanava đang bị nuốt chửng.

ドロドロの欲望に搦(から)めとられて、脱出は叶わない。

Bị cuốn vào những dục vọng nhớp nháp, không thể thoát ra được.

イヴァラージェから離れようとするヴェルダナーヴァだったが、それが不可能なのも理解していた。

Verudanava cố gắng thoát khỏi Ivalage, nhưng hắn cũng hiểu rằng điều đó là không thể.

これは、単なる『吸収』ではない。最初は一つだったものが、再び元に戻ろうとする強制力なのだ。

Đây không chỉ đơn thuần là “Hấp Thụ”. Mà là một sức mạnh cưỡng chế, khiến thứ vốn là một quay trở lại với nhau.

これはもう逃れられないと、ヴェルダナーヴァは悟っていた。

Không thể thoát khỏi được nữa, Verudanava đã nhận ra điều đó.

せっかくルシアと再会出来たのに──と、どんなに悔しく思っても手立てはないのだ。

Dù có tiếc nuối đến đâu khi vừa mới được gặp lại Lucia... cũng không còn cách nào khác.

<<大丈夫よ、ヴェルダ。アナタは、一人ではないから>>

<<Không sao đâu, Veruda. Vì chàng không hề đơn độc>>

ああ、また君を巻き込んでしまったんだね。

A, ta lại kéo nàng vào chuyện này rồi.

<<うふふ、構わないわ。ミリムの成長した姿も見られたのだし、もう思い残す事はないもの>>

<<Ufufu, không sao đâu. Em đã được thấy Millim trưởng thành rồi, nên không còn gì hối tiếc nữa>>

次代に繋げるという役目を果たして満足だと、そう言ってルシアは笑った。

Nói rằng mình đã hoàn thành vai trò kết nối với thế hệ tiếp theo và cảm thấy mãn nguyện, Lucia cười.

それを聞いても憂うヴェルダナーヴァを宥めるように、ルシアは優しく告げるのだ。

Như để xoa dịu Verudanava vẫn còn ưu phiền khi nghe điều đó, Lucia nhẹ nhàng nói.

<<ココロとは、ウツロウモノなの。それでもね、私はアナタを愛していたし、今も愛しているの。その気持ちは永遠に変わらないわ。何度生まれ変わったって、きっと──>>

<<Trái tim là một thứ hay thay đổi. Dù vậy, em đã yêu chàng, và bây giờ vẫn yêu chàng. Tình cảm đó sẽ không bao giờ thay đổi. Dù có tái sinh bao nhiêu lần đi nữa, chắc chắn...>>

ああ、そうだね──と、ヴェルダナーヴァは答える。

A, đúng vậy... Verudanava trả lời.

それはボクだって同じさ、と。

Ta cũng vậy.

ルシアがいるだけで、満たされた気分になった。

Chỉ cần có Lucia ở bên, hắn đã cảm thấy mãn nguyện.

それが、愛。

Đó là tình yêu.

そしてその結晶が、ミリムだ。

Và kết tinh của nó chính là Millim.

どうしてボクは、それを忘れていたんだろう。とても大切な事だったのに──と、ヴェルダナーヴァは不思議な気分になる。

Tại sao ta lại quên đi điều đó? Một điều quan trọng như vậy... Verudanava cảm thấy thật kì lạ.

とてもとても大事なミリムを、蔑(ないがし)ろにしてしまっていた。

Hắn đã bỏ mặc Millim vô cùng, vô cùng quan trọng.

自分の行為が信じられないが、それは覆しようもない現実なのだ。

Hắn không thể tin vào hành động của chính mình, nhưng đó là một thực tế không thể thay đổi.

おかしくなっていたとしか思えないが、今更正気に戻っても手遅れであろう。

Chỉ có thể nghĩ rằng mình đã không bình thường, nhưng bây giờ dù có tỉnh táo lại cũng đã quá muộn.

その天罰として、今があるのだ。

Và hình phạt cho điều đó chính là hiện tại.

(これもまた、強制力なのかも知れないな)

(Đây có lẽ cũng là sức mạnh cưỡng chế)

ヴェルダナーヴァはそう思い、自業自得だったのだと自嘲した。

Verudanava nghĩ vậy và tự giễu rằng đó là hậu quả do chính mình gây ra.

孤独を嫌ってワガママを貫いた結果、自分が生み出した数多の〝世界〟に迷惑をかけて、全てを滅ぼす元凶となってしまった。

Kết quả của việc ghét bỏ sự cô đơn và theo đuổi sự ích kỉ, hắn đã gây phiền toái cho vô số “Thế giới” mà mình đã tạo ra, và trở thành nguồn gốc của sự hủy diệt tất cả.

誰もが幸福に暮らせる世界を夢見たのに、不幸と絶望を撒き散らす終末に至ろうとしている……。

Dù đã mơ về một thế giới nơi mọi người có thể sống hạnh phúc, nhưng giờ đây lại đang tiến đến một ngày tận thế gieo rắc bất hạnh và tuyệt vọng...

全ては、自身の過ちである──そう認めるしかなくて、ヴェルダナーヴァは悲嘆する。

Tất cả là do sai lầm của chính mình... không còn cách nào khác ngoài việc thừa nhận điều đó, Verudanava đau khổ.

<<アナタだけが悪い訳じゃないわ。全ては必然だったのよ。それに──まだ諦める時ではないわ>>

<<Không chỉ mình chàng có lỗi đâu. Mọi thứ đều là tất yếu. Hơn nữa... vẫn chưa phải lúc để từ bỏ>>

──え?

... Hả?

ヴェルダナーヴァは戸惑った。

Verudanava bối rối.

ルシアが何を言っているのか、その意味を測りかねたのだ。

Hắn không thể hiểu được ý nghĩa những lời Lucia đang nói.

<<うふふ。世界は残酷だけど、それだけじゃないでしょう? だって、アナタの心はとても温かいのだもの>>

<<Ufufu. Thế giới thật tàn khốc, nhưng không chỉ có thế thôi đúng không? Bởi vì, trái tim của chàng rất ấm áp>>

──だけど、ボクは──

... Nhưng, ta...

<<大丈夫よ。だって、私達にも希望があるもの>>

<<Không sao đâu. Bởi vì chúng ta cũng có hi vọng>>

希望(エルピス)だって?

Hi vọng (Elpis)?

つい最近聞いた〝名〟だ。

Đó là một “cái tên” mà hắn mới nghe gần đây.

自分の前に立ち塞がった、生意気なスライム。

Một con slime xấc xược đã đứng chắn trước mặt hắn.

その名前は──

Tên của nó là...

ヴェルダナーヴァは、唐突に思い出した。

Verudanava đột nhiên nhớ lại.

かつて交わした、ルシアとの語らいを。

Cuộc trò chuyện với Lucia ngày xưa.

──アナタ、この子の名前はどうしましょう?

... Chàng ơi, chúng ta nên đặt tên cho con là gì?

そう問われたヴェルダナーヴァは、幸せな気分で答えたのだ。

Được hỏi như vậy, Verudanava đã trả lời trong một tâm trạng hạnh phúc.

──そうだな、『ミリム』なんていいんじゃないか? もしくは──

... Ừm, “Millim” thì sao nhỉ? Hoặc là...

どうして忘れていたんだろう?

Tại sao hắn lại quên mất?

あの時はそう、ミリムが生まれる前の話だった。

Lúc đó, đúng rồi, là chuyện trước khi Millim ra đời.

ヴェルダナーヴァは確かに、もう一つの〝名前〟を口にしていた。

Verudanava chắc chắn đã nói ra một “cái tên” khác.

それを思い出した今、全ては必然だったのだと確信する。

Và bây giờ khi nhớ lại, hắn tin chắc rằng tất cả đều là tất yếu.

(そうか──〝親超え〟は、達成されていたのか──)

(Ra vậy... việc “vượt qua cha mẹ” đã được hoàn thành rồi sao...)

イヴァラージェに同化されそうになりながら、ヴェルダナーヴァは再び幸福に包まれる気分になった。

Trong khi sắp bị Ivalage đồng hóa, Verudanava lại cảm thấy được bao bọc trong hạnh phúc.

ヴェルダナーヴァはもう、寂しくなかった。

Verudanava không còn cô đơn nữa.

心が満たされていた。

Trái tim hắn đã được lấp đầy.

イヴァラージェから力を吸収され続けていたが、それでも何も感じない。

Dù liên tục bị Ivalage hấp thụ sức mạnh, hắn vẫn không cảm thấy gì.

陰と陽。

Âm và dương.

ルシアと手を取り合うようにして、小さく小さく丸まっていく……。

Như nắm tay Lucia, hắn cuộn tròn lại, nhỏ dần, nhỏ dần...

目の前で、ヴェルダナーヴァがイヴァラージェに喰われた。

Ngay trước mắt tôi, Verudanava đã bị Ivalage nuốt chửng.

何を言っているのかわからないと思うが、俺だって理解出来ていない。

Tôi nghĩ mọi người không hiểu tôi đang nói gì, nhưng chính tôi cũng không hiểu được.

果たして、イヴァラージェが喰ったヴェルダナーヴァを、俺の力で分離出来るだろうか?

Liệu rằng, với sức mạnh của mình, tôi có thể tách Verudanava mà Ivalage đã nuốt chửng ra được không?

それが可能なら、大きく力を削げそうだけど……。

Nếu có thể, thì có lẽ sẽ làm suy yếu nó đi rất nhiều...

『リムル君、どうする気だ?』

“Rimuru-kun, cậu định làm gì?”

『ギ、ギィさん!?』

“G-Guy-san!?”

どうする気だ、じゃないんだよなあ……。

Không phải là “định làm gì” đâu...

それと、こんな時に〝君付け〟はヤメロ。

Với lại, đừng có thêm “-kun” vào lúc này.

その発言は、俺に丸投げする気だな!?

Câu nói đó, là định đẩy hết cho tôi phải không!?

元請けにも監督責任はあるのだと、ここは強く主張すべきだね。

Ở đây, tôi phải mạnh mẽ khẳng định rằng nhà thầu chính cũng có trách nhiệm giám sát.

『いやあ、僕みたいな小物は、ギィさんについて行くだけですとも!』

“Không đâu, một kẻ tầm thường như tôi chỉ biết đi theo Guy-san thôi!”

『舐めるな。テメーの事はテメーでやれ』

“Đừng có coi thường ta. Chuyện của ngươi thì tự ngươi lo đi”

いやいや、いやいやいやいや!

Không không, không không không không!

『俺だけの話じゃないだろ!? みんなの問題でしょうよ!!』

“Đây đâu phải chuyện của riêng tôi!? Là vấn đề của tất cả mọi người mà!!”

俺はそう訴えたのだが、残念ながら薄情者がいた。

Tôi đã kháng nghị như vậy, nhưng tiếc là có những kẻ vô tình.

『あのね、リムルさん。あんなの俺には無理だって!』

“Này, Rimuru-san. Cái đó thì tôi chịu thôi!”

『同意するしかないね』

“Đành phải đồng ý thôi”

『右に同じく』

“Tôi cũng vậy”

ディーノ、ガラシャ、ピコが、真っ先に自分達の出る幕ではないと主張したのだ。

Dino, Garasha và Pico là những người đầu tiên khẳng định rằng đây không phải là sân khấu của họ.

その言い分も、理解は出来る。

Lí do của họ, tôi cũng có thể hiểu được.

だって、ヴェルダナーヴァを取り込んだイヴァラージェは、どう見ても化け物になっていたからだ。

Bởi vì Ivalage sau khi hấp thụ Verudanava, nhìn thế nào cũng đã biến thành một con Quái vật.

美しい女性を模した姿から、竜と人が混ざったような姿へと。

Từ hình dạng của một người phụ nữ xinh đẹp, nó đã biến thành một hình dạng lai giữa rồng và người.

思い出すのは、ミリムが『狂化暴走(スタンピート)』した姿だ。全身を竜(りゅう)鱗(りん)に覆われていて、通常の攻撃や魔法などが一切通用しない最強の状態である。

Tôi nhớ lại hình dạng của Millim khi “Cuồng Hóa Bạo Loạn (Stampede)”. Toàn thân được bao bọc bởi vảy rồng, một trạng thái mạnh nhất mà các đòn tấn công và ma pháp thông thường hoàn toàn không có tác dụng.

ヴェルダナーヴァを完全に吸収するつもりらしく、まだ動きはない。しかし、動き出した時がこの世が終わる時なのだろうな、という予感があった。

Có vẻ như nó định hấp thụ hoàn toàn Verudanava, nên vẫn chưa di chuyển. Tuy nhiên, tôi có linh cảm rằng khi nó bắt đầu di chuyển, đó sẽ là lúc thế giới này kết thúc.

パッと見ただけで、ヤバさが伝わってくる。

Chỉ cần nhìn thoáng qua cũng có thể cảm nhận được sự nguy hiểm.

ph_slime23_ill009.jpg

ただでさえ強そうなのに、イヴァラージェは両手に創世級(ジェネシス)を持っていた。二刀流を扱えるのかどうかは不明だが、ヴェルダナーヴァを喰らって全ての権能を操れるようになっているのなら、完璧な剣技も習得済みだと考えておくべきだった。

Vốn đã trông rất mạnh, Ivalage còn cầm trên tay hai vũ khí Cấp Sáng Thế (Genesis). Không rõ nó có thể sử dụng song kiếm hay không, nhưng nếu nó đã nuốt chửng Verudanava và có thể điều khiển tất cả các quyền năng, thì nên cho rằng nó cũng đã thành thạo kiếm kĩ hoàn hảo.

正直に言って、ディーノ達では何も出来ないだろうなと思われた。

Thành thật mà nói, tôi nghĩ nhóm của Dino sẽ không thể làm được gì.

『リムルよ、ワタシは手伝ってやるのだぞ!』

“Rimuru, ta sẽ giúp ngươi!”

ミリムはそう言ってくれたのだが、こちらも満身創痍っぽいんだよね。大きな怪我などは癒えているけど、小さな傷が残っている。ミリムが元気だったら、そんなのは一瞬にして消えるはずなのだ。

Millim đã nói vậy, nhưng cô ấy cũng có vẻ như đã bị thương nặng. Những vết thương lớn đã lành, nhưng vẫn còn những vết thương nhỏ. Nếu Millim khỏe mạnh, những vết thương đó đáng lẽ phải biến mất ngay lập tức.

『リムルさん、私も手伝うよ』

“Rimuru-san, tôi cũng sẽ giúp”

とんでもない美少女──クロエがそう言ってくれた。

Một thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần... Chloe... đã nói vậy.

しかし、俺は知っている。

Tuy nhiên, tôi biết.

クロエが得意とする未来視は〝停止世界〟では意味がなく、激しい戦いを繰り広げたせいでエネルギーがほぼ枯渇した状態なのだ。

“Tầm Nhìn Tương Lai” mà Chloe得意 không có tác dụng trong “Thế Giới Ngưng Đọng”, và do đã trải qua một trận chiến khốc liệt, năng lượng của cô ấy gần như đã cạn kiệt.

正直に言って、今のミリムとクロエに手伝ってもらうのは、俺としても納得いかないものがあった。

Thành thật mà nói, việc để Millim và Chloe hiện tại giúp đỡ là điều mà tôi không thể chấp nhận được.

本当は手伝って欲しかったが、ミリムやクロエを危険に晒す方が嫌だったのだ。

Thực lòng tôi rất muốn họ giúp, nhưng tôi lại không muốn đẩy Millim và Chloe vào nguy hiểm hơn.

『気持ちは嬉しいけど、ここは俺に任せてくれ。お前達は俺の戦いっぷりを観察して、イヴァラージェに弱点がないか探って欲しい!』

“Tôi rất vui vì tấm lòng của mọi người, nhưng chỗ này cứ để tôi lo. Mọi người hãy quan sát trận chiến của tôi và tìm xem Ivalage có điểm yếu nào không!”

俺は、涙を呑んでそう言った。

Tôi đã nuốt nước mắt vào trong và nói vậy.

『そうかよ、そういう事なら、任せたぜ!』

“Vậy à, nếu thế thì, giao cho cậu cả đấy!”

ちげーよ!

Không phải!

『ギィさんさあ、お前に言ったんじゃないんだよ!!』

“Guy-san, tôi không có nói với cậu!!”

『安心しろよ。テメーはどうせ、のらりくらりと時間稼ぎするのが得意だろ? オレ達の為に、せいぜい時間を稼いでくれや』

“Yên tâm đi. Dù sao thì ngươi cũng giỏi câu giờ lảng tránh mà phải không? Vì lợi ích của bọn ta, hãy cố gắng câu giờ đi”

ぐぬぬぬぬ、そう言われたら否定出来ない。

Gừừừừ, bị nói vậy tôi không thể phủ nhận được.

この場にいる面子では──と言うより他の誰と比べても、時間稼ぎが一番得意なのは俺なのだ。

Trong số những người có mặt ở đây... hay đúng hơn là so với bất kì ai khác, người giỏi câu giờ nhất chính là tôi.

それに、今の俺にはシエルさんがついているので、不安感など何もない。しょーがないなという気分で、俺はその提案を受け入れる事にした。

Hơn nữa, bây giờ tôi đã có Ciel-san bên cạnh, nên không có cảm giác bất an nào cả. Với tâm trạng “đành chịu thôi”, tôi đã chấp nhận đề nghị đó.

『頑張ってよね、リムル!』

“Cố lên nhé, Rimuru!”

と、大人の姿になったラミリスから応援された。

Lamrys trong hình dạng người lớn đã cổ vũ tôi.

見た目は淑女なのに、言動は子供のままだ。

Dù ngoại hình là một quý cô, nhưng lời nói và hành động vẫn như trẻ con.

俺からエネルギーを借り受けるという裏技的手法で成長したせいか、ラミリスへの違和感が半端ない。原初の魔法(プリミティブマジック)のような、大いなる力を発揮出来るようになったのはいいが、戦闘に向いているかと聞かれれば、答えは「否」だ。

Có lẽ vì đã trưởng thành bằng một phương pháp gian lận là mượn năng lượng từ tôi, nên cảm giác không quen với Lamrys vô cùng lớn. Việc cô ấy có thể sử dụng sức mạnh vĩ đại như Ma Pháp Nguyên Sơ (Primitive Magic) là tốt, nhưng nếu hỏi liệu cô ấy có phù hợp với chiến đấu hay không, thì câu trả lời là “không”.

ラミリスに手伝ってもらうと、逆に足を引っ張られそうだった。

Nếu để Lamrys giúp, có lẽ ngược lại còn bị kéo chân.

『ちょっとリムル、アンタ、失礼な事を考えてない?』

“Này Rimuru, cậu đang nghĩ điều gì thất lễ phải không?”

『ううん。そんな事、ないよ』

“Ừm. Không có đâu”

『ならいいけどさ……』

“Vậy thì được rồi...”

『それじゃ、取り敢えず色々と試してみるわ』

“Vậy thì, tạm thời tôi sẽ thử nhiều thứ xem sao”

俺はそう言って、イヴァラージェに目を向けた。

Tôi nói vậy và hướng mắt về phía Ivalage.

『おう、頼んだぜ』

“Ừ, nhờ cả vào cậu đấy”

というギィの声を背に、俺は肩を竦める事で応じる。

Nghe thấy giọng nói của Guy từ phía sau, tôi nhún vai đáp lại.

ここで頼もしいのが、ヴェルドラだった。

Lúc này, người đáng tin cậy chính là Verudora.

『どうやら、我の出番かな?』

“Xem ra, đã đến lượt ta rồi nhỉ?”

実に心強い事に、参戦を表明してくれたのだ。

Thật là một điều đáng khích lệ, ông ấy đã tuyên bố sẽ tham chiến.

ただし、ヴェルドラも一緒に戦うとなると、安全装置がなくなるのを意味する。二人同時にやられるとは思えないけど、可能性としてはゼロではないのだ。

Tuy nhiên, nếu Verudora cũng cùng chiến đấu, điều đó có nghĩa là sẽ không còn biện pháp an toàn nào nữa. Tôi không nghĩ cả hai sẽ bị đánh bại cùng lúc, nhưng khả năng đó không phải là không có.

『保留で頼む。最終防衛ラインさんは、究極の秘密兵器だからね。もうちょっとだけ様子見してみるよ』

“Tạm thời cứ chờ đã. Ngài là tuyến phòng thủ cuối cùng, là vũ khí bí mật tối thượng mà. Tôi sẽ quan sát thêm một chút nữa”

『うむ! そういう事なら、貴様を信じて待つとしよう!!』

“Ừm! Nếu vậy thì, ta sẽ tin tưởng và chờ đợi ngươi!!”

ヴェルドラがいるから、ギィは俺に時間稼ぎを任せたのだ。俺も不本意ではあるが、それが一番最良の策なのは認めるしかないのである。

Chính vì có Verudora, nên Guy mới giao cho tôi nhiệm vụ câu giờ. Dù tôi không muốn, nhưng cũng phải thừa nhận rằng đó là phương án tốt nhất.

取り敢えず、当たってみよう。

Tạm thời, cứ thử xem sao.

そうして敵の戦力を把握してから、本格的な作戦を立てるべきだった。

Sau khi nắm được thực lực của kẻ địch, mới nên lập ra một kế hoạch tác chiến thực sự.

『じゃあ、一回やってみるよ』

“Vậy, tôi sẽ thử một lần xem sao”

俺はそう言い残し、イヴァラージェに向けて飛翔した。

Tôi nói vậy rồi bay về phía Ivalage.

イヴァラージェに接近して、そのヤバさを再認識した。

Tiếp cận Ivalage, tôi lại một lần nữa nhận ra sự nguy hiểm của nó.

なんて言うか、えぐい。

Phải nói sao nhỉ, thật kinh khủng.

人が勝てるとは思えないような、禍(まが)々(まが)しい邪気(オーラ)を放っているのだ。

Nó tỏa ra một luồng tà khí (aura) gớm ghiếc đến mức không thể tin được là con người có thể chiến thắng.

<<大丈夫です。主様(マスター)も負けてません!>>

<<Không sao đâu ạ. Chủ nhân (Master) cũng không hề thua kém!>>

あのね、俺はあんなに邪悪じゃないから。

Này, tôi không có tà ác đến thế đâu.

まあ、シエルさんが太鼓判を押してくれたので、少しは安心出来たけどさ。

Mà, vì Ciel-san đã đảm bảo nên tôi cũng yên tâm được phần nào.

それにしても、だ。

Dù vậy.

ビックリするほど、エネルギー量が凄まじいよね。

Lượng năng lượng của nó thật kinh khủng đến mức đáng ngạc nhiên.

正確に計測出来ないけど、少なくとも存在値換算すると数十億は超えていそうである。

Không thể đo lường chính xác, nhưng ít nhất nếu quy đổi ra giá trị tồn tại thì có vẻ đã vượt qua vài tỉ.

<<兆の桁に達しているのは間違いありません>>

<<Chắc chắn đã đạt đến hàng nghìn tỉ rồi ạ>>

は?

Hả?

無理じゃん。

Không thể nào.

俺の予測の百倍以上とか、そんなのもう無理ゲーじゃん。

Hơn một trăm lần dự đoán của tôi, thế thì còn gì là game khó nữa.

どう見立てれば、俺が負けていないと言えるのか……。

Làm thế nào mà cô có thể nói tôi không thua kém được chứ...

しかも、断言である。

Hơn nữa, còn khẳng định chắc nịch.

ひょっとしてシエルさんって、ちょっとばかり計算能力が衰えているのかも?

Hay là năng lực tính toán của Ciel-san có hơi suy giảm một chút nhỉ?

<<そのような事実はありません。断じて!>>

<<Không có chuyện đó đâu ạ. Tuyệt đối không!>>

あったら困るけど、ヴェルダナーヴァに誘拐された際に性能が劣化しちゃったとか?

Nếu có thì cũng phiền, nhưng hay là lúc bị Verudanava bắt cóc, hiệu suất đã bị giảm sút chăng?

<<……主様(マスター)が私に頼ってくれるのは嬉しいのですが、たまには本気が見たいのです!>>

<<... Việc chủ nhân (Master) dựa dẫm vào thần khiến thần rất vui, nhưng thỉnh thoảng thần cũng muốn thấy ngài nghiêm túc!>>

えっと、はい。

Ừm, vâng.

シエルさんの過大評価が怖い。

Sự đánh giá quá cao của Ciel-san thật đáng sợ.

俺は常に本気なのだが、どうにも理解してもらえないのだ。

Tôi lúc nào cũng nghiêm túc, nhưng có vẻ như không được hiểu.

ま、いいさ。

Thôi, kệ đi.

今は相棒と喧嘩している場合じゃないので、ちょいとばかり頑張ってみようと思う。

Bây giờ không phải lúc để cãi nhau với cộng sự, nên tôi sẽ cố gắng một chút.

俺はイヴァラージェに向けて、愛刀〝希望(エルピス)〟を構え直した。

Tôi hướng về phía Ivalage và cầm lại thanh kiếm yêu quý “Hi Vọng (Elpis)”.

『きゃはは! 強いって、こんな感じ!!』

“Kyahaha! Mạnh mẽ là cảm giác như thế này!!”

高笑いするイヴァラージェが、俺に気付くなり二連撃してくる。

Ivalage cười lớn, và ngay khi nhận ra tôi, nó đã tung ra hai đòn liên tiếp.

『遅い』

“Chậm quá”

俺は慌てず対処する。

Tôi bình tĩnh đối phó.

そこまで遅くないどころか、実際には恐るべき速さなのだが、『思考加速』して視れば問題ない。今の倍率がどれくらいなのか不明だが、イヴァラージェの動きからその先の狙いまで、手に取るようにわかるのだ。

Không phải là chậm đến thế, thực tế thì nó rất nhanh, nhưng nếu dùng “Gia Tốc Tư Duy” để nhìn thì không có vấn đề gì. Tôi không biết tỉ lệ hiện tại là bao nhiêu, nhưng từ chuyển động của Ivalage cho đến mục tiêu tiếp theo, tôi có thể nhìn thấy rõ như lòng bàn tay.

勝負には勝気が重要なので、ハッタリも出し惜しみしない。これでイヴァラージェが惑わされてくれたら、俺としては儲けものであった。

Trong một trận đấu, tinh thần chiến thắng là rất quan trọng, nên tôi cũng không tiếc lời khoa trương. Nếu Ivalage bị lừa, thì đối với tôi đó là một món hời.

最初に触れる右手側の剣を弾くなり、そのまま左手側を振り落とす。そして、無防備となった胴体に向けて、渾身の横蹴りだ。

Tôi gạt thanh kiếm bên tay phải sắp chạm vào, rồi vung xuống thanh kiếm bên tay trái. Và rồi, nhắm vào phần thân không được bảo vệ, tôi tung một cú đá ngang hết sức.

空中戦だと足場がないから、力の伝達が難しかった。しかし今では慣れたもので、大気中だろうが何処だろうが、反発力を発生させて最高効率で力を発揮出来るのである。

Trong không chiến, vì không có điểm tựa nên việc truyền lực rất khó. Nhưng bây giờ tôi đã quen, dù là trong không khí hay ở bất cứ đâu, tôi đều có thể tạo ra lực đẩy và phát huy sức mạnh với hiệu suất cao nhất.

何なら、蝙蝠(こうもり)のような羽を広げて身体を加速させる事で、より威力を高めるといった芸当まで可能になっていた。

Thậm chí, tôi còn có thể thực hiện những kĩ thuật như giang rộng đôi cánh giống dơi để tăng tốc cơ thể, từ đó nâng cao uy lực.

今は〝停止世界〟が発動中なので、空気抵抗やその他諸々の力学が作用していない。それなのに問題なく動けているのだから、俺の成長っぷりも中々のものである。

Hiện tại, “Thế Giới Ngưng Đọng” đang được kích hoạt, nên sức cản không khí và các lực cơ học khác không có tác dụng. Dù vậy mà tôi vẫn có thể di chuyển không vấn đề gì, sự trưởng thành của tôi cũng không phải dạng vừa.

<<完璧です!>>

<<Hoàn hảo ạ!>>

だろ?

Phải không?

もっと褒めてくれてもいいんだよ──何て思いつつ、俺はイヴァラージェへと追撃を行った。

Khen tôi nhiều hơn cũng được mà... vừa nghĩ vậy, tôi vừa đuổi theo Ivalage.

イヴァラージェは慌てて体勢を整えて、俺の刀を受け止めた。一本では足りず、二本の剣を交差させるようにしている。

Ivalage vội vàng chỉnh lại tư thế và chặn thanh đao của tôi. Một thanh không đủ, nó phải bắt chéo cả hai thanh kiếm lại.

だが、しかし。

Nhưng mà.

剣同士がぶつかった際に生じた圧倒的な衝撃を受け止めきれず、その身が吹き飛んでいったのだ。

Không thể chịu được cú sốc áp đảo sinh ra khi hai thanh kiếm va chạm, cơ thể nó đã bị thổi bay đi.

イヴァラージェは地上をえぐるように破壊しながら、〝天通閣〟にぶつかり止まった。その衝撃がどれほどのものだったのかは、不壊属性だったはずの〝天通閣〟がまたも砕けた事が物語っていた。

Ivalage phá hủy mặt đất như đang cày xới, rồi đâm vào “Thiên Thông Các” và dừng lại. Sức mạnh của cú va chạm đó lớn đến mức nào, có thể thấy qua việc “Thiên Thông Các”, vốn được cho là có thuộc tính bất hoại, lại một lần nữa vỡ nát.

しかし、不思議だ。

Tuy nhiên, thật kì lạ.

確かに凄まじい衝撃だったのだが、俺にはほとんど影響がなかった。というか、微風程度にしか感じなかったのだ。

Đúng là một cú sốc kinh khủng, nhưng tôi gần như không bị ảnh hưởng gì. Hay đúng hơn, tôi chỉ cảm thấy nó như một làn gió nhẹ.

それはつまり、こちらが押していたという証明である。

Điều đó chứng tỏ rằng, bên này đang chiếm ưu thế.

おや? 意外と……。

Ồ? Bất ngờ thật...

まさかこれで全力なのか?

Không lẽ đây đã là toàn bộ sức mạnh của nó?

そんな馬鹿なと思い、俺はその考えを否定する。

Nghĩ rằng không thể có chuyện đó, tôi phủ nhận suy nghĩ đó.

イヴァラージェからは、恐ろしいまでの〝力〟を感じている。

Tôi cảm nhận được một “sức mạnh” đáng sợ từ Ivalage.

その存在感は不気味だし、シエルさんによれば兆に達する桁の存在値だという話だ。

Sự tồn tại của nó thật đáng sợ, và theo Ciel-san, giá trị tồn tại của nó đã đạt đến hàng nghìn tỉ.

それなのに、思っていた以上に善戦出来ているのが不思議だった。

Thế nhưng, việc tôi có thể chiến đấu tốt hơn mình nghĩ thật kì lạ.

<<主様(マスター)は日々進化しておりますから、至極当然! 実に素晴らしいです!! >>

<<Chủ nhân (Master) đang tiến hóa mỗi ngày, nên điều đó là hoàn toàn tự nhiên! Thật sự rất tuyệt vời!!>>

俺の疑問に答えるように、シエルさんが当たり前だと断言した。

Như để trả lời câu hỏi của tôi, Ciel-san đã khẳng định đó là điều hiển nhiên.

いや、確かに……褒めて欲しいとは思ったけどさ、そこまで歯が浮くようなベタ褒めされると、逆に嘘くさく感じちゃうんだよね。

Không, đúng là... tôi cũng muốn được khen, nhưng khi được khen một cách lộ liễu như vậy, ngược lại lại cảm thấy không thật.

そりゃあ、まあ?

Thì, cũng đúng?

俺だって自分の成長ぶりに驚いているし、褒められて嬉しくない訳ではないんだけどさ。

Tôi cũng ngạc nhiên trước sự trưởng thành của chính mình, và không phải là không vui khi được khen.

シエルさんの補助がなくても動けるのは、一度自転車に乗れるようになれば何年経っても乗れる、みたいなものであろう。経験を積んで習得した技術なので、難しく考えずとも身体が勝手に反応してくれるのだった。

Việc có thể di chuyển mà không cần sự hỗ trợ của Ciel-san cũng giống như việc một khi đã biết đi xe đạp thì dù bao nhiêu năm trôi qua vẫn có thể đi được. Vì đó là kĩ thuật đã được học hỏi qua kinh nghiệm, nên không cần phải suy nghĩ phức tạp, cơ thể sẽ tự động phản ứng.

そんな訳で、俺はイヴァラージェと戦えている。

Vì vậy, tôi đang chiến đấu với Ivalage.

悩んで迷って、このチャンスを逃すべきではなかった。

Do dự và phân vân, tôi không nên bỏ lỡ cơ hội này.

吹き飛んだイヴァラージェが立ち上がる前に、俺も追撃モードだ。

Trước khi Ivalage bị thổi bay kịp đứng dậy, tôi cũng chuyển sang chế độ truy kích.

叩き込むように『黒炎』を纏わせた剣を打ち込み、イヴァラージェの体力を削っていく。

Tôi vung thanh kiếm được bao bọc bởi “Hắc Viêm” như muốn đóng đinh, và bào mòn thể lực của Ivalage.

微塵切りするようにと言えなかったのは、硬過ぎて斬れなかったからだった。

Không thể nói là chém thành từng mảnh, vì nó quá cứng không thể chém được.

イヴァラージェの竜(りゅう)鱗(りん)は、当たり前のように創世級(ジェネシス)相当の強度だったのだ。これを切断しようと思えば、とんでもない技量と強力な武器が必要になるだろう。

Vảy rồng của Ivalage, hiển nhiên là có độ cứng tương đương Cấp Sáng Thế (Genesis). Để cắt được nó, cần phải có kĩ thuật phi thường và một vũ khí cực kì mạnh mẽ.

俺の技量(レベル)はともかく、武器の等級が互角なので、普通に無理だと判断した。

Bỏ qua kĩ năng (level) của tôi, cấp bậc của vũ khí là ngang nhau, nên tôi phán đoán rằng bình thường thì không thể.

<<手加減する必要はないのですよ?>>

<<Không cần phải nương tay đâu ạ?>>

だからさ、手加減なんてしてないっての!

Đã bảo rồi, tôi đâu có nương tay!

どうにもシエルさんの認識がオカシイのだが、本当に大丈夫なのだろうか?

Nhận thức của Ciel-san có vẻ kì lạ, không biết có ổn không nữa?

俺はそんなふうに心配しつつ、対イヴァラージェ戦の必勝作戦を練り上げていくのだった。

Tôi vừa lo lắng như vậy, vừa xây dựng kế hoạch tác chiến chắc thắng để đối đầu với Ivalage.

リムルとイヴァラージェの戦いは、壮絶なまでの出だしであった。

Trận chiến giữa Rimuru và Ivalage đã có một khởi đầu vô cùng hoành tráng.

それを見ていたギィが、心からの賞賛を送る。

Guy, người đang theo dõi, đã gửi lời khen ngợi từ tận đáy lòng.

『野郎、また強くなってやがるな』

“Tên khốn, lại mạnh lên rồi à”

これに応えるのは、役目を全うして駆け付けたディアブロだった。

Người đáp lại là Diablo, sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ và vội vã đến đây.

『クフフフフ、当然です! 流石はリムル様ですね、ここまで成長しておられるとは嬉しい限り。ですが、こんなものではありません。私とリムル様は〝魂の回廊〟で繋がっているのですが、まだまだ本気を出してはおられない御様子。もしかして、我らに手ほどきをされるおつもりなのでしょうか?』

“Kufufufu, đó là điều hiển nhiên! Quả đúng là ngài Rimuru, ngài đã trưởng thành đến mức này thật khiến tôi vô cùng vui mừng. Nhưng, đây vẫn chưa phải là tất cả đâu. Tôi và ngài Rimuru được kết nối bởi “Hành lang linh hồn”, nhưng có vẻ ngài vẫn chưa thực sự nghiêm túc. Có lẽ nào, ngài định chỉ dạy cho chúng tôi chăng?”

『はあん? アレでまだ、本気じゃねーってのか?』

“Hả? Như thế mà vẫn chưa nghiêm túc à?”

リムルとしては本気も本気なのだが、ディアブロの視点では舐めプ──敵を舐めて手加減している状態──である。

Đối với Rimuru, đó là rất rất nghiêm túc, nhưng theo quan điểm của Diablo, đó là một hành động nương tay... một trạng thái coi thường kẻ địch và không dùng hết sức.

驚くギィに、自慢気なディアブロが演説をかまそうとしたのだが──

Diablo định khoe khoang diễn thuyết trước Guy đang kinh ngạc, nhưng...

『当然だ。真なる神であらせられるリムル様が本気を出せば、あんなものでは済まぬさ』

“Đương nhiên rồi. Nếu ngài Rimuru, một vị thần đích thực, nghiêm túc, thì sẽ không chỉ dừng lại ở mức đó đâu”

そんなふうに先に語ったのは、つい先程まで敵だったはずのフェルドウェイだった。

Người nói ra điều đó trước lại là Feldway, kẻ mà cho đến vừa rồi vẫn còn là kẻ thù.

いつの間にか、ディアブロに並ぶリムル信者になっていた。これもまた、おかしな話なのである。

Không biết từ lúc nào, hắn đã trở thành một tín đồ của Rimuru ngang hàng với Diablo. Đây cũng là một câu chuyện kì lạ.

何言ってんだコイツ──という目でギィが見るが、フェルドウェイは意に介さない。

Tên này đang nói cái gì vậy... Guy nhìn với ánh mắt đó, nhưng Feldway không hề để tâm.

『リムル様にとっては、イヴァラージェなど敵ではないのだ。それなのに手加減されているのを見れば、ディアブロが言うように愚かな我らに手本を見せて下さっているのだろう』

“Đối với ngài Rimuru, Ivalage không phải là đối thủ. Vậy mà ngài ấy lại nương tay, có lẽ như Diablo nói, ngài đang làm gương cho những kẻ ngu ngốc chúng ta”

オイオイ、ディアブロみてーなバカが、もう一匹増えやがったぞ──と、ギィは頭が痛くなった。

Ôi ôi, lại thêm một tên ngốc giống Diablo nữa rồi... Guy cảm thấy đau đầu.

新参のバカに、先輩のバカが偉そうに講釈している。

Một tên ngốc mới đến đang được một tên ngốc đi trước giảng giải một cách trịch thượng.

『チッ! 貴様如きが、リムル様の名を口にするとは。許可は得たのですか? 手本を見せて下さっているのは間違いないが、それは貴様とは関係のない話ですよ?』

“Chậc! Một kẻ như ngươi mà dám gọi tên ngài Rimuru sao. Ngươi đã được phép chưa? Việc ngài ấy đang làm gương cho chúng ta là không sai, nhưng đó không phải là chuyện liên quan đến ngươi, hiểu không?”

憤慨するポイントを間違ってねーか? とギィは思うのだが、面倒臭くなったのか突っ込む気はなくなっている。

Có nhầm lẫn điểm tức giận không vậy? Guy nghĩ, nhưng có lẽ vì cảm thấy phiền phức nên anh cũng không còn muốn xen vào nữa.

代わりに、遅れて到着したウルティマが叫んだ。

Thay vào đó, Ultima, người vừa đến muộn, đã hét lên.

『──って言うかさあ、何なの? どうしてボク達を差し置いて、そこのフェルドウェイ如きが偉そうにリムル様を語っているのさ!?』

“... Mà này, cái gì vậy? Tại sao lại bỏ qua chúng tôi mà một kẻ như Feldway lại có thể trịch thượng nói về ngài Rimuru như thế!?”

ごもっともな指摘であった。

Đó là một lời chỉ trích hoàn toàn xác đáng.

しれっと仲間面しているが、まだ完全に和解した訳ではないのである。少なくとも、謝罪が先だろうという話である。

Dù tỏ ra như đồng đội một cách thản nhiên, nhưng họ vẫn chưa hoàn toàn hòa giải. Ít nhất, cũng phải xin lỗi trước đã chứ.

『まあまあ、今はそんな場合ではないもの、その件については落ち着いてから話し合いましょうか』

“Thôi nào, bây giờ không phải lúc để nói chuyện đó, chúng ta hãy thảo luận về vấn đề này sau khi mọi chuyện lắng xuống nhé”

そう宥めるのはテスタロッサだが、時と場合を考えなければ、ウルティマに加勢していただろう。

Testarossa đã xoa dịu như vậy, nhưng nếu không phải vì tình hình hiện tại, có lẽ cô đã về phe Ultima rồi.

『リムル様の軍門に降(くだ)ったのだろう? ならば、私としては文句ない!』

“Hắn đã đầu hàng dưới trướng ngài Rimuru rồi phải không? Vậy thì, tôi không có ý kiến gì!”

カレラだけは、味方になったのなら赦す、のスタイルだ。

Chỉ có Carrera là theo phong cách “nếu đã là đồng minh thì sẽ tha thứ”.

その潔さは、悪魔達の中でもピカイチだった。

Sự thẳng thắn đó của cô là nhất trong số các ác ma.

一方、他の観戦者達はというと。

Trong khi đó, những người quan sát khác thì sao.

『まあさ、まあさ、やっぱりリムルってば凄いよね? 流石はアタシの友達なのよさ!』

“Mà này, mà này, quả nhiên Rimuru thật tuyệt vời nhỉ? Đúng là bạn của tui có khác!”

『むむっ!? リムルとは、ワタシの方が仲良しなのだ! 何しろ親友(マブダチ)だし、ワタシの方が先に知り合っているのだからな!!』

“Mumu!? Ta mới là người thân với Rimuru hơn! Dù sao chúng ta cũng là bạn thân (Mabudachi), và ta còn quen cậu ấy trước nữa!!”

『クアーーーッハッハッハ! それを言うなら、我の方が先だな。ついでに、リムルとは盟友であるからして、何人たりとも我らの関係を上回れぬと知るがいい!!』

“Kuaaaahahahaha! Nếu nói vậy thì ta mới là người đầu tiên. Hơn nữa, ta và Rimuru là đồng minh, nên biết đi, không một ai có thể vượt qua mối quan hệ của chúng ta đâu!!”

『うるさいのだ。そんなの知らないのだ!』

“Ồn ào quá. Ta không biết chuyện đó!”

『そうなのよさ! 師匠よりもアタシの方が仕事でも役立つし、リムルと親しいのは間違いないってワケ』

“Đúng vậy! Tui còn hữu ích trong công việc hơn cả Sư phụ, nên chắc chắn là tui thân với Rimuru hơn rồi”

リムルが勝ちそうだとわかり、雰囲気は明るい。

Biết được Rimuru có khả năng chiến thắng, không khí trở nên vui vẻ.

各々が好き勝手な事を言い合って、誰が一番リムルにとって大切なのかと自慢合戦が始まろうとしていた。

Mỗi người đều nói những gì mình thích, và một cuộc thi khoe khoang xem ai là người quan trọng nhất đối với Rimuru sắp bắt đầu.

そんなやり取りをする者達を横目に、クロエがこそっと呟いている。

Liếc nhìn những người đang trò chuyện như vậy, Chloe thì thầm.

『リムルさんが一番好きなのは私だから』

“Bởi vì người ngài Rimuru yêu nhất là tôi mà”

不毛な言い争いに参加しないだけ、彼女は大人なのだった。

Không tham gia vào cuộc tranh cãi vô bổ, cô ấy thật sự là một người trưởng thành.

ザラリオやオベーラも、驚きを隠せない。

Zalario và Obera cũng không thể giấu được sự kinh ngạc.

『フェルドウェイではないが、あの強さは異常だな』

“Dù không phải là Feldway, nhưng sức mạnh đó thật bất thường”

『……そうね。ヴェルダナーヴァ様を喰らったイヴァラージェを、ああも圧倒するとは思わなかったわ』

“... Đúng vậy. Tôi không ngờ cậu ta lại có thể áp đảo Ivalage, kẻ đã nuốt chửng ngài Verudanava, đến mức đó”

リムルが強いのは知っていたが、まさかここまでとは思っていなかった。というより、想像出来る訳がない。

Họ biết Rimuru mạnh, nhưng không ngờ lại mạnh đến mức này. Hay đúng hơn là không thể tưởng tượng được.

彼らにとっては、〝星王竜〟ヴェルダナーヴァこそが至上だったのだ。

Đối với họ, “Tinh Vương Long” Verudanava mới là tối thượng.

イヴァラージェに喰われる姿を目撃して絶望したが、その後の今の状況は、驚きを通り越して非現実的ですらあった。

Chứng kiến cảnh ngài ấy bị Ivalage nuốt chửng, họ đã tuyệt vọng, nhưng tình hình hiện tại sau đó đã vượt qua cả sự kinh ngạc, thậm chí là phi thực tế.

『あ、あれが、リムル……?』

“Đ-Đó là, Rimuru...?”

初めてリムルを目にしたコルヌが驚愕するが、次の瞬間、少し離れた場所にいたフェルドウェイから強制指導が入る。

Cornu, người lần đầu tiên nhìn thấy Rimuru, kinh ngạc, nhưng ngay lúc sau, một lời chỉ dạy cưỡng ép từ Feldway, người đang ở cách đó không xa, đã được đưa ra.

『リムル〝様〟です。次に不敬な発言があれば、寛容な私でも許さないと知るがいい』

“Là ngài Rimuru. Nếu còn có phát ngôn bất kính nào nữa, thì biết đi, dù là ta, một người khoan dung, cũng sẽ không tha thứ đâu”

どこが寛容なのか、誰にもわからない。それでも、リムルに関する事を口にする際は、慎重に慎重を重ねた方がいい、というのだけは明確に伝わった。

Không ai biết được sự khoan dung đó ở đâu. Dù vậy, một điều đã được truyền đạt rõ ràng, đó là khi nói về những chuyện liên quan đến Rimuru, thì nên cẩn trọng, cẩn trọng hơn nữa.

怒られてしょんぼりするコルヌを、ディーノ達が慰める。

Cornu bị mắng đến mức ủ rũ, và nhóm của Dino đã an ủi hắn.

『まあよ、お前もいずれわかるさ』

“Thôi nào, rồi ngươi cũng sẽ hiểu thôi”

『そうそう。フェルドウェイはムカつくけど、言ってる事は間違ってない』

“Đúng đúng. Feldway tuy khó ưa, nhưng những gì hắn nói không sai”

『リムルさん──様は、アタイらの雇い主になってくれる御方だし、アンタにも敬ってもらわなきゃだしね』

“Ngài Rimuru... là người sẽ trở thành chủ nhân của bọn tui, nên anh cũng phải tôn kính ngài ấy chứ”

コルヌは思った。

Cornu nghĩ.

リムルって、何なんだよ!?

Rimuru rốt cuộc là cái gì!?

俺の知らない間に、どうしてそんな新参者がデカい面してやがるんだ!!

Trong lúc ta không biết, tại sao một kẻ mới đến như vậy lại có thể vênh váo thế chứ!!

──と。

...

しかし、その戦いぶりを見ていると、何だか悩んでいる自分が馬鹿らしくなってきた。

Tuy nhiên, khi nhìn vào cách chiến đấu đó, hắn cảm thấy bản thân đang lo lắng thật ngớ ngẩn.

強さが全てという考えは間違っているが、コルヌ達にとっては自然な論理だ。強くなければ、誰も従ってくれないのである。

Suy nghĩ rằng sức mạnh là tất cả là sai lầm, nhưng đối với nhóm của Cornu, đó là một logic tự nhiên. Nếu không mạnh, sẽ không ai tuân theo.

そんな常識に縛られるコルヌからすれば、フェルドウェイは理想の上司だった。そんな上司が新参者を崇拝するようになったのが面白くなかったのだが、リムルを見ていると、そんな自分が如何に愚かだったのか理解してしまったのである。

Đối với Cornu, người bị ràng buộc bởi lẽ thường đó, Feldway là một cấp trên lí tưởng. Việc cấp trên như vậy bắt đầu tôn thờ một kẻ mới đến khiến hắn không vui, nhưng khi nhìn Rimuru, hắn đã hiểu ra mình đã ngu ngốc đến mức nào.

(す、スゲエな。リムル、いや、リムル様は!! よし、決めた! 俺も今日から、リムル様を敬う事にしよう)

(T-Tuyệt vời quá. Rimuru, không, là ngài Rimuru!! Được rồi, quyết định vậy! Từ hôm nay, ta cũng sẽ tôn kính ngài Rimuru)

心を入れ替えるまで、あっという間である。

Chỉ trong nháy mắt, hắn đã thay đổi suy nghĩ.

時間は流れていなかったので、物理法則的には〝一瞬〟であった。

Vì thời gian không trôi, nên theo quy luật vật lí, đó là “một khoảnh khắc”.

ベニマルとゼギオンは、それが当然という顔で見守っている。

Benimaru và Zegion đang theo dõi với vẻ mặt như đó là điều hiển nhiên.

『俺達の出番はないかもな』

“Có lẽ không có lượt của chúng ta rồi”

『ああ。我らが及ぶ境地の戦いではない』

“Ừ. Đây không phải là một trận chiến mà chúng ta có thể đạt tới”

リムルへの絶対的信頼が感じられる、腹心二人のやり取りだ。

Đó là cuộc trò chuyện của hai tâm phúc, có thể cảm nhận được sự tin tưởng tuyệt đối vào Rimuru.

それを横目に、少し離れた場所にいるユウキは思った。

Liếc nhìn họ, Yuki, người đang ở một nơi không xa, đã nghĩ.

リムルさんとは絶対に敵対しないようにしなきゃね、と。

Mình tuyệt đối không được đối đầu với Rimuru-san.

世界征服の夢はとっくに諦めたが、それでも自分のやりたい事を全部我慢する気はないのが、ユウキという人物である。本当にジスターヴが返還されたら、カガリを女王にして仲間達と楽しく暮らせる国にしたいと思っているが、それはそれ。

Giấc mơ chinh phục thế giới đã từ bỏ từ lâu, nhưng Yuki không phải là người sẽ nhẫn nhịn tất cả những gì mình muốn làm. Nếu Jistav thực sự được trả lại, cậu muốn để Kagali làm nữ hoàng và xây dựng một đất nước nơi có thể sống vui vẻ cùng các đồng đội, nhưng đó là chuyện đó.

世界各地を遊覧して、見聞を広めようと考えていた。そこで仲間を増やして、もっと発言力を増したい考えだったユウキは、リムルのヤバさを見てやり過ぎは良くないと心に刻む。

Cậu đã nghĩ đến việc du ngoạn khắp thế giới để mở rộng tầm mắt. Yuki, người muốn tăng thêm đồng đội và có thêm tiếng nói, đã nhìn thấy sự nguy hiểm của Rimuru và khắc ghi trong lòng rằng không nên đi quá xa.

自重を忘れてはいけない、という話であった。

Đó là một câu chuyện về việc không được quên đi sự tự trọng.

そうして魔人は闇に潜み、これからも暗躍するのだ──

Và thế là, ma nhân ẩn mình trong bóng tối, và sẽ tiếp tục hoạt động ngầm từ nay về sau...

悠然としているのは、ルドラだ。

Rudra đang thản nhiên.

ヴェルグリンドと並び立ち、高みの見物と洒落込んでいる。

Ông đứng cạnh Verugrynd, thản nhiên quan sát từ trên cao.

『大したもんだな、リムルとやらは』

“Đáng nể thật, cái tên Rimuru đó”

『ええ。私も完全敗北したからよくわかるけど、アレは敵対してはダメなのよ』

“Vâng. Em cũng đã hoàn toàn thất bại nên em hiểu rõ, không được đối đầu với người đó đâu”

『ふむん』

“Hừm”

『怒らせなければ人畜無害なのだけど、一度キレちゃったら手が付けられないわね』

“Nếu không chọc giận thì vô hại, nhưng một khi đã nổi điên thì không thể kiểm soát được”

『まあ、それなら大丈夫だろ。俺の夢だった世界統一も、経済支配によって完了しそうだって話じゃねーか。ここで無理しても良い結果は得られないだろうし、そもそも、マサユキはリムルを慕っているからな』

“Mà, vậy thì chắc không sao đâu. Giấc mơ thống nhất thế giới của ta cũng có vẻ sắp hoàn thành bằng cách thống trị kinh tế rồi còn gì. Bây giờ cố gắng cũng không mang lại kết quả tốt đẹp gì, và vốn dĩ, Masayuki cũng ngưỡng mộ Rimuru mà”

『ええ、そうね。良い関係を築けているわ』

“Vâng, đúng vậy. Họ đã xây dựng được một mối quan hệ tốt đẹp”

『だったら、それでいいさ』

“Vậy thì, thế là được rồi”

ルドラとしては、自分の妹の旦那だったヴェルダナーヴァにも、言いたい事が山盛りあった。しかしその機会は失われたようだった。

Đối với Rudra, ông cũng có rất nhiều điều muốn nói với Verudanava, chồng của em gái mình. Nhưng có vẻ như cơ hội đó đã mất đi.

この世への未練もそれなりに解消済みなので、もう戻ってもいいなと思い始めたルドラである。ただし、本当に帰還してしまったら、残されたマサユキがどうなるのか不安だった。

Những luyến tiếc với thế gian này cũng đã được giải tỏa phần nào, nên Rudra bắt đầu nghĩ rằng mình có thể quay về rồi. Tuy nhiên, nếu thực sự trở về, ông lại lo lắng không biết Masayuki còn lại sẽ ra sao.

多分〝停止世界〟に対応出来ず、静止してしまうはずだ。そう思うからこそ、ルドラはこの戦いを最後まで見届けるつもりなのだった。

Có lẽ cậu ta sẽ không thể thích ứng với “Thế Giới Ngưng Đọng” và sẽ bị bất động. Chính vì nghĩ vậy, nên Rudra định sẽ theo dõi trận chiến này đến cùng.

ヴェルグリンドも、そんなルドラの想いに気付いている。少しばかり寂しいが、マサユキもまたルドラなので問題はなかった。

Verugrynd cũng nhận ra suy nghĩ đó của Rudra. Dù có chút cô đơn, nhưng Masayuki cũng là Rudra, nên không có vấn đề gì.

それよりも──

Hơn thế nữa...

(これで終わりとは思えないわね。恐らくは、まだ──)

(Em không nghĩ mọi chuyện sẽ kết thúc như thế này đâu. Có lẽ, vẫn còn...)

戦いの行く末を見守りながら、ヴェルグリンドは力の回復に努めていた。

Vừa theo dõi diễn biến của trận chiến, Verugrynd vừa cố gắng hồi phục sức mạnh.

戦場では、何がどう転ぶかわからない。

Trên chiến trường, không thể biết được chuyện gì sẽ xảy ra.

ヴェルグリンドは何があっても対応出来るように、警戒を怠らないのだ。

Verugrynd không hề lơ là cảnh giác để có thể đối phó với bất cứ chuyện gì xảy ra.

そして──

Và rồi...

ヴェルグリンドの心配は的中する。

Lo lắng của Verugrynd đã trở thành sự thật.

イヴァラージェは、手加減を止める事にした。

Ivalage đã quyết định ngừng nương tay.

(コイツ、嫌い。せっかくヴェルダナーヴァと一つになれたのに、どうして邪魔する?)

(Tên này, ta ghét. Ta đã có thể hợp nhất với Verudanava rồi, tại sao lại làm phiền chứ?)

大人の姿になったのは、戦いを愉しむ為だった。

Việc biến thành hình dạng người lớn là để tận hưởng trận chiến.

強過ぎてツマラナイから、相手に合わせて戦っていただけなのだ。

Vì quá mạnh nên nhàm chán, nó chỉ chiến đấu cho phù hợp với đối thủ mà thôi.

所謂(いわゆる)、縛りプレイというヤツだ。

Nói cách khác, đó là một kiểu chơi với những ràng buộc tự đặt ra.

しかし今、リムルという敵に押されている。

Nhưng bây giờ, nó đang bị một kẻ địch tên Rimuru áp đảo.

何をしても攻撃が通用せず、当たる攻撃はとても痛かった。

Làm gì cũng không thể tấn công được, và những đòn tấn công trúng phải lại rất đau.

痛覚的な痛みではなく、エネルギーが削られる感覚が不快なのだ。

Không phải là nỗi đau về thể xác, mà là cảm giác năng lượng bị bào mòn thật khó chịu.

このまま戦い続けたら、敗北する可能性まで感じられた。

Nếu cứ tiếp tục chiến đấu như thế này, nó còn cảm thấy có khả năng sẽ thất bại.

それは、全然楽しくない。

Điều đó, hoàn toàn không vui.

面白くないなと、イヴァラージェは思ったのだ。

Không thú vị chút nào, Ivalage nghĩ.

『きゃは♪ オマエ、潰して食べてやる』

“Kya ha♪ Ngươi, ta sẽ nghiền nát và ăn thịt ngươi”

そう宣言するなり、イヴァラージェの異形化が始まった。

Vừa tuyên bố như vậy, quá trình biến dị của Ivalage đã bắt đầu.

人と呼べる形状から、形容し難い邪竜の姿へと。

Từ hình dạng có thể gọi là người, sang hình dạng tà long khó tả.

そして戦いは、最終局面へと至るのだ。

Và rồi trận chiến, bước vào giai đoạn cuối cùng.

何だかヤバい事になったなと、俺は他人事のように考えていた。

Có vẻ như mọi chuyện đã trở nên nghiêm trọng rồi, tôi nghĩ một cách thờ ơ như thể đó là chuyện của người khác.

剣で斬れるような姿ではなくなって、心情的にはお手上げなのだ。

Nó không còn ở hình dạng có thể dùng kiếm chém được nữa, về mặt tâm lí tôi đã bó tay.

少しずつ体力を削って、エネルギーを喰らい尽くして、どうにかこうにか倒す。それが俺の立てた作戦だったのだが、そんな悠長な事を言っている場合ではなくなってしまった。

Dần dần bào mòn thể lực, nuốt chửng năng lượng, và bằng cách nào đó đánh bại nó. Đó là kế hoạch mà tôi đã vạch ra, nhưng giờ không còn là lúc để nói những chuyện thong thả như vậy nữa.

人の姿だった頃に比べて、細胞片が含有するエネルギー量は少ない。その代わりに再生は容易になっていて、これでは剣ではダメージを与えても回復量が上回ってしまうのだ。

So với khi còn ở hình dạng người, lượng năng lượng chứa trong các mảnh tế bào ít hơn. Thay vào đó, việc tái sinh lại dễ dàng hơn, và như thế này thì dù có gây sát thương bằng kiếm, lượng hồi phục cũng sẽ vượt qua.

みんなで協力して、大規模魔法とか、超究極奥義的な必殺技とかで、消し飛ばせたなら良かったんだけどさ……今の〝停止世界〟での物理法則では、魔法は発動しないし放出系はほぼ放てない感じなんだよ。

Nếu mọi người cùng hợp sức, dùng những ma pháp quy mô lớn hay những kĩ năng tất sát mang tính奥義tối thượng để thổi bay nó thì tốt biết mấy... nhưng với các định luật vật lí trong “Thế Giới Ngưng Đọng” hiện tại, ma pháp không thể kích hoạt và các kĩ năng hệ phóng xuất gần như không thể tung ra.

つまり、地道に力比べするしかなくて、それももう無意味になってしまった訳だ。

Nói cách khác, chỉ còn cách so kè sức mạnh một cách kiên trì, và điều đó cũng đã trở nên vô nghĩa.

どうする、俺?

Làm sao đây, ta?

そう悩みつつ、俺は変化し続けるイヴァラージェを見て溜息を吐いた。

Vừa lo lắng như vậy, tôi vừa nhìn Ivalage đang liên tục biến đổi và thở dài.

倒せる可能性としては、多数で挑んでエネルギーを削り切るしかない、という結論なのだ。

Khả năng đánh bại nó, kết luận là chỉ có thể dùng số đông để tấn công và bào mòn hết năng lượng.

しかしそれでは、とても危険が大きいのである。

Tuy nhiên, làm vậy thì rủi ro rất lớn.

蘇生魔法どころか回復魔法さえ発動出来ない現状、安全策が何もない。これでは犠牲者が多数出るだろうなと、俺の直感が告げているのだ。

Trong tình hình hiện tại, ngay cả ma pháp hồi phục cũng không thể kích hoạt chứ đừng nói đến ma pháp phục sinh, không có biện pháp an toàn nào cả. Trực giác của tôi mách bảo rằng sẽ có rất nhiều người hi sinh.

少しでもミスしたら、多分終わり。喰われて消滅して、二度と再生も蘇生も出来なくなると思われた。

Chỉ cần sai lầm một chút thôi, có lẽ là hết. Bị nuốt chửng và biến mất, có lẽ sẽ không bao giờ có thể tái sinh hay phục sinh được nữa.

せめて、凄い威力の技とか遠距離からの攻撃手段などがあれば、もっと安全で有効な攻略が可能だと思うんだけどな……。

Ít nhất, nếu có những kĩ năng uy lực lớn hay phương pháp tấn công từ xa, thì có lẽ sẽ có thể攻略một cách an toàn và hiệu quả hơn...

<<あります♪ こんな時こそ、満を持して『竜種核化』を実行しましょう!! >>

<<Có ạ♪ Chính những lúc thế này, chúng ta hãy thực hiện “Lõi Hóa Long Chủng” một cách đầy tự tin!!>>

むむ?

Mumu?

ああ、忘れてたけど、そんな権能もあったな。

A, tôi quên mất, cũng có quyền năng đó nhỉ.

あれって──

Cái đó...

<<竜魔刀に名付けした〝希望(エルピス)〟ならば、〝竜種核〟を装着しても余裕で耐えられるでしょう>>

<<Nếu là “Hi Vọng (Elpis)” được đặt tên cho Long Ma Đao, thì dù có gắn “Lõi Long Chủng” vào cũng sẽ chịu được một cách dễ dàng>>

そうだった。

Đúng rồi.

ヴェルドラに頼んで、俺の剣に宿ってもらう感じだな。

Nhờ Verudora và để ông ấy trú ngụ trong thanh kiếm của mình.

これを使用すると、ヴェルドラを安全装置のように見立てた戦略は取れなくなる。けれどその代わり、絶大な力を行使出来るようになる訳だ。

Nếu sử dụng cái này, chiến lược coi Verudora như một thiết bị an toàn sẽ không thể thực hiện được nữa. Nhưng thay vào đó, tôi sẽ có thể sử dụng một sức mạnh to lớn.

怖くて封印していたが、この状況なのでやむなしだった。

Tôi đã phong ấn nó vì sợ, nhưng trong tình hình này thì đành chịu.

俺は早速、ヴェルドラに語り掛ける。

Tôi ngay lập tức nói chuyện với Verudora.

『ヴェルドラ、力を貸してくれないか?』

“Verudora, ông có thể cho tôi mượn sức mạnh không?”

俺がそう言うと、ヴェルドラが嬉しそうに反応した。

Khi tôi nói vậy, Verudora đã phản ứng một cách vui mừng.

『むむ、我の出番かな?』

“Mumu, đến lượt ta rồi sao?”

大物っぽくそう答えてくれたのだが、まさに今こそ、秘密兵器さんの出番であった。

Ông ấy đã trả lời một cách ra vẻ ta đây, nhưng chính lúc này mới là lúc vũ khí bí mật ra tay.

『その通りだとも! 今こそまさに、ずっと隠され続けてきた最終防衛ラインにして究極の力を秘めた、ヴェルドラさんの出番なのだよ!!』

“Đúng vậy! Chính lúc này, là lúc ra tay của ngài Verudora, tuyến phòng thủ cuối cùng đã được che giấu bấy lâu nay và ẩn chứa một sức mạnh tối thượng!!”

『クアーーーッハッハッハ!! そうであろう、そうであろうとも!! リムルよ、我はこの時を待ちわびておったわ!!』

“Kuaaaahahahaha!! Đúng vậy, đúng vậy!! Rimuru, ta đã chờ đợi thời khắc này từ rất lâu rồi!!”

ヴェルドラは、俺の申し出に快く応じてくれた。

Verudora đã vui vẻ đồng ý với lời đề nghị của tôi.

それでは早速──と、思ったのだが。

Vậy thì ngay lập tức... tôi nghĩ, nhưng.

『待ちなさいな。愚弟だけでは心許ないでしょう?』

“Chờ đã nào. Chỉ có em trai ngu ngốc của ta thì không đáng tin cậy phải không?”

『えっ!?』

“Ể!?”

『姉上、何を──ッ!!』

“Chị, chị đang...”

ヴェルグリンドが突然、自分も協力すると申し出てくれたのである。

Verugrynd đột nhiên đề nghị sẽ hợp tác.

<<ヴェルグリンドも『竜種核化』が可能です♪>>

<<Verugrynd cũng có thể “Lõi Hóa Long Chủng” ạ♪>>

そりゃあ、そうだろうけどさ。

Thì, chắc chắn là vậy rồi.

シエルさんの場合、単にデータを収集したいだけに見えるから怖い。

Trường hợp của Ciel-san, có vẻ như cô ấy chỉ muốn thu thập dữ liệu thôi nên thật đáng sợ.

『いいでしょう、ルドラ?』

“Được chứ, Rudra?”

『ああ、〝グリュン〟。自分の身(マサユキ)くらい自分で守れるから、お前の好きにすればいいさ』

“Ừ, “Gryun”. Ta có thể tự bảo vệ bản thân (Masayuki), nên em cứ làm những gì em muốn đi”

『愛しているわ、ルドラ。勿論、マサユキもね』

“Em yêu chàng, Rudra. Dĩ nhiên, cả Masayuki nữa”

『あはは、僕もヴェルグリンドさんを信じています。なので、リムルさんを助けてあげてください!』

“A ha ha, tôi cũng tin tưởng Verugrynd-san. Vì vậy, xin hãy giúp đỡ Rimuru-san!”

『まあ! ウフフ、嬉しい。好きよ、マサユキ。頑張ってくるわね』

“Ôi! Ufufu, vui quá. Chị thích em, Masayuki. Chị sẽ cố gắng”

俺がシエルさんと話し合っている隙に、ヴェルグリンドの方でも話し合いが終わっていた。

Trong lúc tôi đang nói chuyện với Ciel-san, thì bên phía Verugrynd cũng đã thảo luận xong.

マサユキもしれっと〝停止世界〟に慣れている上に、ヴェルグリンドの参戦を許諾しちゃってた。俺の為を思っての善意なので、有難く手伝ってもらう事にする。

Masayuki cũng đã quen với “Thế Giới Ngưng Đọng” một cách thản nhiên, và còn cho phép Verugrynd tham chiến. Vì đó là thiện ý nghĩ cho tôi, nên tôi quyết định sẽ trân trọng sự giúp đỡ của họ.

『わ、我の出番が……独壇場が……』

“L-Lượt của ta... sân khấu của riêng ta...”

と、ショックを受けている盟友(ヴェルドラ)もいたので、そっと慰める。

Có một người đồng minh (Verudora) đang bị sốc, nên tôi nhẹ nhàng an ủi.

『だ、大丈夫さ! 刀の孔は二つ空いてるんだし、君の大事な役目がなくなる訳じゃないから!!』

“K-Không sao đâu! Trên đao có hai lỗ mà, vai trò quan trọng của ông không mất đi đâu!!”

その方が強そうで、俺も安心だしさ──という本音もあるので、そんなに嘆かないでもらいたい。

Vì như vậy có vẻ mạnh hơn, và tôi cũng yên tâm hơn... cũng có một phần suy nghĩ thật lòng như vậy, nên tôi không muốn ông ấy than thở nhiều.

ともかく、ヴェルドラとヴェルグリンドの協力は取り付けた。

Dù sao đi nữa, sự hợp tác của Verudora và Verugrynd đã được đảm bảo.

後は実際に、どこまで通用するか試してみるだけだ。

Phần còn lại chỉ là thử xem nó có tác dụng đến đâu.

そう思っていると、背後に気配が。

Vừa nghĩ vậy thì có một luồng khí tức ở phía sau.

『おい、オレも手伝ってやろうか?』

“Này, ta giúp một tay nhé?”

俺の耳元に、ギィがそう囁いたのだ。

Guy đã thì thầm vào tai tôi như vậy.

その申し出は、正直言ってとても嬉しい。

Lời đề nghị đó, thành thật mà nói, rất đáng mừng.

『いや、先ずは一撃当ててみる。それを踏まえて、何とか攻略方法を探ってみようじゃないか』

“Không, trước tiên cứ thử tung một đòn đã. Dựa vào đó, chúng ta hãy thử tìm cách攻略xem sao”

『そうかよ。あそこまでのバケモノだと、生半可な攻撃じゃあ、通用しそうもねーけどな』

“Vậy sao. Đối với một con Quái vật đến mức đó, thì những đòn tấn công nửa vời chắc cũng không có tác dụng đâu”

そうだよね、そう思うよね。

Đúng vậy, tôi cũng nghĩ vậy.

俺も同意見だ。

Tôi cũng đồng ý.

だからこその、最強攻撃なのである。

Chính vì vậy, đây mới là đòn tấn công mạnh nhất.

試した事はないんだけど、きっと間違いないはずだ。

Tôi chưa từng thử, nhưng chắc chắn là không sai đâu.

『あらあら、強がりさんなのね、リムルは。それじゃあギィの代わりに、私が手伝ってあげるわ』

“Ara ara, Rimuru đúng là một người hay tỏ ra mạnh mẽ. Vậy thì thay cho Guy, ta sẽ giúp cậu”

おっと?

Ồ?

<<大歓迎です♪>>

<<Rất hoan nghênh ạ♪>>

それはつまり、ヴェルザードも『竜種核化』可能って事ね。

Điều đó có nghĩa là Veruzard cũng có thể “Lõi Hóa Long Chủng”.

確かに権能が増えていたけど、俺の〝希望(エルピス)〟には二個しか孔がなかったよね?

Đúng là quyền năng đã tăng lên, nhưng “Hi Vọng (Elpis)” của tôi chỉ có hai lỗ thôi phải không?

ヴェルドラとヴェルグリンドを〝竜種核〟として嵌め込んで挑むつもりだったが、風や炎が通用しなかった時の代(だい)替(たい)品にするとか?

Tôi định sẽ lắp Verudora và Verugrynd vào làm “Lõi Long Chủng” để chiến đấu, nhưng hay là để làm vật thay thế khi gió và lửa không có tác dụng?

<<いいえ、同時使用が可能です>>

<<Không, có thể sử dụng đồng thời ạ>>

え?

Hả?

そう指摘されたので、俺は慌てて剣を確認してみた。

Được chỉ ra như vậy, tôi vội vàng kiểm tra thanh kiếm.

すると、だ。

Và rồi.

驚くべき事に、〝希望(エルピス)〟は刀の核(ブレードコア)を嵌める孔が三つ空いていたのである。

Thật kinh ngạc, “Hi Vọng (Elpis)” có ba lỗ để lắp Lõi Đao.

嘘でしょ!? と驚くが、シエルさんはやる気満々だった。

Không thể nào!? Tôi kinh ngạc, nhưng Ciel-san lại rất hăng hái.

こうなるともう、止めるのは難しい。

Đến nước này thì khó mà ngăn cản được nữa.

剣が耐えられるのかどうかとか、不安もある。

Cũng có những lo lắng như liệu thanh kiếm có chịu được không.

しかしそれよりも、可能な限りの大威力をイヴァラージェにぶつけたい、という本音もあるのだ。

Nhưng hơn thế nữa, cũng có một suy nghĩ thật lòng là muốn tung ra một đòn tấn công uy lực nhất có thể vào Ivalage.

自己再生するより先に倒してしまいたいのだから、出し惜しみしている場合ではないのである。

Vì tôi muốn đánh bại nó trước khi nó tự tái sinh, nên đây không phải lúc để nương tay.

『それじゃあ、ヴェルザードさんにも手伝ってもらおうかな』

“Vậy thì, có lẽ tôi nên nhờ cả Veruzard-san giúp đỡ”

『任せなさい』

“Cứ giao cho ta”

秘密にしていたのに不思議な話だが。ヴェルザードは、俺が何をしようとしているのか、ちゃんと理解している様子だった。

Dù đã giữ bí mật nhưng thật kì lạ. Veruzard có vẻ như đã hiểu rõ tôi định làm gì.

権能の関係で、何か伝わるものがあるのかも?

Có lẽ do mối quan hệ về quyền năng, nên có điều gì đó đã được truyền đạt?

その証拠に、ヴェルドラやヴェルグリンドも直ぐに察する事になる。

Bằng chứng là, Verudora và Verugrynd cũng ngay lập tức nhận ra.

『それじゃあ、始めるぞ!』

“Vậy thì, bắt đầu thôi!”

『ようやくの我の出番を、存分に見せつけてやろう!』

“Cuối cùng cũng đến lượt ta, ta sẽ cho các ngươi thấy hết sức mạnh của mình!”

『準備は万端、遠慮しなくてもいいわよ』

“Chuẩn bị đã xong, không cần phải khách sáo đâu”

『それじゃあ、さっさと終わらせましょうか』

“Vậy thì, hãy kết thúc nhanh chóng nào”

ヴェルドラ、ヴェルグリンド、ヴェルザードの順番に、俺からの『申請』に『応諾』してくれた。この権能は契約によるものなので、事前に確認と承認が必要となるのだ。

Thứ tự là Verudora, Verugrynd, Veruzard, họ đã “Đồng ý” với “Yêu cầu” của tôi. Quyền năng này dựa trên hợp đồng, nên cần phải có sự xác nhận và chấp thuận trước.

なので、これで問題なし。

Vì vậy, không có vấn đề gì.

俺は早速、『竜種核化』を発動させた。

Tôi ngay lập tức kích hoạt “Lõi Hóa Long Chủng”.

その途端、ヴェルドラ達が光を放ち、みるみると縮小し始める。

Ngay lúc đó, nhóm của Verudora tỏa sáng và bắt đầu thu nhỏ lại.

宙に浮かぶのは、三つの小さな刀の核(ブレードコア)で──今の一瞬で、三者三様の色彩で輝く〝竜種核〟へと変化したのである。

Lơ lửng trong không trung là ba Lõi Đao nhỏ... và chỉ trong một khoảnh khắc, chúng đã biến thành “Lõi Long Chủng” tỏa sáng với ba màu sắc khác nhau.

ヴェルドラは、黒と紫だな。

Verudora là màu đen và tím.

ヴェルグリンドは、赤と金が織りなす輝き。

Verugrynd là ánh sáng hòa quyện giữa màu đỏ và vàng.

ヴェルザードは、白と青が美しく調和していた。

Veruzard là sự hòa quyện tuyệt đẹp giữa màu trắng và xanh.

そしてそれらは、吸い込まれるように俺の剣──〝希望(エルピス)〟にカチッと嵌った。

Và rồi chúng, như bị hút vào, khớp vào thanh kiếm của tôi... “Hi Vọng (Elpis)”... một cách hoàn hảo.

最初からそこに在ったような、居心地の良い安心感がする。

Cảm giác như nó đã ở đó từ đầu, một cảm giác thoải mái và an tâm.

何だか、何でも出来そうな万能感があった。

Có một cảm giác vạn năng, như thể có thể làm được bất cứ điều gì.

それに、俺はもう独りではないのだ。

Hơn nữa, tôi không còn đơn độc nữa.

ヴェルドラ達もいる。

Cũng có nhóm của Verudora.

もう、負ける気はしなかった。

Tôi không còn có cảm giác sẽ thua nữa.

さて、と。

Được rồi.

剣を握るだけで気分が高揚する。

Chỉ cần cầm thanh kiếm thôi cũng đủ khiến tâm trạng phấn chấn.

イヴァラージェが怖くなくなったのは僥(ぎょう)倖(こう)だが、まだ勝った訳ではない。それに、俺達の戦いは相当ヤバいと思われるので、何が起きるかわからない。逃げられる者はともかく、動けなくなった者達を守ってもらわないとダメなので、ギィ達にも頑張ってもらわないとダメだろう。

Việc không còn sợ Ivalage nữa là một điều may mắn, nhưng không có nghĩa là đã thắng. Hơn nữa, trận chiến của chúng ta có vẻ sẽ rất nguy hiểm, nên không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Bỏ qua những người có thể chạy thoát, tôi cần phải bảo vệ những người không thể di chuyển, nên nhóm của Guy cũng phải cố gắng thôi.

『ギィ、後の事は任せていいか?』

“Guy, những chuyện còn lại có thể giao cho cậu không?”

『ああ。それよりも、本当にオレが手伝わなくてもいいのかよ?』

“Ừ. Hơn thế nữa, thật sự không cần ta giúp sao?”

心配そうなギィを見るのは初めてだが、ヴェルザードがいるからかもね。

Đây là lần đầu tiên tôi thấy Guy lo lắng như vậy, nhưng có lẽ là vì có Veruzard ở đây.

それに、ギィならば間違いなく役立てるだろうし。

Hơn nữa, nếu là Guy thì chắc chắn sẽ có ích.

でも、俺の答えは変わらない。

Nhưng, câu trả lời của tôi không thay đổi.

『それについては、俺達で頑張ってみるさ』

“Về chuyện đó, chúng tôi sẽ cố gắng”

『大した自信だな』

“Tự tin gớm nhỉ”

『ただし、ちょっと全力を出すつもりだから、地上に影響が出ないように気をつけてもらいたいんだ』

“Tuy nhiên, tôi định sẽ dốc toàn lực, nên mong cậu hãy cẩn thận để không ảnh hưởng đến mặt đất”

『ほう、それほどかよ?』

“Ồ, đến mức đó sao?”

そう言いながら、ギィが〝希望(エルピス)〟へと目を向ける。

Vừa nói, Guy vừa hướng mắt về phía “Hi Vọng (Elpis)”.

そこに輝くヴェルドラ達の〝竜種核〟を見て、さもありなん、と納得している様子だ。

Nhìn thấy “Lõi Long Chủng” của nhóm Verudora đang tỏa sáng ở đó, anh ta có vẻ đã hiểu ra và chấp nhận.

『ああ。試した事がないから断言出来ないが、少なくともミリムが全力でぶっ放す〝竜星爆炎覇(ドラゴ・ノヴァ)〟よりも高威力で広範囲だと思う』

“Ừ. Tôi chưa từng thử nên không thể khẳng định, nhưng tôi nghĩ ít nhất nó cũng có uy lực cao hơn và phạm vi rộng hơn “Long Tinh Bộc Viêm Bá (Drago Nova)” mà Millim tung ra hết sức”

実際、〝竜種核〟を三つも装着した〝希望(エルピス)〟が、どこまでの威力を出せるか不明なのだ。自分の攻撃で仲間達を危険に晒すなど論外だし、地上にいる人々まで巻き込んだら大変だった。

Thực tế, không rõ “Hi Vọng (Elpis)” được trang bị ba “Lõi Long Chủng” có thể tạo ra uy lực đến mức nào. Việc gây nguy hiểm cho đồng đội bằng đòn tấn công của chính mình là không thể chấp nhận được, và nếu cuốn cả những người trên mặt đất vào thì sẽ rất phiền phức.

俺としても気をつけるが、ギィ達の方でも注意してもらいたかった。

Tôi cũng sẽ cẩn thận, nhưng tôi cũng muốn nhóm của Guy chú ý.

『何だとッ!? ぐぬぬ、まあ、リムルならそうなのかもな……』

“Cái gì!? Gừừừ, mà, nếu là Rimuru thì có lẽ vậy...”

俺とギィの話を聞いていたのか、ミリムが悔しそうに歯ぎしりした。

Có lẽ đã nghe thấy cuộc nói chuyện giữa tôi và Guy, Millim nghiến răng một cách cay đắng.

けどまあ、事実なので仕方ない。それよりも、ミリムにも皆の安全を守るように協力してもらいたい。

Nhưng mà, đó là sự thật nên đành chịu. Hơn thế nữa, tôi muốn Millim cũng hợp tác để bảo vệ an toàn cho mọi người.

『わかったぜ。ミリムよ、お前も納得しな』

“Ta hiểu rồi. Millim, ngươi cũng chấp nhận đi”

『ぐぬぬ、わかっているのだ! 少なくとも、ワタシの攻撃が通用しなかった相手なのだから、それ以上の強さがなければ話にならないのだ』

“Gừừừ, ta biết rồi! Ít nhất, đối thủ đó là kẻ mà đòn tấn công của ta không có tác dụng, nên nếu không có sức mạnh vượt trội hơn thì không thể nói chuyện được”

ミリムも、頭では理解していた様子だった。

Millim cũng có vẻ đã hiểu ra trong đầu.

俺の方針に従い、ギィ達と協力してくれる事になった。

Cô ấy đã đồng ý tuân theo phương châm của tôi và hợp tác với nhóm của Guy.

ところで、気になるのはミリムが抱いている存在だ。

Nhân tiện, điều khiến tôi bận tâm là sự tồn tại mà Millim đang ôm.

『それって──』

“Đó là...”

『うむ! ガイアなのだ。この子は賢いから、〝停止世界〟でも動けるようになったのだぞ!!』

“Ừm! Là Gaia đó. Con bé này thông minh lắm, nên đã có thể di chuyển cả trong “Thế Giới Ngưng Đọng” rồi!!”

おお、凄い。本当に凄い。

Ồ, tuyệt vời. Thật sự tuyệt vời.

流石は竜の血族だが、それよりもやはり、ミリムとの繋がり──〝絆〟のお陰なのかもな。

Đúng là dòng máu rồng, nhưng có lẽ hơn thế nữa, đó là nhờ vào sự kết nối với Millim... “mối liên kết”.

『このガイアちゃんはさ、皆の力を集めて『極大結界』を張れるみたいなのよさ! しかもしかも、〝竜種〟に準じるだけあって、原理的には〈竜種魔法〉や原初の魔法(プリミティブマジック)と同等なのよさ!』

“Gaia-chan này, có thể tập hợp sức mạnh của mọi người để tạo ra “Kết giới cực đại” đấy! Hơn nữa, hơn nữa, vì gần như là “Long chủng”, nên về nguyên lí, nó tương đương với <Ma Pháp Long Chủng> và Ma Pháp Nguyên Sơ (Primitive Magic)!”

『つまり?』

“Nghĩa là?”

『つまり──』

“Nghĩa là...”

『時間や空間に関係なく、何時でも何処でも発動出来るのだ!!』

“Bất kể thời gian hay không gian, có thể kích hoạt bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu!!”

おお、マジで凄い。

Ồ, thật sự tuyệt vời.

しかも防御系とか、この局面で一番望んでた権能だな。

Hơn nữa còn là hệ phòng ngự, đúng là quyền năng mà tôi mong muốn nhất trong tình hình này.

『ちょっと、アタシが言おうとしたのに!!』

“Này, tui định nói mà!!”

『うるさいのだ! ガイアの自慢はワタシがするのだ!!』

“Ồn ào quá! Ta sẽ là người khoe khoang về Gaia!!”

ラミリスとミリムが、大人げない喧嘩をしている。姿が変わっても、ラミリスはラミリスという事だね。

Lamrys và Millim đang cãi nhau một cách trẻ con. Dù hình dạng có thay đổi, Lamrys vẫn là Lamrys.

ともかく、ガイアを通して二人とも手伝ってくれるらしいので、かなり安心というものだった。

Dù sao đi nữa, có vẻ như cả hai sẽ giúp đỡ thông qua Gaia, nên tôi cảm thấy khá yên tâm.

『コイツらもこう言ってるんだ、こっちは任せな』

“Bọn này cũng nói vậy rồi, bên này cứ để ta lo”

ギィがそう締めくくる。

Guy kết luận như vậy.

『リムル、ヤツを倒すのは任せたのだ!』

“Rimuru, việc đánh bại hắn giao cho ngươi đó!”

『負けないでよね、リムル!』

“Đừng có thua đấy, Rimuru!”

『ああ、せいぜい頑張るさ。俺だけならともかく、こっちにはヴェルドラや、竜種姉妹のお姉様方もついてるんだ。そう簡単には負けないさ!』

“Ừ, tôi sẽ cố gắng hết sức. Nếu chỉ có một mình tôi thì không nói, nhưng bên này còn có Verudora và cả các chị em Long chủng nữa. Tôi không dễ dàng thua đâu!”

俺は自分を鼓舞する意味も込めて、そう豪語した。

Tôi đã nói một cách hùng hồn, cũng là để tự khích lệ bản thân.

格闘家が試合前にイキッたりするけど、あれは自分を追い込む意味もあるので、そういうのも含めてエンターテイナーだと思う。俺の場合は娯楽を提供したい訳ではないので、やり過ぎという事はない。もっともっと自分を追い込んで、全力を出せるようにしないとならないのだ。

Các võ sĩ thường tỏ ra kiêu ngạo trước trận đấu, nhưng điều đó cũng có ý nghĩa là tự dồn mình vào thế khó, nên tôi nghĩ họ cũng là những nghệ sĩ giải trí. Trường hợp của tôi không phải là muốn cung cấp giải trí, nên không thể nói là làm quá. Tôi phải dồn mình vào thế khó hơn nữa để có thể phát huy hết sức mạnh.

そんな俺の気概が通じたのかどうか、ディアブロがキラキラした目をしている。

Không biết khí phách của tôi có được truyền đạt hay không, nhưng Diablo lại có một đôi mắt lấp lánh.

『リムル様、御武運を!』

“Ngài Rimuru, chúc ngài may mắn!”

恭しく一礼しながら、ディアブロがそう言った。

Diablo vừa cúi đầu một cách cung kính vừa nói.

これに続いて、テスタロッサ達も激励してくれる。

Tiếp theo đó, nhóm của Testarossa cũng động viên.

『勝利を祈願しておりますわね』

“Chúng tôi cầu nguyện cho chiến thắng của ngài”

『リムル様なら楽勝だよね♪』

“Nếu là ngài Rimuru thì chắc chắn sẽ thắng dễ dàng nhỉ♪”

『当然だ。ヴェルドラ様達まで協力しているのなら、負ける要素がないとも!!』

“Đương nhiên rồi. Nếu cả ngài Verudora cũng hợp tác, thì không có yếu tố nào để thua cả!!”

ビックリするくらい、俺への信頼が厚かった。

Sự tin tưởng của họ đối với tôi thật đáng kinh ngạc.

それは、ベニマルやゼギオンも同様だ。

Benimaru và Zegion cũng vậy.

俺は大きく頷き、ニヤリと笑って告げる。

Tôi gật đầu một cách dứt khoát, cười toe toét và nói.

『さっさと終わらせて、平和を取り戻すぞ!』

“Hãy kết thúc nhanh chóng và mang lại hòa bình!”

『そうですね、もっと甘味を増やす計画も途中ですし、その他の娯楽関連施設だって着手が先延ばしになってますし、さっさと問題を解決して日常に戻りたいものです』

“Đúng vậy, kế hoạch tăng thêm đồ ngọt cũng đang dở dang, các cơ sở giải trí khác cũng bị trì hoãn, chúng ta nên nhanh chóng giải quyết vấn đề và trở lại cuộc sống bình thường”

『その通りだな、ベニマル!』

“Đúng vậy, Benimaru!”

『オレは戦う事しか出来ませんので、次はリムル様の手を煩わせずに済むように、早く修行の日々に戻りたいものです』

“Tôi chỉ có thể chiến đấu thôi, nên tôi muốn nhanh chóng trở lại những ngày tháng tu luyện để lần sau không làm phiền đến tay ngài Rimuru nữa”

『ほ、ほどほどにね。それにまあ、戦う以外の趣味も見つけたらいいと思うぞ!』

“C-Cũng vừa phải thôi nhé. Với lại, tôi nghĩ cậu nên tìm một sở thích khác ngoài chiến đấu!”

ベニマルやゼギオンの言葉からは、日常の大切さを思い出させてもらった。

Từ những lời nói của Benimaru và Zegion, tôi đã được nhắc nhở về tầm quan trọng của cuộc sống thường ngày.

それに加えて、未来への希望を。

Và thêm vào đó là hi vọng vào tương lai.

誰もが生を楽しめるように、もっともっと色々な娯楽を生み出さねばなるまい。

Để ai cũng có thể tận hưởng cuộc sống, tôi phải tạo ra nhiều, nhiều hơn nữa những loại hình giải trí khác nhau.

その為にも、イヴァラージェは必ず倒さねばならぬのだ。

Và vì thế, tôi nhất định phải đánh bại Ivalage.

『万が一俺が負けたら──』

“Nếu lỡ tôi có thua...”

『笑えない冗談ですよ』

“Một trò đùa không vui đâu ạ”

『リムル様は、万能にして無敵』

“Ngài Rimuru là vạn năng và bất bại”

『クフフフフ。リムル様が敗北するなど有り得ませんとも』

“Kufufufu. Không thể có chuyện ngài Rimuru thất bại được”

万感の信頼を込めて、ベニマル達がそう断言してくれた。

Nhóm của Benimaru đã khẳng định như vậy với tất cả sự tin tưởng.

テスタロッサ達も、その通りだと頷いてくれている。

Nhóm của Testarossa cũng gật đầu đồng ý.

俺も負けるつもりはないが、勝てる保証もない。それなのに皆は、俺が負けるとは露ほども思っていないようだ。

Tôi cũng không có ý định thua, nhưng cũng không có gì đảm bảo sẽ thắng. Dù vậy, mọi người dường như không hề nghĩ rằng tôi sẽ thua.

これくらい期待されている方が、負けられないという気分になるので丁度いい。

Được kì vọng đến mức này, tôi lại có cảm giác không thể thua, nên cũng vừa hay.

そんなディアブロ達を押しのけるようにして、フェルドウェイがやって来た。

Như thể đẩy nhóm Diablo sang một bên, Feldway tiến đến.

『我が神よ、我が主君だったヴェルダナーヴァ様の仇を、どうか討ち滅ぼして頂けませんか?』

“Thần của tôi ơi, xin ngài hãy tiêu diệt kẻ thù của chủ quân tôi, ngài Verudanava, được không ạ?”

『──は?』

“... Hả?”

ヴェルダナーヴァの仇討ちとか、結果的にはそうなるかもだけど、そんな意図は欠片もない。それよりも気になるのは、俺の事を『我が神』とか呼び出した事だろう。

Báo thù cho Verudanava, kết quả có thể là vậy, nhưng tôi không hề có ý định đó. Điều khiến tôi bận tâm hơn là việc hắn gọi tôi là “Thần của tôi”.

頭でも強く打ったのだろうか?

Hay là hắn bị đập đầu vào đâu đó?

『貴様、我らのリムル様を勝手に崇めるなど、図々しいにも程がありますよ』

“Ngươi, dám tự ý tôn thờ ngài Rimuru của chúng ta, thật là trơ trẽn quá mức”

ディアブロがキレ気味にそう指摘した。

Diablo chỉ ra một cách tức giận.

『これだから、身のほど知らずな愚者は困るのよ。奉仕もせず要求から入るなど、無礼千万というものでしょうに』

“Thế nên, những kẻ ngu xuẩn không biết thân biết phận thật là phiền phức. Không hề phục vụ mà đã đưa ra yêu cầu, thật là vô lễ quá mức”

『本当だよね。まあさ、リムル様を崇拝したくなる気持ちは、理解出来なくもないけど』

“Đúng vậy. Mà, cảm giác muốn tôn thờ ngài Rimuru thì cũng không phải là không hiểu được”

『そう言ってやるな。敬うべき主君を失って、混乱しているのだろうさ』

“Đừng nói vậy chứ. Mất đi chủ quân đáng kính, chắc hắn đang bối rối lắm”

なかなか酷い言い様だが、フェルドウェイが意味不明過ぎるので、その発言を止めたりはしなかった。

Dù nói khá cay nghiệt, nhưng vì Feldway quá khó hiểu nên tôi không ngăn cản những lời nói đó.

なので、ディアブロ達と口論になりかけたフェルドウェイを止めたのは、彼の仲間達である。コルヌはフェルドウェイに加勢しようとしたが、オベーラとザラリオが間に入ったのだ。

Vì vậy, những người đã ngăn Feldway, người sắp cãi nhau với nhóm Diablo, chính là đồng đội của hắn. Cornu định hỗ trợ Feldway, nhưng Obera và Zalario đã xen vào.

そこに、ディーノ達三名もやって来て、仕方ないとばかりに仲裁してくれた。

Lúc đó, ba người của nhóm Dino cũng đến và miễn cưỡng đứng ra hòa giải.

『あのさ、俺は怠惰に惰眠を貪りたいんだよ。揉めるなとは言わないから、先に問題を解決しようぜ!』

“Này, tôi muốn được lười biếng ngủ nướng cơ. Tôi không nói là đừng cãi nhau, nhưng hãy giải quyết vấn đề trước đi!”

前半部分はともかく,後半はディーノらしからぬ正論だった。

Bỏ qua phần đầu, phần sau là một lí lẽ đúng đắn không giống với Dino.

ギィもそろそろキレそうだったし、これに反対意見が出るはずもなかった。

Guy cũng sắp nổi điên rồi, nên không có lí do gì để có ý kiến phản đối.

決着は後日──という事になり、一致団結して『極大結界』の維持に協力してくれる手筈となったのだった。

Việc quyết đấu sẽ được hoãn lại... và họ đã đồng ý hợp tác để duy trì “Kết giới cực đại”.

最後に俺の前に立ったのは、思い詰めた表情をしたクロエだった。

Người cuối cùng đứng trước mặt tôi là Chloe, với một vẻ mặt đầy tâm sự.

『リムルさん、未来を見通す事は出来ないけれど、きっと上手くいくよね?』

“Rimuru-san, dù không thể nhìn thấy tương lai, nhưng chắc chắn mọi chuyện sẽ ổn thôi đúng không?”

『当然だろ? ここまで上手くいったのは初めてだと言ってたけど、俺をここまで導いてくれたのは、間違いなくクロエだよ。その頑張りに報いる為にも、ここでキッチリと終わらせてやるさ!』

“Đương nhiên rồi? Dù cậu có nói đây là lần đầu tiên mọi chuyện diễn ra suôn sẻ đến thế, nhưng người đã dẫn dắt tôi đến đây chắc chắn là Chloe. Để đền đáp cho sự cố gắng đó, tôi sẽ kết thúc mọi chuyện một cách gọn gàng ở đây!”

クロエがいなければ、俺はとっくに終わっていたんだよな。

Nếu không có Chloe, tôi đã kết thúc từ lâu rồi.

そう考えると、今の状況はもうやり直しも出来ない訳で……。

Nghĩ vậy, tình hình hiện tại đã không còn có thể làm lại được nữa...

責任重大だ。

Trách nhiệm thật nặng nề.

だからこそ、俺にも気合が入るというものである。

Chính vì vậy, tôi cũng phải dồn hết sức.

『私は、リムルさんを……でも、もしも負けてしまったら──』

“Tôi, Rimuru-san... nhưng, nếu lỡ thua...”

『安心しろ。俺が負けるなんて有り得ないそうだぞ? まあ、それが本当か嘘か、さっさと証明するとするさ』

“Yên tâm đi. Có vẻ như không thể có chuyện tôi thua đâu? Mà, đó là thật hay dối, tôi sẽ nhanh chóng chứng minh cho xem”

俺が冗談っぽくディアブロの言葉を引用すると、クロエもようやく笑みを見せた。

Khi tôi trích dẫn lời của Diablo một cách đùa cợt, Chloe cuối cùng cũng mỉm cười.

『うん、信じてる』

“Ừm, em tin tưởng”

クロエの不安そうだった表情が和らぎ、俺を信じるという言葉にも力が感じられた。

Vẻ mặt lo lắng của Chloe dịu đi, và trong lời nói tin tưởng tôi cũng có thể cảm nhận được sức mạnh.

これもまた、俺への期待が為せる業だ。

Đây cũng là kết quả của sự kì vọng mà mọi người dành cho tôi.

もうそろそろ、自分を追い詰めるのも十分だろう。

Có lẽ đã đến lúc ngừng tự dồn mình vào thế khó rồi.

そうして俺は、皆の言葉から力をもらった。

Và thế là, tôi đã nhận được sức mạnh từ những lời nói của mọi người.

ギィ、ミリム、ラミリス、クロエ、ディアブロにテスタロッサ達。予想外だったが、フェルドウェイ一派からもそれなりに力を得た。

Guy, Millim, Lamrys, Chloe, Diablo và nhóm của Testarossa. Dù bất ngờ, nhưng tôi cũng đã nhận được một chút sức mạnh từ phe của Feldway.

そして皆は力を合わせるように、ミリムが抱くガイアに向けて、各々の力を注いでくれている。

Và rồi mọi người, như thể hợp sức lại, đang truyền sức mạnh của mình vào Gaia mà Millim đang ôm.

そしてその視線は、俺だけに向けられていた。

Và ánh mắt đó, chỉ hướng về phía tôi.

全員の視線が背中に集中するのを感じて、俺は片手を上げて応えたのだった。

Cảm nhận được ánh mắt của mọi người đang tập trung vào lưng mình, tôi đã giơ một tay lên đáp lại.

戦い始める前に、念には念を入れておきたい。

Trước khi bắt đầu trận chiến, tôi muốn chuẩn bị kĩ lưỡng.

俺は、地上で動きを止めている人々に目を向けた。

Tôi hướng mắt về những người đang bất động trên mặt đất.

そう簡単に衝撃波が生じたりしないので、直接ぶつからない限りは大丈夫だとは思うが、〝停止世界〟では結合力=防御力がゼロになっている。どんな物質であろうが強度はなくなり、触れられただけで壊れてしまうのだ。

Vì sóng xung kích không dễ dàng được tạo ra, nên tôi nghĩ chỉ cần không va chạm trực tiếp thì sẽ không sao, nhưng trong “Thế Giới Ngưng Đọng”, lực liên kết = lực phòng ngự đã trở về không. Bất kể vật chất nào cũng sẽ mất đi độ bền và chỉ cần chạm vào là sẽ vỡ tan.

人もまた同様、今はヴェルザードの『固定』の影響下にあるようだが、何かの弾みで戦いに影響が及ばないようにしておきたかった。

Con người cũng vậy, hiện tại họ đang chịu ảnh hưởng của “Cố định” của Veruzard, nhưng tôi muốn đảm bảo rằng không có bất cứ sự cố nào ảnh hưởng đến trận chiến.

『そっちは任せなさい』

“Bên đó cứ để ta lo”

そう答えが返ってきて、ヴェルザードの〝竜種核〟が輝いた。

Câu trả lời vang lên, và “Lõi Long Chủng” của Veruzard tỏa sáng.

その権能は──『固定』──である。

Quyền năng đó chính là... “Cố định”.

『これで、さっきよりも強化されたわよ。リムルの力も借りたから、より安心出来ると思うわ』

“Như thế này, nó đã được cường hóa hơn lúc nãy rồi đó. Ta cũng đã mượn sức mạnh của Rimuru, nên ta nghĩ sẽ an tâm hơn”

この戦場に集った英雄達は、ヴェルザードが『氷像』にしてずっと守っていた。その『完全固定』をより強化させて、俺達の戦闘余波に耐えられるようにしてくれたのである。

Những anh hùng tập trung trên chiến trường này đã được Veruzard bảo vệ bằng cách biến họ thành “tượng băng”. Cô đã cường hóa thêm “Cố định hoàn toàn” đó để họ có thể chịu được dư chấn từ trận chiến của chúng tôi.

『おお、ありがとう!』

“Ồ, cảm ơn!”

『どういたしまして』

“Không có gì”

俺は御礼を言った。

Tôi đã nói lời cảm ơn.

これで気兼ねなく、イヴァラージェと戦えるというものだ。

Như vậy, tôi có thể chiến đấu với Ivalage mà không cần phải lo lắng gì.

こちらの準備が完了したように、イヴァラージェの方も完全変形を終えていた。

Như thể bên này đã chuẩn bị xong, phía Ivalage cũng đã hoàn thành việc biến hình.

巨大化して、体長は百メートルにも達している。

Nó đã khổng lồ hóa, chiều dài cơ thể đã đạt đến một trăm mét.

その姿は完全に異形化しているが、不気味な威容を誇っていた。

Hình dạng của nó đã hoàn toàn biến dị, nhưng lại mang một vẻ uy nghi đến rợn người.

上半身は三対の腕を持つ人で、下半身は六つ足の狼。

Nửa thân trên là một người có ba cặp tay, nửa thân dưới là một con sói sáu chân.

その頭部は、竜。頭頂から後頭部にかけて、燃え盛る炎のような鬣(たてがみ)が繋がっている。

Đầu của nó là một con rồng. Từ đỉnh đầu đến sau gáy, một chiếc bờm giống như ngọn lửa đang bùng cháy kéo dài.

人部分の背には、大鷲の如き翼が三対生えていた。

Trên lưng của phần người, có ba cặp cánh giống như của một con đại bàng.

その全身は、頭部から足の一本一本に至るまで、びっしりと竜(りゅう)鱗(りん)に覆われている。

Toàn thân nó, từ đầu đến từng chiếc chân, đều được bao phủ dày đặc bởi vảy rồng.

特徴的なのは、竜の額だ。

Điểm đặc trưng là trán của con rồng.

そこには、人間の顔があったのだ。

Ở đó, có một khuôn mặt người.

ルシアとヴェルダナーヴァが混ざり合ったような、男とも女とも断定し難い容貌をしていた。

Nó có một khuôn mặt khó có thể xác định là nam hay nữ, như thể là sự hòa trộn giữa Lucia và Verudanava.

狼の尻尾は、無数の触手だ。

Đuôi của con sói là vô số xúc tu.

これは際限なく生み出せそうだし、何なら尻尾部分以外からも生やせそうなので、見た目に惑わされないように注意しようと思った。

Thứ này có vẻ có thể được tạo ra vô hạn, và thậm chí có thể mọc ra từ những bộ phận khác ngoài đuôi, nên tôi đã nghĩ mình phải cẩn thận để không bị vẻ ngoài đánh lừa.

ともかく、俺が思い描くような戦闘スタイルではなさそうだ。これ以上の判断材料はないので、戦ってみながら対処するしかないだろう。

Dù sao đi nữa, có vẻ như nó không có phong cách chiến đấu như tôi tưởng tượng. Không còn manh mối nào khác, nên chỉ có thể vừa chiến đấu vừa đối phó.

『お前の準備も終わったんなら、さっさと始めようか』

“Nếu ngươi đã chuẩn bị xong, thì hãy bắt đầu nhanh lên đi”

そう声をかけると、イヴァラージェが俺を見て、邪悪な笑い声をあげる。

Vừa nói vậy, Ivalage nhìn tôi và cất lên một tiếng cười tà ác.

『きゃははははは! 力が湧いてきた。私はヒトリ、ワタシはダあれ?』

“Kyahahahaha! Sức mạnh đang trào dâng. Ta là một mình, ta là ai?”

膨大な力を制御出来ずに、おかしくなったのかな? と思ったのだが、どうやらそうでもないらしい。

Hay là nó đã trở nên kì lạ vì không thể kiểm soát được sức mạnh to lớn? Tôi nghĩ, nhưng có vẻ không phải vậy.

元から変だったし、イヴァラージェにとっては平常運転という感じみたいだ。

Vốn dĩ nó đã kì lạ rồi, và đối với Ivalage thì có vẻ như đây là trạng thái bình thường.

それでも、気になってしまう。

Dù vậy, tôi vẫn thấy tò mò.

『ワタシはルシア。ルシアはヴェルダナーヴァ。そしてヴェルダナーヴァは、私──イヴァラージェ』

“Ta là Lucia. Lucia là Verudanava. Và Verudanava là ta... Ivalage”

うーん、見た目の変形は終わっているようだが、心が定まっていない感じかな?

Ừm, có vẻ như việc biến hình bên ngoài đã kết thúc, nhưng tâm trí vẫn chưa ổn định thì phải?

『つまり──私は〝ルヴェルジェ〟──』

“Nghĩa là... ta là “Luveruge”...”

あっ、コイツ……自分に〝名付け〟しやがった……。

A, tên này... đã tự “đặt tên” cho mình...

見た目に変化はないが、力が安定したようだ。つまり、圧倒的に強さが増しているという事である。

Dù ngoại hình không có thay đổi, nhưng có vẻ như sức mạnh đã ổn định. Điều đó có nghĩa là sức mạnh của nó đã tăng lên một cách áp đảo.

それ以上に重要なのは、取り込まれていたヴェルダナーヴァの〝魂〟までが、完全に融合されてしまった事だった。

Điều quan trọng hơn nữa là ngay cả “linh hồn” của Verudanava, vốn đã bị hấp thụ, cũng đã hoàn toàn dung hợp.

こうなるともう、どうやっても分離は不可能なんじゃないか?

Đến nước này rồi, có lẽ không thể tách ra được nữa phải không?

<<……可能性はゼロではないものの、打つ手がありません。討伐後に『魂暴喰』にて喰らい尽くし、詳細に『解析鑑定』を行えば──>>

<<... Khả năng không phải là không có, nhưng không có biện pháp nào cả. Sau khi tiêu diệt, nếu dùng “Cắn Nuốt Linh Hồn” để nuốt chửng và tiến hành “Phân Tích Giám Định” chi tiết...>>

可能性はあるのか……。

Vẫn còn khả năng sao...

だったらまだ、望みを捨てないでおくべきだな。

Vậy thì vẫn chưa nên từ bỏ hi vọng.

そう決めた時、イヴァラージェ──改め、ルヴェルジェが口を開いた。

Khi tôi quyết định như vậy, Ivalage... hay đúng hơn là Luveruge... đã mở miệng.

竜の額にある貌(かお)が、俺に視線を向けて挨拶してきたのだ。

Khuôn mặt trên trán của con rồng đã hướng ánh mắt về phía tôi và chào hỏi.

『おはよう、こんにちは、こんばんは』

“Chào buổi sáng, chào buổi trưa, chào buổi tối”

『お、おう』

“À, ừm”

『挨拶は大事』

“Chào hỏi là quan trọng”

『そうだね……』

“Đúng vậy...”

『もう会えなくなるね、サヨウナラ』

“Chúng ta sẽ không gặp lại nhau nữa đâu, tạm biệt”

どう対処すべきか戸惑っていたら俺の居た地点を、横薙ぎの一閃が通り過ぎていった。

Trong lúc tôi đang bối rối không biết phải đối phó thế nào, một nhát chém ngang đã lướt qua nơi tôi vừa đứng.

危険を察知して回避しつつ、その正体を確認する。

Vừa né tránh vì cảm nhận được nguy hiểm, tôi vừa xác nhận danh tính của nó.

それは、数本の触手だった。

Đó là một vài chiếc xúc tu.

危なかった。油断していた訳ではないが、今までとは別格の速さだ。

Nguy hiểm thật. Không phải là tôi đã lơ là, nhưng tốc độ của nó khác hẳn so với trước đây.

超光速──マジで、光より速かったのだ。

Siêu tốc... thật sự là nhanh hơn cả ánh sáng.

もしかすると〝停止世界〟って、物理法則が通用しないから超光速が可能なのか?

Hay là trong “Thế Giới Ngưng Đọng”, vì các định luật vật lí không có tác dụng nên siêu tốc mới có thể thực hiện được?

いや、そもそも〝情報子〟の速度は一定だから、こんな現象が可能だとは思わなかった。

Không, vốn dĩ tốc độ của “hạt thông tin” là không đổi, nên tôi không nghĩ hiện tượng này có thể xảy ra.

反応出来た自分を褒めてあげたい──などと自画自賛しつつ、ルヴェルジェの猛攻に対処していく。

Tôi muốn khen ngợi bản thân vì đã có thể phản ứng... vừa tự mãn như vậy, tôi vừa đối phó với những đòn tấn công dữ dội của Luveruge.

正面に、巨体はそのまま在る。

Ở phía trước, cơ thể khổng lồ vẫn ở đó.

その尻尾から分離した触手だけが、俺を追尾するように攻撃を仕掛けていた。

Chỉ có những xúc tu tách ra từ đuôi của nó là đang tấn công tôi một cách truy đuổi.

それだけなら何とかなるのだが、悪寒を覚えてルヴェルジェの巨体に目を向ける。

Nếu chỉ có thế thì còn xoay xở được, nhưng tôi cảm thấy một luồng khí lạnh và hướng mắt về phía cơ thể khổng lồ của Luveruge.

猛烈な違和感。

Một cảm giác kì lạ dữ dội.

よく見ると額の顔が消えていて──と思ったら、背後に気配を察知。慌てて殺気を剣で受け止めつつ、空中で体勢変更した。

Nhìn kĩ thì thấy khuôn mặt trên trán đã biến mất... vừa nghĩ vậy, tôi đã cảm nhận được một luồng khí tức ở phía sau. Tôi vội vàng dùng kiếm chặn sát khí và thay đổi tư thế trên không.

俺を襲ったのは、分離したルヴェルジェだと思われた。

Kẻ tấn công tôi có lẽ là Luveruge đã tách ra.

確信はないが、多分本体なのだろう。

Không chắc chắn, nhưng có lẽ đó là cơ thể chính.

身長はヴェルダナーヴァと同程度で、百八十センチを超えたくらい。

Chiều cao tương đương với Verudanava, khoảng hơn một mét tám mươi.

腕の数は、二対。

Số lượng tay là hai cặp.

通常の一対は両手に剣を携えている。

Một cặp tay bình thường cầm kiếm ở cả hai tay.

そして、脇の下から生えている少し小さ目のもう一対は、腹の前で組んで印を結んでいた。その両手の中には、白と黒が組み合わさったようなゴルフボール大の輝く〝宝玉〟があり、強烈な存在感を放っている。

Và một cặp tay nhỏ hơn mọc ra từ dưới nách đang chắp tay trước bụng và kết ấn. Trong hai bàn tay đó có một “Bảo ngọc” sáng chói cỡ quả bóng golf, trông như sự kết hợp giữa màu trắng và đen, tỏa ra một sự tồn tại mãnh liệt.

背中には、三対の翼。

Trên lưng có ba cặp cánh.

上段が天使の羽、下段が悪魔の羽、そして中段は、コルヌに生えているような黄金紅の翼だ。

Tầng trên là cánh thiên thần, tầng dưới là cánh ác ma, và tầng giữa là đôi cánh màu vàng đỏ giống như của Cornu.

どちらかと言うと細身で、引き締まって見える。

Trông nó khá mảnh mai và săn chắc.

こちらも巨体同様、甲冑のような外骨格と竜(りゅう)鱗(りん)で守られていた。

Cơ thể này cũng được bảo vệ bởi một lớp ngoại cốt giống như áo giáp và vảy rồng, tương tự như cơ thể khổng lồ.

背後からは、巨体による触手攻撃。

Từ phía sau là những đòn tấn công bằng xúc tu của cơ thể khổng lồ.

そして正面には、人型のルヴェルジェだ。

Và ở phía trước là Luveruge hình người.

大真面目に、ヤバい。

Nghiêm túc mà nói, nguy hiểm thật.

デカい方を警戒しながら、正面の人型まで相手にしなければならないとは……。

Vừa phải cảnh giác với tên to con, vừa phải đối phó với tên hình người ở phía trước...

巨体からは、触手攻撃。

Từ cơ thể khổng lồ là những đòn tấn công bằng xúc tu.

人型は、普通に剣撃と魔法だ。二刀流は流麗で無駄がなく、間髪容れずに原初の魔法(プリミティブマジック)まで放ってきたのである。

Tên hình người thì bình thường là kiếm kĩ và ma pháp. Song kiếm của nó uyển chuyển và không có động tác thừa, và nó còn tung ra cả Ma Pháp Nguyên Sơ (Primitive Magic) ngay lập tức.

もっとも、俺の方も負けてはいない。

Dù vậy, tôi cũng không hề thua kém.

ヴェルドラ達の力を取り込んだ〝希望(エルピス)〟は、ルヴェルジェの双剣よりも威力が上なのだ。

“Hi Vọng (Elpis)”, đã hấp thụ sức mạnh của nhóm Verudora, có uy lực cao hơn song kiếm của Luveruge.

その上、『魂暴喰』があれば放出系の攻撃を無効化出来る。原初の魔法(プリミティブマジック)であろうがお構いなしなので、どんな不利な体勢からであろうが立て直し余裕だった。

Hơn nữa, nếu có “Cắn Nuốt Linh Hồn”, tôi có thể vô hiệu hóa các đòn tấn công hệ phóng xuất. Dù là Ma Pháp Nguyên Sơ (Primitive Magic) cũng không thành vấn đề, nên dù ở trong tư thế bất lợi nào, tôi cũng có thể dễ dàng lấy lại thăng bằng.

厄介なのは触手だが、これも起点となる巨体の位置さえ意識しておけば、それなりに余裕を持って対処出来た。意外と何とかなるものだと思いつつ、俺はルヴェルジェの相手をする。

Thứ phiền phức là những chiếc xúc tu, nhưng chỉ cần để ý đến vị trí của cơ thể khổng lồ là điểm xuất phát, tôi có thể đối phó một cách khá thoải mái. Vừa nghĩ rằng mọi chuyện cũng không đến nỗi nào, tôi vừa đối đầu với Luveruge.

激しい攻防は、無限に続くかと思われた。

Cuộc công phòng dữ dội dường như sẽ kéo dài vô tận.

そしてわかったのは、人型のルヴェルジェでさえヴェルダナーヴァよりも強い、という事実である。

Và điều tôi nhận ra là, ngay cả Luveruge hình người cũng mạnh hơn Verudanava.

ヴェルダナーヴァの権能を全て駆使可能な上に、エネルギーはミリムのように無尽蔵。〝星粒子〟だって使いこなせるようで、その攻撃は完全無欠だった。

Nó có thể sử dụng tất cả các quyền năng của Verudanava, và năng lượng của nó thì vô tận như Millim. Có vẻ như nó còn có thể sử dụng cả “Tinh tử”, nên những đòn tấn công của nó hoàn hảo không tì vết.

ぶっちゃけ、〝希望(エルピス)〟で受けなければ大ダメージ確定、何なら即消滅しても不思議ではなかった。対処出来ているから感覚がマヒしているが、一歩間違えればゲームオーバーである。

Thành thật mà nói, nếu không dùng “Hi Vọng (Elpis)” để đỡ thì chắc chắn sẽ chịu sát thương lớn, thậm chí có thể biến mất ngay lập tức cũng không có gì lạ. Vì tôi đang đối phó được nên cảm giác đã bị tê liệt, nhưng chỉ cần sai một bước là game over.

<<大丈夫です。試算によると、直撃によるダメージでも軽微かと>>

<<Không sao đâu ạ. Theo tính toán, sát thương từ một đòn trực diện cũng chỉ là nhỏ thôi>>

……それ、絶対に計算を間違ってるよね。

... Cái đó, chắc chắn là tính sai rồi đúng không.

不安だ。

Bất an quá.

この局面で、シエルさんがポンコツ化してしまった。

Trong tình thế này, Ciel-san lại trở nên vô dụng.

前からたまにオカシイ時があったが、今はまともであって欲しかった。

Trước đây thỉnh thoảng cũng có lúc cô ấy kì lạ, nhưng tôi muốn bây giờ cô ấy phải bình thường.

<<心外です。ぷんぷん>>

<<Thật quá đáng. Hứ>>

まあ、仕方ない。

Thôi, đành chịu.

俺もまだまだ頑張れるので、シエルさんの不調が元に戻るまで耐え凌ごう。

Tôi vẫn còn có thể cố gắng, nên tôi sẽ chịu đựng cho đến khi Ciel-san hết khó ở.

そうこうしていると、攻撃に集中していたルヴェルジェが動きを止めた。

Trong lúc đó, Luveruge đang tập trung tấn công đã dừng lại.

『オマエ、どうして攻撃を受け止めるの?』

“Ngươi, tại sao lại đỡ đòn tấn công?”

『あん?』

“Hả?”

『今のは避けるべきパターンなのに、受け止めた。それって、後ろを庇ってる?』

“Lúc nãy đáng lẽ phải né, nhưng ngươi lại đỡ. Là đang bảo vệ phía sau sao?”

うっ、バレた!?

Ực, bị phát hiện rồi!?

ルヴェルジェの攻撃は圧倒的で、俺じゃなければ耐えられない可能性が高い。

Đòn tấn công của Luveruge quá áp đảo, nếu không phải là tôi thì khả năng cao là không thể chịu được.

今はガイアに力を集中させて『極大結界』を構築しているから、基軸世界そのものへの影響を緩和させているのだが……これが地面に直撃するような攻撃ならば、どんな影響が生じるか予測困難だったのだ。

Bây giờ, họ đang tập trung sức mạnh vào Gaia để tạo ra “Kết giới cực đại”, nên đã giảm thiểu ảnh hưởng đến chính thế giới cốt lõi, nhưng... nếu đây là một đòn tấn công trực diện xuống mặt đất, thì khó có thể dự đoán được sẽ có ảnh hưởng như thế nào.

なので俺は、そうした攻撃だけは避けずに受けるようにしていたのである。

Vì vậy, tôi đã không né tránh mà đỡ những đòn tấn công như vậy.

それを、見抜かれた。

Và điều đó, đã bị nhìn thấu.

ルヴェルジェが、邪悪に嗤う。

Luveruge cười một cách tà ác.

『オマエ、ギィとは違う。仲間を壊されるの、嫌う。星が壊れると、仲間も死ぬ。だから、庇ってる?』

“Ngươi khác với Guy. Ngươi ghét việc đồng đội bị phá hủy. Nếu hành tinh bị phá hủy, đồng đội cũng sẽ chết. Vì vậy, ngươi đang bảo vệ họ?”

それは質問ではなく、断定。

Đó không phải là một câu hỏi, mà là một lời khẳng định.

俺の弱点が見抜かれた瞬間だった。

Đó là khoảnh khắc điểm yếu của tôi bị nhìn thấu.

基本、誰かを守りながら戦う方が弱くなる。

Về cơ bản, chiến đấu trong khi bảo vệ ai đó sẽ khiến bạn yếu đi.

ルヴェルジェは、そこを的確に突いてきた。

Luveruge đã nhắm vào điểm đó một cách chính xác.

『きゃは♪ きゃははははは! みんな殺す。全部壊す』

“Kya ha♪ Kyahahahaha! Giết tất cả. Phá hủy tất cả”

高い知性と、幼稚な残虐性。

Một trí tuệ cao, và một sự tàn bạo trẻ con.

そのアンバランスさがとても不気味だが、そんな事を言っている場合ではない。こちらは全力で、ルヴェルジェの悪行を邪魔しなければならぬのだ。

Sự mất cân bằng đó thật đáng sợ, nhưng đây không phải lúc để nói những chuyện đó. Bên này phải dốc toàn lực để ngăn chặn hành động xấu xa của Luveruge.

ところが、ルヴェルジェの行動は的確だった。

Tuy nhiên, hành động của Luveruge lại rất chính xác.

『ねえねえ、寂しいって、どんな気持ち?』

“Này này, cô đơn là cảm giác như thế nào?”

『は?』

“Hả?”

『私は寂しかった! だから、オマエにも教えてアゲルね!』

“Ta đã rất cô đơn! Vì vậy, ta cũng sẽ cho ngươi biết!”

そう言うなり、ルヴェルジェの巨体部分が動く。

Vừa nói, phần cơ thể khổng lồ của Luveruge bắt đầu di chuyển.

地上に向けて駆け出して、万を超えるほどに増殖させた自分の触手を用いた物理的な攻撃を仕掛けてきたのである。

Nó lao về phía mặt đất và tung ra một đòn tấn công vật lí bằng những chiếc xúc tu đã được nhân lên đến hơn mười nghìn.

狙いは俺ではなく、地上にいる人々だ。

Mục tiêu không phải là tôi, mà là những người trên mặt đất.

その一本一本が生半可な剣よりも強く鋭く、創世級(ジェネシス)でなければ対処不可能な威力を秘めている。それ以前に、その巨躯で踏みしめるだけで終わるだろう。

Mỗi chiếc xúc tu còn mạnh và sắc bén hơn cả một thanh kiếm tầm thường, ẩn chứa một uy lực mà nếu không phải là Cấp Sáng Thế (Genesis) thì không thể đối phó được. Trước đó, chỉ cần cơ thể khổng lồ của nó giẫm lên là đủ kết thúc rồi.

これを阻止するのは、如何に『極大結界』といえども不可能だった。

Ngăn chặn điều này, dù có là “Kết giới cực đại” cũng không thể.

それは絶望的な光景で──

Đó là một cảnh tượng tuyệt vọng...

………

.........

……

......

...

やっぱり、ルヴェルジェを理解するのは無理なのだろうと思った。

Tôi nghĩ có lẽ không thể hiểu được Luveruge.

俺に寂しさを教える為に皆を殺し、世界を滅ぼすとか、まったく意味がわからない。

Để dạy cho tôi sự cô đơn mà giết tất cả mọi người, hủy diệt thế giới, tôi hoàn toàn không hiểu được.

ヴェルダナーヴァには一応目的があったが、ルヴェルジェはただ遊んでいるだけなのだ。

Verudanava ít nhất cũng có mục đích, nhưng Luveruge chỉ đang chơi đùa.

滅ぼした先に何らかの目標があるのなら、まだ理解出来なくもない可能性があった。しかし、そんなものは何もないので、その行動も無意味ということ。そんなのに巻き込まれて死ぬなど、到底許せる話ではないのである。

Nếu sau khi hủy diệt có một mục tiêu nào đó, thì vẫn còn có khả năng có thể hiểu được. Nhưng vì không có thứ gì như vậy, nên hành động đó cũng là vô nghĩa. Bị cuốn vào một chuyện như vậy mà chết, đó là một câu chuyện không thể chấp nhận được.

世の中には、どうしても考え方が合わない相手もいるものだ。

Trên đời này, có những người mà dù thế nào cũng không thể hợp nhau về suy nghĩ.

そうした相手とは距離を置けばいいのだが、相手から絡んで来られると面倒だった。

Đối với những người như vậy, chỉ cần giữ khoảng cách là được, nhưng khi bị họ chủ động gây sự thì thật phiền phức.

ルヴェルジェは、自分が寂しかったと言った。

Luveruge đã nói rằng nó cô đơn.

それは不幸だったのかも知れないが、世の中にはもっと不幸な人々が大勢いるのだ。

Đó có thể là một điều bất hạnh, nhưng trên đời này còn có rất nhiều người bất hạnh hơn nữa.

皆が皆、幸せな訳ではなく、不幸を克服して立派に生きている人もいる。

Không phải ai cũng hạnh phúc, và cũng có những người đã vượt qua bất hạnh và sống một cách đáng ngưỡng mộ.

俺はどちらかといえば幸せな人生だったと思うから、本当の意味で不幸な人の気持ちを理解出来ているのかというと疑問ではある。

Tôi nghĩ mình đã có một cuộc sống khá hạnh phúc, nên nếu hỏi liệu tôi có thực sự hiểu được cảm xúc của những người bất hạnh hay không thì vẫn còn là một câu hỏi.

しかし、だ。

Tuy nhiên.

〝自分が不幸だから他人も同じ目に遭えばいい〟という考えは、明らかに間違っていると断言出来た。

Suy nghĩ “vì mình bất hạnh nên người khác cũng phải chịu như vậy” rõ ràng là sai lầm, tôi có thể khẳng định điều đó.

自分がされて嫌な事は、相手にもしてはならないのである。

Điều mình không muốn người khác làm cho mình, thì cũng đừng làm cho người khác.

人は平等ではない。

Con người không bình đẳng.

世の中の仕組み、約束事を徹底して、人の意識を改革すれば、可能な限りの平等性を実現出来るかも知れない。それでもそれは限定的で、生まれながらの能力の差というものは、どうしたって否定する事は出来ないのだ。

Nếu tuân thủ triệt để các cơ chế và quy tắc của xã hội, và cải cách ý thức của con người, thì có lẽ có thể thực hiện được sự bình đẳng ở mức tối đa có thể. Dù vậy, đó cũng chỉ là giới hạn, và sự khác biệt về năng lực bẩm sinh là điều không thể phủ nhận.

ゲームのように、見た目や能力値を好きに割り振れるのならば、あらゆる差別は根絶されるだろう。背が低かろうが太っていようが、それはその人が望んで作成した姿だからだ。

Nếu có thể tùy ý phân bổ ngoại hình và chỉ số năng lực như trong game, thì mọi sự phân biệt đối xử sẽ bị xóa bỏ. Dù có lùn hay mập, đó cũng là hình dạng mà người đó đã mong muốn tạo ra.

他人から何を言われようとも『俺はコレが好きなんだよ、文句あんのか?』で言い返せるのである。

Dù bị người khác nói gì đi nữa, cũng có thể đáp lại rằng “Tôi thích cái này, có ý kiến gì không?”.

しかし、現実はそうではない。

Tuy nhiên, thực tế không phải vậy.

好むと好まざるとにかかわらず、自分自身とは上手く付き合っていくしかないのだった。

Dù muốn hay không, cũng chỉ có thể hòa hợp với chính bản thân mình.

だからこそ、どうしたって不平等になってしまう。

Chính vì vậy, dù thế nào cũng sẽ trở nên bất bình đẳng.

そういう意味で考えるならば、この世の全ての人々が平等に平和と幸せを享受する事の出来る世界なんて、夢幻の中にしか存在しないと思われた。

Nếu suy nghĩ theo nghĩa đó, thì một thế giới mà tất cả mọi người trên đời này có thể bình đẳng hưởng thụ hòa bình và hạnh phúc dường như chỉ tồn tại trong ảo mộng.

だからこそ、この世界が不完全だというのならばその通りなのだろう。

Chính vì vậy, nếu nói thế giới này không hoàn hảo, thì có lẽ đúng là vậy.

その点は認めるにしても、だから壊していい、という話とは繋がらないのだ。

Dù có thừa nhận điểm đó, nhưng điều đó không có nghĩa là có thể phá hủy nó.

まして、自分の思い通りにならないから壊すとか、あまりにも幼く未熟な考え方であった。

Hơn nữa, chỉ vì không theo ý mình mà phá hủy, đó là một cách suy nghĩ quá trẻ con và non nớt.

不完全だからこそ、自分達の手でより良い世界を目指すべきなのである。

Chính vì không hoàn hảo, nên chúng ta mới phải tự tay mình hướng đến một thế giới tốt đẹp hơn.

他人の話に耳を傾けもせず、自分の考えのみを主張していては、相互理解など得られない。

Nếu không chịu lắng nghe người khác, mà chỉ khăng khăng ý kiến của mình, thì không thể nào có được sự thấu hiểu lẫn nhau.

そこには、他者への思いやりなど存在しないからだ。

Bởi vì ở đó, không có sự quan tâm đến người khác.

そんな者から寂しい、孤独だ、などと訴えられても、そりゃそうだろうなとしか言えないのだった。

Bị một người như vậy than thở rằng cô đơn, lẻ loi, thì chỉ có thể nói rằng “thì đúng là vậy rồi”.

だから俺は、ルヴェルジェの思想を拒絶する。

Vì vậy, tôi từ chối tư tưởng của Luveruge.

決して相容れない存在だと断定して、己の全てを賭けて否定してやる事にした。

Tôi quyết định rằng đó là một tồn tại không bao giờ có thể dung hòa được, và sẽ dùng tất cả những gì mình có để phủ nhận nó.

………

.........

……

......

...

俺は、無言で権能を行使する。

Tôi im lặng sử dụng quyền năng của mình.

慌てずに立ち並ぶ氷像の前まで『瞬間移動(テレポート)』して、ルヴェルジェの巨体の前に出現した。

Tôi bình tĩnh “Dịch Chuyển Tức Thời (Teleport)” đến trước những bức tượng băng đang đứng thẳng hàng, và xuất hiện trước cơ thể khổng lồ của Luveruge.

そして、怒りのままに〝希望(エルピス)〟を振り抜いたのだ。

Và rồi, trong cơn giận dữ, tôi vung thanh “Hi Vọng (Elpis)”.

当然、これで終わらせるつもりではなかった。

Tất nhiên, tôi không định kết thúc mọi chuyện bằng đòn này.

超エネルギーの塊のようなルヴェルジェの巨躯を消滅させるには、それこそ天文学的な〝力〟を必要とするからだ。

Để tiêu diệt cơ thể khổng lồ của Luveruge, một khối siêu năng lượng, cần phải có một “sức mạnh” khổng lồ như thiên văn.

これで怯ませてから、俺に意識を向けさせようとしたのである。

Tôi định dùng đòn này để làm nó chùn bước, sau đó khiến nó tập trung vào tôi.

ところが──

Thế nhưng...

『グォオオオオオオオオオーーーーーーンッ!!』

“Guoooooooon!!”

俺の斬撃が強大な刃となって天空を斬り裂き、そのまま巨大なルヴェルジェまでも大きく斬り裂いたのだ。

Nhát chém của tôi đã trở thành một lưỡi đao khổng lồ xé toạc bầu trời, và cứ thế xé toạc cả Luveruge khổng lồ.

しかも、それで終わりではない。

Hơn nữa, đó vẫn chưa phải là kết thúc.

膨大なエネルギーが生まれ虚無の雷を発生させ、裂けた空が塞がる気配がない。

Một nguồn năng lượng khổng lồ được sinh ra, tạo ra những tia sét hư vô, và bầu trời bị xé toạc không có dấu hiệu khép lại.

次元が裂けて、異界と繋がる。

Thứ nguyên bị xé rách, và kết nối với một thế giới khác.

そちらでは時間が流れており、とてつもない時空嵐となって雪崩れ込んで来る。

Ở đó, thời gian vẫn trôi, và một cơn bão thời không khủng khiếp ập đến như thác lũ.

それはそのまま渦を巻き、ルヴェルジェの巨体を呑み込んでグシャグシャに圧縮崩壊させていった。

Nó cứ thế xoáy thành một cơn lốc, nuốt chửng cơ thể khổng lồ của Luveruge và nén nó lại đến mức vỡ vụn.

〝重力崩壊(グラビティーコラプス)〟ですら微風程度にしか感じないであろうルヴェルジェの巨体が、為す術もなく斬り刻まれて崩壊していったのだ。

Cơ thể khổng lồ của Luveruge, thứ mà ngay cả “Sụp Đổ Trọng Lực (Gravity Collapse)” cũng chỉ có thể cảm nhận như một làn gió nhẹ, đã bị xé nát và sụp đổ mà không thể làm gì được.

『きゃひ?』

“Kyahi?”

『──は?』

“... Hả?”

ルヴェルジェも驚いていたが、俺の方が驚きである。

Luveruge cũng kinh ngạc, nhưng tôi còn kinh ngạc hơn.

俺は、剣を手にしたまま唖然となった。

Tôi, tay vẫn cầm kiếm, chết lặng.

<<当然の結果です。あれは時空嵐の影響だけではなく、主様(マスター)の『虚無』が刃となった〝虚無の剣撃(イマジナリーブレード)〟の効果ですので。抗う事など、不可能でしょう>>

<<Đó là kết quả tất yếu. Không chỉ là ảnh hưởng của bão thời không, mà còn là hiệu quả của “Hư Vô Kiếm Kích (Imaginary Blade)”, khi “Hư Vô” của chủ nhân (Master) đã trở thành lưỡi đao. Chống cự là điều không thể>>

いやいや……。

Không không...

え?

Hả?

どうしてこんなに威力があるの!?

Tại sao lại có uy lực lớn đến thế!?

<<狙い通りだったのですよね?>>

<<Đúng như dự tính của ngài phải không ạ?>>

んな訳あるかよ!

Làm gì có chuyện đó!

だって今のは試し撃ちの気分だったから、ここまでの威力は想定外だった。ある程度の打撃を与えて俺に注意を向けさせて、少しずつ力を削いでいく作戦だったのだ。

Bởi vì lúc nãy tôi chỉ định thử một đòn thôi, nên không ngờ uy lực lại lớn đến thế. Kế hoạch của tôi là gây ra một chút sát thương để thu hút sự chú ý của nó, sau đó dần dần bào mòn sức mạnh.

それなのに、この結果である。

Thế nhưng, kết quả lại như thế này.

『わ、我は張り切り過ぎておらぬよ?』

“T-Ta đâu có quá hăng hái đâu?”

犯人、発見。

Thủ phạm, đã tìm thấy.

全力を出す前にルヴェルジェに大打撃を与えてしまったのだから、俺が驚くのも当然だ。

Trước khi dốc toàn lực đã gây ra một đòn chí mạng cho Luveruge, nên việc tôi kinh ngạc cũng là điều dễ hiểu.

しかし、原因は判明した。

Tuy nhiên, nguyên nhân đã được xác định.

〝竜種核〟となっても、ヴェルドラ達自身が力加減を調節可能だったのだ。

Dù đã trở thành “Lõi Long Chủng”, nhóm của Verudora vẫn có thể tự mình điều chỉnh sức mạnh.

俺自身は、七分くらいのつもりで、ヴェルグリンドとヴェルザードは三分くらいで調整していた。ここら辺は阿吽の呼吸が必要なのだが、意外と意思疎通が上手くいっている。

Bản thân tôi định dùng khoảng bảy phần sức, còn Verugrynd và Veruzard thì điều chỉnh khoảng ba phần. Chỗ này cần có sự phối hợp ăn ý, nhưng không ngờ lại giao tiếp với nhau khá tốt.

ヴェルドラだけが全力で、俺の怒りに呼応して力を発揮してくれていたのである。

Chỉ có Verudora là dốc toàn lực, đáp lại cơn giận của tôi và phát huy sức mạnh.

そのせいで、想定以上に凄まじい超常現象となってしまったのだった。

Vì thế mà đã xảy ra một hiện tượng siêu nhiên kinh khủng ngoài dự tính.

『そういう事なら、事前の打ち合わせが必須だね』

“Nếu vậy thì, việc bàn bạc trước là cần thiết nhỉ”

『うむ、次からは気をつけるがいい!』

“Ừm, lần sau hãy cẩn thận hơn!”

『愚弟には、反省が必要ね』

“Em trai ngu ngốc cần phải tự kiểm điểm”

『ヴェルドラちゃんは、お仕置きされたいのね』

“Verudora-chan muốn bị phạt à”

『ぎゃわわわわ!?』

“Gyawawawa!?”

原因がわかって、スッキリした。

Biết được nguyên nhân, tôi cảm thấy nhẹ nhõm.

ヴェルドラの気持ちは嬉しかったが、次からはもっと協調性を身につけてもらいたい。

Tấm lòng của Verudora khiến tôi vui, nhưng lần sau tôi muốn ông ấy có tính hợp tác hơn.

という事で、後始末をする。

Vậy nên, tôi sẽ dọn dẹp.

ルヴェルジェの巨体は膨大な『虚無』エネルギーに巻き込まれて、圧縮された反発からか、今度は暴発しそうに膨らんでいた。このままでは危険なので、俺は『魂暴喰』によって吸収を開始した。

Cơ thể khổng lồ của Luveruge bị cuốn vào một nguồn năng lượng “Hư Vô” khổng lồ, và do sức bật từ việc bị nén, nó lại phồng lên như sắp phát nổ. Vì để như vậy rất nguy hiểm, nên tôi đã bắt đầu hấp thụ bằng “Cắn Nuốt Linh Hồn”.

これで終わり、と。

Như vậy là xong.

後は、人型の方のルヴェルジェを倒すだけ。

Phần còn lại chỉ là đánh bại Luveruge hình người.

俺は勝利を確信した──のだが、〝禍福は糾(あざな)える縄の如し〟だった。

Tôi tin chắc mình sẽ thắng... nhưng, “họa phúc khôn lường”.

ルヴェルジェの悪意は、俺が思っていた以上に悪質だったのだ。

Ác ý của Luveruge còn tồi tệ hơn tôi nghĩ.

分体である巨体を消滅させられたルヴェルジェは、怒りの感情に呑まれていた。

Luveruge, sau khi cơ thể khổng lồ là một phân thân bị tiêu diệt, đã bị chìm trong cơn giận dữ.

ヴェルダナーヴァと一つになって、オマケでルシアも手に入れている。もう自分は完全体になったのだと、全てを手に入れた全能感に浸っていた。

Nó đã hợp nhất với Verudanava, và còn có được cả Lucia làm phần thưởng thêm. Nó đã chìm đắm trong cảm giác toàn năng rằng mình đã trở thành một thể hoàn chỉnh, đã có được tất cả.

それなのに、リムルとかいう生意気な存在を倒せずにいる。

Thế nhưng, nó lại không thể đánh bại một tồn tại xấc xược tên là Rimuru.

それどころか、分体を失うという手痛い目に遭わされてしまった。

Hơn nữa, nó còn phải chịu một đòn đau điếng là mất đi một phân thân.

これはルヴェルジェにとって、屈辱以外の何物でもないのだ。

Đối với Luveruge, đây không gì khác ngoài sự sỉ nhục.

甚(いた)振(ぶ)ってやろうと、手加減している訳ではない。最初は少し手を抜いていたが、その必要はないと直ぐに悟っていた。

Không phải là nó đang nương tay để hành hạ đối phương. Ban đầu nó có hơi lơi tay, nhưng đã sớm nhận ra không cần thiết phải làm vậy.

ムキにならない程度の全力でリムルを倒そうとしていたのだが、それでは話にならなかったのだ。

Nó đã cố gắng đánh bại Rimuru bằng tất cả sức lực mà không tỏ ra quá nghiêm túc, nhưng như vậy là không đủ.

リムルの権能を無効化出来るのでダメージはないが、ルヴェルジェの権能も無効化されてしまうので、お互いに手詰まり状態、千日手になってしまっていたのである。

Vì có thể vô hiệu hóa quyền năng của Rimuru nên không bị sát thương, nhưng quyền năng của Luveruge cũng bị vô hiệu hóa, nên cả hai đã rơi vào tình trạng bế tắc, thế cờ hòa.

ところが、面白くない出来事があった。

Thế nhưng, một chuyện không vui đã xảy ra.

手数を減らされてしまったのだ。

Nó đã bị giảm bớt số lượng đòn tấn công.

巨体はそれなりに役立っていたので、壊されたのは悔しくて腹立たしい。

Cơ thể khổng lồ cũng khá hữu ích, nên việc bị phá hủy khiến nó cay đắng và tức giận.

とは言え、重要度は低かった。

Tuy nhiên, tầm quan trọng của nó không cao.

漏れ出たエネルギーが形成されただけであり、また生み出せばいいだけだからだ。

Nó chỉ được hình thành từ năng lượng rò rỉ, và chỉ cần tạo ra lại là được.

ただし、感情的には許せない。

Tuy nhiên, về mặt cảm xúc thì không thể tha thứ được.

仕返しせねばならぬと、ルヴェルジェは決めた。

Phải trả thù, Luveruge đã quyết định.

生意気なリムルを懲らしめなければ気が済まない。ただ倒すだけでは、腹の虫が治まりそうになかった。

Nếu không trừng trị Rimuru xấc xược, nó sẽ không thể nguôi giận. Chỉ đánh bại thôi thì không đủ để xoa dịu cơn giận trong lòng.

であれば、リムルには弱点だらけなのだ。

Nếu vậy thì, Rimuru có đầy rẫy điểm yếu.

その弱点を刺激したから怒ったのだが、感情なんて戦闘時には邪魔でしかない。だからもっと刺激して、リムルから正常な判断力を奪ってしまえばいいのである。

Chính vì đã kích thích điểm yếu đó nên hắn mới tức giận, nhưng cảm xúc chỉ là một thứ cản trở trong chiến đấu. Vì vậy, chỉ cần kích thích nhiều hơn nữa và cướp đi khả năng phán đoán bình thường của Rimuru là được.

(そうすれば、私の勝ち♪)

(Nếu vậy, ta sẽ thắng♪)

ルヴェルジェはそう結論を下して、邪悪に嗤った。

Luveruge kết luận như vậy và cười một cách tà ác.

そして丁度、リムルの意識はルヴェルジェの分体に向いていた。

Và đúng lúc đó, ý thức của Rimuru đang hướng về phía phân thân của Luveruge.

ルヴェルジェは、視界の端にあった氷像と化した英雄達に目を向ける。何が起きているのか把握も出来ない、〝停止世界〟から取り残された者達だ。

Luveruge hướng mắt về phía những anh hùng đã biến thành tượng băng ở góc tầm nhìn. Họ là những người bị bỏ lại trong “Thế Giới Ngưng Đọng”, không thể nắm bắt được chuyện gì đang xảy ra.

ルヴェルジェにとっては脅威でも何でもなく、ただ壊すだけの玩具(オモチャ)に過ぎない存在。それなのにリムルにとっては、守らなければならない大切な宝物であった。

Đối với Luveruge, họ không phải là mối đe dọa gì cả, chỉ là những món đồ chơi để phá hủy. Nhưng đối với Rimuru, họ lại là những báu vật quý giá phải được bảo vệ.

ルヴェルジェにとっては、リムルへの恨みを晴らすべく八つ当たりしながら、更に怒らせる事も出来る訳で……まさに、一石二鳥だった。

Đối với Luveruge, vừa có thể trút giận để trả thù Rimuru, vừa có thể khiến hắn tức giận hơn nữa... đúng là một mũi tên trúng hai đích.

『きゃははははは!!』

“Kyahahahaha!!”

喜び勇んで、氷像に突っ込んでいく。

Nó vui mừng lao vào những bức tượng băng.

あっ、ヤバい。

A, nguy rồi.

ルヴェルジェの本体の動向にも注意していたので、俺は慌てた。

Vì tôi cũng đang chú ý đến động tĩnh của cơ thể chính của Luveruge, nên tôi đã hoảng hốt.

ヴェルザードが『完全固定』してくれているが、それでも大丈夫とは言えないのだ。

Dù Veruzard đã “Cố định hoàn toàn”, nhưng vẫn không thể nói là đã an toàn.

それだけで万全なら、俺にはどんな攻撃も通用しない事になる。しかし実際はそうではないので、きちんとした対処が必要となるのだった。

Nếu chỉ có thế là đủ an toàn, thì không một đòn tấn công nào có thể có tác dụng với tôi. Nhưng thực tế không phải vậy, nên cần phải có biện pháp đối phó thích hợp.

ヴェルザードの権能で強化していても、一人ひとりを狙い撃ちされると流石に耐えられないはずだ。

Dù có được cường hóa bằng quyền năng của Veruzard, nhưng nếu bị nhắm vào từng người một thì chắc chắn sẽ không thể chịu được.

というか、ルヴェルジェのヤツは性格悪過ぎ。

Hay đúng hơn là, tính cách của Luveruge quá xấu.

俺が本気で怒って相手しているのに、まだ遊び気分が抜けていない。腹立ちまぎれに仕返しとか、子供みたいな反応である。

Dù tôi đang nghiêm túc tức giận và đối đầu với nó, nó vẫn chưa hết hứng thú chơi đùa. Phản ứng trả thù vì tức giận, thật là trẻ con.

ミリム達の方でも、ルヴェルジェの狙いを察してくれて、守りを固めるように動いてくれている。

Bên phía nhóm Millim cũng đã nhận ra mục tiêu của Luveruge và đang di chuyển để củng cố phòng ngự.

しかし、ルヴェルジェの速度が速過ぎる為に、対処が間に合っていなかった。

Tuy nhiên, vì tốc độ của Luveruge quá nhanh, nên họ không kịp đối phó.

体当たりされるだけでも被害が出る可能性が高い、というのが俺の見立てだった。

Chỉ cần bị nó đâm vào thôi cũng có khả năng cao sẽ có thiệt hại, đó là nhận định của tôi.

ここでバラバラにされたら、〝停止世界〟が解除されてから復活出来るのだろうか?

Nếu bị xé thành từng mảnh ở đây, liệu sau khi “Thế Giới Ngưng Đọng” được giải trừ có thể phục sinh được không?

遺体が残っているならまだ可能性もありそうだが、木っ端微塵になってしまっていたら、復活は絶望的かも知れない。

Nếu còn lại di thể thì vẫn còn có khả năng, nhưng nếu đã tan thành tro bụi thì việc phục sinh có lẽ là vô vọng.

ルヴェルジェの視線の先には、ガビルやゲルド、それにヒナタの姿もあった。

Trong tầm mắt của Luveruge, có cả Gabiru, Gerudo và Hinata.

別の方向に目を向ければ、アダルマンやガドラなどもいるのである。

Nếu nhìn sang hướng khác, còn có cả Adalmann và Gadra.

『きゃはははは! 今度こそ教えてアゲル。寂しい気持ちを教えてアゲル!!』

“Kyahahaha! Lần này ta sẽ cho ngươi biết. Ta sẽ cho ngươi biết cảm giác cô đơn!!”

余計なお世話なんだよ──と、文句を言ってやりたい気分だ。

Đúng là lo chuyện bao đồng... tôi muốn phàn nàn như vậy.

絶対に阻止せねばと、俺は全力でルヴェルジェの動向に集中する。

Tôi phải ngăn chặn bằng mọi giá, tôi dốc toàn lực tập trung vào động tĩnh của Luveruge.

そして、気付いた。

Và rồi, tôi nhận ra.

ルヴェルジェの攻撃が炸裂する前に『瞬間移動(テレポート)』で追い抜くつもりだったのだが、どうやらその必要はなかったらしい。

Tôi định sẽ dùng “Dịch Chuyển Tức Thời (Teleport)” để vượt qua trước khi đòn tấn công của Luveruge phát nổ, nhưng có vẻ như không cần thiết.

ルヴェルジェが向かう先に、深く身を沈めて大太刀を構える者がいた。死んだように静かに、時が止まっている他の者達と同様に、微動だにせずに。

Ở nơi Luveruge đang hướng đến, có một người đang hạ thấp trọng tâm và cầm một thanh đại thái đao. Lặng lẽ như đã chết, bất động như những người khác đang bị thời gian ngưng đọng.

その者の名は、シオンだ。

Tên của người đó là Shion.

ルヴェルジェが間合いに入るなり、急転直下で攻撃を仕掛けたのである。

Ngay khi Luveruge lọt vào tầm tấn công, cô đã bất ngờ lao xuống tấn công.

『愚か者め! リムル様に代わって、この私が天誅を下してやりましょう!! 〝神殺し〟──真・天地活殺崩誕(カオティックフェイト)──』

“Kẻ ngu xuẩn! Thay cho ngài Rimuru, ta đây sẽ ban cho ngươi sự trừng phạt của trời đất!! “Sát thần”... Chân - Thiên Địa Hoạt Sát Băng Đản (Chaotic Fate)…”

それは、絡み合う〝怨念〟すらも断ち切る刃。

Đó là lưỡi đao có thể cắt đứt cả những “oán niệm” quấn quýt.

シオンが到達した、究極の一撃であった。

Đó là một đòn tấn công tối thượng mà Shion đã đạt được.

放たれた剣撃が、変幻自在の軌道を描いてルヴェルジェに届く。

Nhát chém được tung ra vẽ một quỹ đạo biến ảo khôn lường và chạm đến Luveruge.

<<──ッ!! この瞬間の為だけに、シオンが〝神殺し〟の権能を獲得する許可を与えたのですね!! >>

<<...!! Chỉ vì khoảnh khắc này, ngài đã cho phép Shion có được quyền năng “Sát thần” phải không ạ!!>>

ちげーよ。

Không phải.

それに、〝神殺し〟の権能とかも初耳だよ。

Với lại, tôi cũng lần đầu nghe đến quyền năng “Sát thần”.

俺は与えていないので、シオンが勝手に獲得していただけである。

Tôi không hề ban cho cô ấy, nên đó là do Shion tự mình có được.

というかシオンのヤツ、姿が見えないなと心配していたら、最高のタイミングで登場したものだ。

Hay đúng hơn là, tôi đang lo lắng vì không thấy Shion đâu, thì cô ấy lại xuất hiện vào một thời điểm hoàn hảo.

どこかで頭でもぶつけて、気絶しているのかと思っていた。生きているのは感じていたけど、虎視眈々と活躍の機会を狙っていたとはね。

Tôi đã nghĩ cô ấy bị đập đầu vào đâu đó và bất tỉnh rồi. Tôi có cảm nhận được là cô ấy còn sống, nhưng không ngờ cô ấy lại đang âm thầm chờ đợi cơ hội để tỏa sáng.

ルヴェルジェに通用する攻撃をするとは、まさに大金星であった。

Việc tung ra một đòn tấn công có tác dụng với Luveruge đúng là một chiến công lớn.

それにしても、盲点だった。

Dù vậy, đó là một điểm mù.

実際、気配を消して動きを止めれば、〝停止世界〟から取り残された者達と見分けがつかなくなるのだ。認識はしていても、その他の英雄達との違いがわからない。

Thực tế, nếu xóa bỏ khí tức và ngừng di chuyển, sẽ không thể phân biệt được với những người bị bỏ lại trong “Thế Giới Ngưng Đọng”. Dù có nhận thức được, nhưng không thể thấy được sự khác biệt với những anh hùng khác.

最初から動けるのだと知っていれば警戒もするが、これだけ人が多いと、うっかり見落とす事もあるだろうさ。

Nếu biết từ đầu là có thể di chuyển, thì cũng sẽ cảnh giác, nhưng với số lượng người đông như vậy, cũng có thể sẽ vô tình bỏ sót.

ルヴェルジェなんて他人の顔を覚えているのかさえ怪しいので、こういう単純な作戦の方が効果的だった、という事である。

Luveruge thậm chí còn không chắc có nhớ mặt người khác hay không, nên một kế hoạch đơn giản như thế này lại hiệu quả hơn.

もっとも、これは障害物扱いされて排除されていた可能性もあったので、危険な賭けだったとも言える。シオンの思い切りの良さ、豪胆さがあってこそ、一矢報いるのに成功したのだ。

Tuy nhiên, cũng có khả năng cô ấy sẽ bị coi như một chướng ngại vật và bị loại bỏ, nên có thể nói đây là một canh bạc nguy hiểm. Chính nhờ sự quyết đoán và dũng cảm của Shion, mà họ đã thành công trong việc trả đũa.

不意討ちだったのもあって、シオンはルヴェルジェに傷をつけていた。とは言え、指先を切った程度の傷であり、致命傷にはほど遠い。

Cũng vì là một đòn tấn công bất ngờ, nên Shion đã gây ra một vết thương cho Luveruge. Tuy nhiên, đó chỉ là một vết thương nhỏ ở đầu ngón tay, còn xa mới là một vết thương chí mạng.

それでも、十分な成果だった。

Dù vậy, đó cũng là một thành quả đủ lớn.

何しろルヴェルジェは、全く無警戒で意識の外から放たれた下からの斬撃によって、その両手の間に握りしめていた宝玉を手放してしまっていたのだ。

Bởi vì Luveruge, hoàn toàn không đề phòng, đã bị một nhát chém từ dưới lên ngoài tầm nhận thức, và đã đánh rơi viên ngọc mà nó đang nắm chặt giữa hai bàn tay.

その宝玉──陰陽太極図を彷彿とさせる、白と黒の勾玉を組み合わせたような形状をしていた。

Viên ngọc đó... có hình dạng giống như sự kết hợp của một viên ngọc勾玉màu trắng và đen, gợi nhớ đến hình ảnh của âm dương thái cực đồ.

球形なので、角度によっては見え方が変わるのだろうが、摩訶不思議な魅力がある美しい宝玉である。

Vì có hình cầu, nên tùy vào góc nhìn mà trông nó có thể khác đi, nhưng đó là một viên ngọc đẹp đẽ mang một sức hút kì diệu.

その宝玉が宙を舞い、飛来した小さな竜にパクッと食べられた。

Viên ngọc đó bay lên không trung, và bị một con rồng nhỏ bay đến nuốt chửng.

『おや?』

“Ồ?”

『うわああああっ、ガイア! 変なモノを食べたらダメなのだぞ!!』

“Uwaaaaaaa, Gaia! Không được ăn những thứ kì lạ đâu!!”

小さな竜はガイアだった。

Con rồng nhỏ đó là Gaia.

どうやら俺達を追って来たミリムが抱いていて、宝玉を見て飛び出したらしい。

Có vẻ như Millim, người đã đuổi theo chúng tôi, đang ôm nó, và nó đã lao ra khi nhìn thấy viên ngọc.

餌と間違えたとは思えないので、ガイアなりの考えがあったのだと思う。

Tôi không nghĩ nó đã nhầm đó là thức ăn, nên tôi nghĩ Gaia có suy nghĩ riêng của mình.

ミリムが過保護過ぎるだけなのだ。

Chỉ là Millim quá bảo bọc thôi.

一方の、宝玉を奪われたルヴェルジェはというと、頭を抱えるようにして蹲(うずくま)っていた。

Trong khi đó, Luveruge, người đã bị cướp mất viên ngọc, lại đang ôm đầu và ngồi xổm xuống.

何がどうなっているのか不明だが、その宝玉はかなり大事なものだったようだ。

Không rõ chuyện gì đang xảy ra, nhưng có vẻ như viên ngọc đó là một thứ rất quan trọng.

<<恐らくは、ヴェルダナーヴァとルシアの遺品でしょう。力の残滓や権能などは吸収していた様子ですが、心核(ココロ)までは奪えなかったのだと推測します>>

<<Có lẽ đó là di vật của Verudanava và Lucia. Có vẻ như nó đã hấp thụ những tàn dư sức mạnh và quyền năng, nhưng tôi đoán rằng nó đã không thể cướp được đến tận tâm hạch (trái tim)>>

ああ、有り得そう。

A, có khả năng lắm.

仮にもヴェルダナーヴァは創造神だった訳で、そう簡単に全てを奪われるはずがない。そもそもイヴァラージェって、どこから──

Dù sao thì Verudanava cũng là một vị thần sáng tạo, không thể dễ dàng bị cướp đi tất cả mọi thứ được. Vốn dĩ Ivalage... từ đâu mà...

<<元は同一の存在だった模様>>

<<Có vẻ như ban đầu họ là cùng một tồn tại>>

え、そうなの?

Ể, vậy sao?

それなら、同一化を防ぐ術がなかったのも頷けるけど……。

Nếu vậy thì, việc không có cách nào ngăn cản sự đồng nhất cũng có thể hiểu được...

あれ?

Ủa?

そう考えると、その繋がりまで断ち切ったシオンって、本当に凄い事を成し遂げているような……。

Nghĩ vậy thì, Shion, người đã cắt đứt cả mối liên kết đó, có vẻ như đã làm được một việc thật sự vĩ đại...

<<全ては主様(マスター)の掌の上、という事ですね>>

<<Tất cả đều nằm trong lòng bàn tay của chủ nhân (Master), đúng không ạ>>

違う。断じて。

Không phải. Tuyệt đối không.

俺に対して過大評価するのは、シエルさんの変わらぬ悪癖だよね。

Đánh giá quá cao tôi, đúng là một thói xấu không đổi của Ciel-san.

俺はやれやれと思いながら、さてどうしたものかと思案する。

Tôi vừa nghĩ “haizz”, vừa suy tính xem nên làm gì bây giờ.

ルヴェルジェは吹っ切れたのか、その背の翼をはためかせて宙へ浮かんだ。

Luveruge có vẻ đã dứt khoát, nó vỗ đôi cánh trên lưng và bay lên không trung.

そのまま上昇して、俺達を睥(へい)睨(げい)する。

Nó cứ thế bay lên cao và lườm chúng tôi.

『許さない。私の宝物を奪うなんて、絶対に許さなイ!!』

“Không tha thứ. Dám cướp báu vật của ta, ta tuyệt đối không tha thứ!!”

そう呪詛を吐きながら、力をどんどん高めている。

Vừa nguyền rủa như vậy, nó vừa liên tục tăng cường sức mạnh.

いや、あれでは力を高めるというよりは──

Không, đó không phải là tăng cường sức mạnh, mà là...

<<暴走していますね。宝玉が、演算装置としての役割を果たし、力の制御を行っていたのだと推測されます>>

<<Đang mất kiểm soát. Có thể suy đoán rằng viên ngọc đã đóng vai trò như một thiết bị tính toán và điều khiển sức mạnh>>

うーん、やっぱりか。

Ừm, quả nhiên là vậy.

普通なら、力の制御を失った相手など負け確定なんだが、ルヴェルジェの場合は違う。無尽蔵に湧き出る魔素と、膨大なエネルギーを有しているのだ。

Thông thường, một đối thủ mất kiểm soát sức mạnh thì chắc chắn sẽ thua, nhưng trường hợp của Luveruge thì khác. Nó có một nguồn ma tố vô tận và một nguồn năng lượng khổng lồ.

それだけではない。

Không chỉ có vậy.

あらゆる権能を無効化可能な上に、全てを貫く攻撃手段まで手にしている。

Nó có thể vô hiệu hóa mọi quyền năng, và còn có cả phương pháp tấn công xuyên qua tất cả.

とんでもないエネルギーをそのまま攻撃に用いられたら、地上で生き残れる生命体の方が少なそうだった。

Nếu một nguồn năng lượng kinh khủng như vậy được dùng để tấn công, thì số sinh vật có thể sống sót trên mặt đất có lẽ sẽ rất ít.

俺だけなら何とか対処可能だが、全てを守り切るのは不可能だ。

Chỉ một mình tôi thì còn có thể đối phó được, nhưng bảo vệ tất cả thì là điều không thể.

ガイアを中心にしてミリムやラミリス達が維持している『極大結界』とて、時間稼ぎが精一杯だと思われた。

Ngay cả “Kết giới cực đại” mà nhóm Millim và Lamrys đang duy trì với Gaia làm trung tâm cũng chỉ có thể câu giờ được một chút thôi.

『ヤツが力を解放する前に終わらせるしかない、か』

“Chỉ còn cách kết thúc trước khi nó giải phóng sức mạnh, sao”

俺はそう呟いた。

Tôi lẩm bẩm như vậy.

全力攻撃がどこまで通じるのか、それが問題だ。

Đòn tấn công toàn lực sẽ có tác dụng đến đâu, đó mới là vấn đề.

ルヴェルジェの分体は一撃だったが、果たして目の前の本体に通じるかどうか……。

Phân thân của Luveruge chỉ cần một đòn, nhưng liệu có tác dụng với cơ thể chính trước mắt không...

そう迷っていると、俺の脳内に〝声〟が響いた。

Trong lúc tôi đang do dự, một “tiếng nói” vang lên trong đầu tôi.

──こんな事を君に頼むのは筋違いだと理解しているが──

... Ta hiểu rằng việc nhờ ngươi làm chuyện này là không đúng...

──その子に名前を付けてあげて欲しいの──

... Ta muốn ngươi đặt tên cho đứa trẻ đó...

どうやら、二つの意思を感じた。

Có vẻ như tôi cảm nhận được hai ý chí.

ヴェルダナーヴァとルシアで、その子というのは──ガイアか!

Là Verudanava và Lucia, và đứa trẻ đó... là Gaia sao!

それは残留思念で、本人達はとっくに消えている。それなのに俺に想いを伝えたという事は、それを行うべき理由があるという事だ。

Đó là những tàn dư suy nghĩ, bản thân họ đã biến mất từ lâu. Dù vậy mà họ vẫn truyền đạt suy nghĩ của mình cho tôi, điều đó có nghĩa là có lí do để tôi làm việc đó.

どうやって伝言を残せたのかというと、そのカラクリは簡単だ。ガイアは元々ヴェルダナーヴァの転生体みたいな存在だったから、ガイアの〝魂〟に直接働きかける事が出来たのだ。

Làm thế nào họ có thể để lại lời nhắn, cơ chế rất đơn giản. Gaia vốn là một tồn tại giống như hóa thân của Verudanava, nên họ có thể tác động trực tiếp lên “linh hồn” của Gaia.

ガイアを主体として、そこに自分達の残滓を宿らせる。その意図するところは、娘を守りたいという親心だろうな。

Lấy Gaia làm chủ thể, và để lại những tàn dư của mình ở đó. Ý định của họ, có lẽ là tình yêu của cha mẹ muốn bảo vệ con gái mình.

『ガイア』

“Gaia”

『きゅい?』

“Kyui?”

俺が呼びかけると、ガイアはミリムの腕から逃れてパタパタと飛んで来た。そして、何事かと俺を見る。

Khi tôi gọi, Gaia thoát khỏi vòng tay của Millim và bay đến. Rồi nó nhìn tôi như muốn hỏi có chuyện gì.

俺もガイアを見つめた。

Tôi cũng nhìn Gaia.

そうだな、何という〝名前〟がいいか……。

Đúng vậy, nên đặt “tên” gì đây...

『リムルは何を考えているのだ?』

“Rimuru đang nghĩ gì vậy?”

『どうせまた、とんでもない事をする気なのよさ!』

“Chắc lại định làm chuyện gì đó kinh khủng lắm đây!”

『リムルの野郎はホント、しょーがねーな。時と場合を考えろって話だぜ』

“Tên khốn Rimuru thật là, hết nói nổi. Phải biết xem xét thời điểm và hoàn cảnh chứ”

『クフフフフ、リムル様への不敬は許しませんよ、ギィ』

“Kufufufu, tôi không cho phép sự bất kính đối với ngài Rimuru đâu, Guy”

『うるせーよ』

“Ồn ào quá”

『ディアブロと同意見なのは腹立たしいが、ギィよ、神の御業を疑うのは許さん』

“Dù tức giận vì đồng ý với Diablo, nhưng Guy, ta không cho phép ngươi nghi ngờ công việc của thần”

『マジでうるせーよ!』

“Thật là ồn ào quá đi!”

外野が煩い。

Những người ngoài cuộc thật ồn ào.

非常に五月蠅(うるさ)い。

Vô cùng ồn ào.

テスタロッサ達やディーノ達まで、自分達の意見を語り合っている。

Ngay cả nhóm của Testarossa và Dino cũng đang thảo luận về ý kiến của mình.

俺を心配する声がないのはどうかと思うが、それを気にしたら負けだな。

Tôi nghĩ việc không có ai lo lắng cho mình cũng thật là..., nhưng nếu để ý đến điều đó thì tôi đã thua rồi.

俺は外野の声をシャットダウンして、ガイアに集中する。

Tôi tắt hết tiếng ồn của những người ngoài cuộc và tập trung vào Gaia.

そうだな──

Đúng rồi...

『お前は今日から、〝地星竜〟ヴェルガイアだ! ミリムの生みの親にしてお前の創造主の意志を継ぎ、今日から新たなる〝竜種〟として生きるがいい!!』

“Từ hôm nay, ngươi là “Địa Tinh Long” Verugaia! Kế thừa ý chí của cha mẹ Millim, cũng là đấng sáng tạo của ngươi, từ hôm nay hãy sống với tư cách là một “Long chủng” mới!!”

俺が宣言するなり、ガイアが輝いた。

Ngay khi tôi tuyên bố, Gaia đã tỏa sáng.

『きゅいいいいいいぃ────ッ!!』

“Kyuiiiiiiiiii!!”

喜びの声を上げるガイア。

Gaia cất lên một tiếng reo vui mừng.

新たなる〝竜種〟の誕生だった。

Sự ra đời của một “Long chủng” mới.

五体目のと言いかけたが、考えてみれば俺だって〝竜種〟属性なので、ちょっとややこしい。正規の〝竜種〟は五体という事で、公式記録に残しておくべきだと判断したのだ。

Tôi định nói là cá thể thứ năm, nhưng nghĩ lại thì tôi cũng có thuộc tính “Long chủng”, nên có hơi phức tạp. Tôi quyết định rằng số lượng “Long chủng” chính thức là năm, và nên ghi vào hồ sơ chính thức.

さてさて、本当に〝竜種〟化したかな?

Vậy thì, nó có thực sự đã hóa thành “Long chủng” không nhỉ?

『しておるぞ! 我の弟分の誕生だな!』

“Đã thành rồi đó! Sự ra đời của em trai ta!”

『お馬鹿さんね。私達には性別なんてないじゃない』

“Đồ ngốc. Chúng ta đâu có giới tính”

『そうねえ。愛する者次第だものね。どちらでもいいから、歓迎しましょうか』

“Đúng vậy. Tùy thuộc vào người mình yêu mà. Dù thế nào cũng được, chúng ta hãy chào đón nhé”

『姉上方は、ヴェルガイアの教育には関わらないでもらいたい!』

“Các chị, xin đừng can thiệp vào việc giáo dục của Verugaia!”

『あら、どうしてかしら?』

“Ara, tại sao vậy?”

『それはつまり──』

“Điều đó có nghĩa là...”

ヴェルドラ達も、ヴェルガイアが〝竜種〟になったと認めている様子。話が脱線しているし、ヴェルドラが辿る悲惨な未来が想像出来たので、俺はヴェルガイアへと意識を向ける。

Nhóm của Verudora cũng có vẻ đã thừa nhận Verugaia đã trở thành “Long chủng”. Câu chuyện đang đi lạc đề, và tôi có thể tưởng tượng được tương lai bi thảm mà Verudora sẽ phải đối mặt, nên tôi hướng sự chú ý của mình về phía Verugaia.

感じるのは、ミリムとヴェルガイアの確かな繋がり。そしてそれは、何故か俺とも繋がっていた。

Tôi cảm nhận được một mối liên kết chắc chắn giữa Millim và Verugaia. Và không hiểu sao, mối liên kết đó cũng kết nối với tôi.

<<〝名付け〟の影響でしょうね。『竜種核化[地星]』を獲得しましたし>>

<<Có lẽ là do ảnh hưởng của việc “đặt tên”. Ngài cũng đã có được “Lõi Hóa Long Chủng [Địa Tinh]”>>

どうやら『竜種解放』とかは獲得しなかったので、ヴェルガイアを取り込める訳ではない。それなのに何故か、ヴェルガイアの了承があれば〝竜種核〟に変換可能なのだと。

Có vẻ như tôi không có được “Giải Phóng Long Chủng” nên không thể hấp thụ Verugaia. Dù vậy, không hiểu sao, nếu được Verugaia đồng ý, thì có thể biến nó thành “Lõi Long Chủng”.

不思議な事もあるものだ。

Thật là có những chuyện kì lạ.

まあ、俺の〝希望(エルピス)〟には孔が三つ……って、よく見るともう一つ空いていた。

Mà, “Hi Vọng (Elpis)” của tôi có ba lỗ... mà, nhìn kĩ thì còn một lỗ nữa.

『……ヴェルガイア君?』

“... Verugaia-kun?”

『きゅい!』

“Kyui!”

手伝ってくれる気満々だった。

Nó rất hăng hái muốn giúp đỡ.

俺は素直に、その好意に甘える事にしたのだった。

Tôi đã quyết định sẽ thẳng thắn chấp nhận lòng tốt đó.

さてさて、ヴェルガイアことガイアの力まで取り込んで、俺の〝希望(エルピス)〟が妖しく輝く。

Vậy là, hấp thụ cả sức mạnh của Verugaia hay Gaia, “Hi Vọng (Elpis)” của tôi tỏa ra một ánh sáng kì ảo.

七色の色彩は、神秘的でとても美しいのだ。

Màu sắc bảy sắc cầu vồng thật huyền bí và vô cùng đẹp đẽ.

こうして俺の方は、この局面で更に力を得た訳だが、ルヴェルジェも大変な事になっていた。どんどんどんどん力を溜めて、最初の巨体を再現していたのだ。

Như vậy, tôi đã có thêm sức mạnh trong tình thế này, nhưng Luveruge cũng đang gặp rắc rối lớn. Nó liên tục tích tụ sức mạnh và tái tạo lại cơ thể khổng lồ ban đầu.

今度は分離せず、全力を放つ構えだな。

Lần này không tách ra, mà là chuẩn bị tung ra toàn bộ sức mạnh.

<<持久戦に持ち込めば勝利確定だったのですが、こうなるとルヴェルジェの攻撃による影響規模が、全次元の遍(あまね)く世界にまで及びそうですね>>

<<Nếu kéo dài trận chiến thì chiến thắng đã chắc chắn, nhưng nếu thế này thì quy mô ảnh hưởng từ đòn tấn công của Luveruge có vẻ sẽ lan rộng ra tất cả các thế giới ở mọi chiều không gian>>

困ったものですと、まるで困っていない口調でシエルさんが言った。

Đúng là phiền phức, Ciel-san nói với một giọng điệu hoàn toàn không có vẻ gì là phiền phức.

あの巨体だが、言わばクッション材の役割を果たしていたのだろう。アレに守られる事で、ルヴェルジェは本当の全力を発揮出来るという訳だ。

Cơ thể khổng lồ đó, có thể nói là đã đóng vai trò như một vật đệm. Được bảo vệ bởi nó, Luveruge có thể phát huy hết sức mạnh thực sự của mình.

その攻撃は基軸世界だけに留まらず、全ての世界に影響を及ぼすのだという……。

Đòn tấn công đó không chỉ dừng lại ở thế giới cốt lõi, mà còn ảnh hưởng đến tất cả các thế giới...

それでも俺は慌てない。

Dù vậy tôi vẫn không hoảng hốt.

何故ならば、シエルさんがまるで動じていないからだ。

Bởi vì Ciel-san hoàn toàn không hề nao núng.

やはり俺には、相棒(シエル)が必要なのである。

Quả nhiên, tôi cần có cộng sự (Ciel).

シエルさんがいれば、少なくとも重責を二分できるのだ。

Nếu có Ciel-san, ít nhất tôi cũng có thể chia sẻ một nửa trách nhiệm nặng nề.

ルヴェルジェの力が更に増した。

Sức mạnh của Luveruge lại tăng lên.

底なしに、どんどん湧いて出るようだ。

Dường như nó đang trào ra không ngừng nghỉ.

シエルさんの計算も、あながち間違ってはいないのだろう。

Tính toán của Ciel-san, có lẽ cũng không hoàn toàn sai.

<<あながちではなく、確実に正しいです>>

<<Không phải là không hoàn toàn, mà là hoàn toàn chính xác ạ>>

そうでしょうね。

Chắc chắn rồi.

シエルさんはそう言うが、慌てていないので危機感も何もない。

Ciel-san nói vậy, nhưng vì không hoảng hốt nên cũng không có cảm giác nguy hiểm gì.

その理由は多分、俺の全力が見たいからとか、そういう斜め上の発想があるからじゃないのか?

Lí do có lẽ là vì cô ấy muốn thấy toàn bộ sức mạnh của tôi, hay là có những ý tưởng lệch lạc như vậy phải không?

<<……黙秘します>>

<<... Thần xin giữ im lặng>>

黙秘とか、どんどん人間臭くなっちゃってまあ……。

Giữ im lặng, càng ngày càng giống con người rồi...

ともかく、シエルさんのお陰で、俺も平静でいられるのである。

Dù sao đi nữa, nhờ có Ciel-san, tôi cũng có thể giữ được bình tĩnh.

そして静かに、〝希望(エルピス)〟に力を込めた。

Và rồi tôi lặng lẽ dồn sức mạnh vào “Hi Vọng (Elpis)”.

シエルさんは何も言わない。

Ciel-san không nói gì.

それが正解だと、沈黙によって俺の背中を押してくれていた。

Bằng sự im lặng, cô ấy đã động viên tôi rằng đó là câu trả lời đúng.

武力とは、力と技、そして経験と知恵、それらに加えて運によって成り立っている。

Vũ lực được tạo thành từ sức mạnh và kĩ năng, kinh nghiệm và trí tuệ, và thêm vào đó là may mắn.

この五つの要素の中で運だけは、個々人の努力ではどうしようもないので除外するとして。

Trong năm yếu tố này, chỉ có may mắn là không thể thay đổi được bằng nỗ lực của cá nhân, nên chúng ta sẽ bỏ qua nó.

経験と知恵は必須で、ある程度のセンスで補えるものの、積み重ねが重要となる要素だ。

Kinh nghiệm và trí tuệ là bắt buộc, và dù có thể được bù đắp bằng một chút năng khiếu, nhưng đó là những yếu tố mà sự tích lũy là rất quan trọng.

技は、生まれ持った素質も大事だが、繰り返される毎日の鍛錬によって、磨かれた宝石のような珠玉の輝きを放つのだ。

Kĩ năng, dù tố chất bẩm sinh cũng quan trọng, nhưng qua quá trình rèn luyện hàng ngày lặp đi lặp lại, nó sẽ tỏa ra một ánh sáng lấp lánh như một viên ngọc quý đã được mài giũa.

そして、力だが──これは、全てを決する要素だった。

Và sức mạnh... đây là yếu tố quyết định tất cả.

純然たる力は、全てを薙ぎ払う暴力なのである。

Sức mạnh thuần túy là bạo lực quét sạch tất cả.

どんな知恵だろうが、卓越した技量だろうが、圧倒的な力の前には通用しない。〝柔よく剛を制す〟というが、それは常識的な範囲内での話であって、結局は摂理を超えた力には抗えないのだ。

Dù là trí tuệ nào đi nữa, dù là kĩ năng vượt trội nào đi nữa, cũng không có tác dụng trước một sức mạnh áp đảo. Người ta nói “nhu thắng cương”, nhưng đó chỉ là trong phạm vi thông thường, và cuối cùng, không thể chống lại được một sức mạnh vượt qua quy luật tự nhiên.

人が自然に勝てないように、それは宇宙の真理であった。

Giống như con người không thể chiến thắng tự nhiên, đó là một chân lí của vũ trụ.

ルヴェルジェは、まさにそれだ。

Luveruge chính là như vậy.

人にとっての自然災害そのもので、どうやったって抗えない怪物だった。

Nó là một thảm họa tự nhiên đối với con người, một con Quái vật mà không thể chống lại được bằng bất cứ cách nào.

それこそ創造神をも呑み込んで、俺達が今生きている世界を滅ぼそうとしている。

Nó thậm chí còn nuốt chửng cả thần sáng tạo, và đang cố gắng hủy diệt thế giới mà chúng ta đang sống.

ヴェルダナーヴァなら、世界を滅ぼした先に新世界を創造しようとしていたが、ルヴェルジェにはそんな発想があるのかどうかすら不明だ。

Nếu là Verudanava, sau khi hủy diệt thế giới, hắn đã định tạo ra một thế giới mới, nhưng Luveruge có ý tưởng như vậy hay không cũng không rõ.

ただ純然と力を高めて、腹立たしいという感情のままに、この俺を──俺の仲間達ごと滅ぼそうとしているだけなのだ。

Nó chỉ đơn thuần tăng cường sức mạnh, và theo cơn giận dữ, nó chỉ đang cố gắng hủy diệt tôi... cùng với các đồng đội của tôi.

それが出来るだけの絶対的な暴力が、今解き放たれようとしているのだ。

Một bạo lực tuyệt đối có thể làm được điều đó, đang sắp được giải phóng.

絶対に許せないし、そんな愚行を許容する訳にはいかなかった。

Tuyệt đối không thể tha thứ, và tôi không thể chấp nhận một hành động ngu xuẩn như vậy.

だから俺は──

Vì vậy, tôi...

『準備は終わったか?』

“Chuẩn bị xong chưa?”

『──オマエ、生意気。絶対に許さない。こんな世界も、もう要らない。全て壊してやる!!』

“... Ngươi, xấc xược. Ta tuyệt đối không tha thứ. Thế giới này cũng không cần nữa. Ta sẽ phá hủy tất cả!!”

『あ、そ。無理だと思うが、出来るもんならやってみろ』

“A, vậy sao. Tôi nghĩ là không thể đâu, nhưng nếu làm được thì cứ thử đi”

──全てを賭けて、ルヴェルジェを否定する。

... dùng tất cả những gì mình có, tôi phủ nhận Luveruge.

神はサイコロを振らない。

Thần không gieo xúc xắc.

それは俺も同じ。

Tôi cũng vậy.

勝てる戦いしかしないし、そうなるように立ち回っている。

Tôi chỉ tham gia những trận chiến có thể thắng, và tôi hành động để đảm bảo điều đó.

今回も同様だった。

Lần này cũng vậy.

ルヴェルジェが、双剣をクロスさせるように構えた。

Luveruge bắt chéo song kiếm và vào thế.

攻撃に備えて、俺も居合腰に身構える。

Để chuẩn bị cho đòn tấn công, tôi cũng vào thế居合腰.

狙うのは、燕(つばめ)返(がえし)だ。初撃を打ち落とし、返す刀で二撃目を弾いて──という感じに想定していたのだが、ルヴェルジェは想像外の行動に出た。

Mục tiêu là燕返. Tôi đã dự tính sẽ đỡ đòn đầu tiên, sau đó dùng kiếm trả lại để gạt đòn thứ hai... nhưng Luveruge lại có một hành động ngoài sức tưởng tượng.

『オマエなんて、死んじゃえ!!』

“Một kẻ như ngươi, chết đi!!”

俺に憎悪を叩きつけるように、二本の剣──〝慈愛(カーマ)〟と〝記憶(メモリー)〟を投げつけてきたのである。

Như muốn trút hết sự căm ghét vào tôi, nó đã ném hai thanh kiếm... “Từ ái (Karma)” và “Kí ức (Memory)”... về phía tôi.

それだけではない。

Không chỉ có vậy.

二本の剣は導線になっていて、ルヴェルジェの力を受けていた。そこに収束された力は、世界を幾度も滅ぼせるほどの破壊力となっていたのだ。

Hai thanh kiếm đã trở thành dây dẫn và nhận sức mạnh của Luveruge. Sức mạnh hội tụ ở đó đã trở thành một sức mạnh hủy diệt có thể hủy diệt thế giới nhiều lần.

純然たる力は、全てを薙ぎ払う暴力となる──という俺の考えを証明するような、天地創造を上回るほどの破壊の力だった。

Sức mạnh thuần túy sẽ trở thành bạo lực quét sạch tất cả... một sức mạnh hủy diệt vượt qua cả trời đất, như thể để chứng minh cho suy nghĩ của tôi.

だが、しかし。

Nhưng mà.

その手は俺にとって、笑えるほどに都合が良かったのだ。

Nước đi đó đối với tôi, lại thuận lợi đến mức buồn cười.

『その手は悪手だよ』

“Nước đi đó là một nước đi tồi đấy”

俺は慌てず、権能を行使する。

Tôi không hoảng hốt, và sử dụng quyền năng của mình.

それは、全てを呑み込む『魂暴喰』だ。

Đó là “Cắn Nuốt Linh Hồn” nuốt chửng tất cả.

ありとあらゆる放出系の攻撃は、俺の『虚数空間』に隔離可能なのだった。

Tất cả các đòn tấn công hệ phóng xuất đều có thể bị cách li trong “Không Gian Ảo” của tôi.

<<……これだけ膨大なエネルギー量など、普通は無理なんですけどね。まあ、今更ですし問題ありません>>

<<... Một lượng năng lượng khổng lồ như thế này, bình thường thì không thể đâu ạ. Mà, giờ cũng muộn rồi nên không có vấn đề gì>>

へ?

Hả?

それって、今言う必要あった!?

Cái đó, có cần phải nói bây giờ không!?

大丈夫だと思って余裕かましてたから、ダメだった場合なんて想定していなかった。

Vì tôi nghĩ không sao nên đã rất thong thả, tôi không hề lường trước trường hợp thất bại.

実に問題ありまくりである……。

Thật là có quá nhiều vấn đề...

<<大丈夫です>>

<<Không sao đâu ạ>>

何も大丈夫じゃなさそうだったが、確かに今更だ。

Dù có vẻ chẳng có gì là ổn cả, nhưng đúng là bây giờ đã muộn rồi.

気を取り直して、次は俺の番だった。

Lấy lại tinh thần, tiếp theo là lượt của tôi.

『それじゃあ、頼むぞ!』

“Vậy thì, nhờ cả vào mọi người!”

『うむ、我の全力を披露しようとも!』

“Ừm, ta sẽ cho ngươi thấy toàn bộ sức mạnh của mình!”

『任せなさいな。ここで出し惜しみなんてしないわよ』

“Cứ giao cho ta. Ta sẽ không nương tay ở đây đâu”

『なんだかワクワクしちゃうわ』

“Sao mà thấy hào hứng quá”

『きゅい!!』

“Kyui!!”

合意も得られたので、全力全開だ。

Đã có được sự đồng ý, nên tôi sẽ dốc toàn lực.

周囲に影響が出ないように凝縮された〝力〟は、そこだけ異次元化しているほどに禍々しい。更に『虚無崩壊』も全力稼働させているので、余波が出ようとも相殺余裕──のハズだった。

“Sức mạnh” được nén lại để không ảnh hưởng đến xung quanh, tà ác đến mức chỉ riêng nơi đó đã biến thành một chiều không gian khác. Hơn nữa, “Hư Vô Băng Hoại” cũng đang hoạt động hết công suất, nên dù có dư chấn cũng có thể dễ dàng vô hiệu hóa... đáng lẽ là vậy.

<<そんな使い方をするものではないのですが、それが最適解になるのが解せません>>

<<Đó không phải là cách sử dụng của nó, nhưng việc đó lại trở thành giải pháp tối ưu thật khó hiểu>>

よし!

Được rồi!

シエルさんからも合意が出たので、後はこの暴力を解き放つのみ!!

Đã có sự đồng ý từ Ciel-san, giờ chỉ còn việc giải phóng bạo lực này thôi!!

シエルさんはツンデレなので、文句を言いながらも俺の補助を行ってくれていた。なので安心して、後の事を任せられるのだ。

Vì Ciel-san là một tsundere, nên dù có phàn nàn, cô ấy vẫn hỗ trợ tôi. Vì vậy, tôi có thể yên tâm giao phó những việc còn lại.

俺はルヴェルジェを見据えた。

Tôi nhìn chằm chằm vào Luveruge.

どうやら現実を認めたくない様子で、混乱しているのが見て取れた。

Có vẻ như nó không muốn chấp nhận thực tế, và đang bối rối.

『オマエ、オマエェ────ッ!! 何なんだ、オマエは一体、誰なんだぁ────ッ!?』

“Ngươi, ngươi...!! Ngươi là cái gì, rốt cuộc ngươi là ai...!!”

それを聞き、俺は笑う。

Nghe vậy, tôi cười.

何だと聞かれても、俺は俺だ。

Dù có hỏi là ai, thì tôi vẫn là tôi.

三上悟。

Mikami Satoru.

リムル゠テンペスト。

Rimuru=Tempest.

そして──

Và...

俺が誰か、だって?

Ngươi hỏi ta là ai à?

そんなのは、決まってるだろ。

Chuyện đó, đã được quyết định rồi.

『俺の〝名〟は──────────』

““Tên” của ta là...”

そう言えば自己紹介もしていなかったなと思い出し、俺はルヴェルジェに教えてあげた。

Nghĩ lại thì mình cũng chưa tự giới thiệu, tôi đã nói cho Luveruge biết.

それなのに、何故かルヴェルジェが激昂する。

Thế nhưng, không hiểu sao Luveruge lại tức giận.

『ふざけるな! 私はもう孤独ではない! ヴェルダナーヴァを取り戻し、一つになった。全知全能になったんだ!!』

“Đừng có đùa! Ta không còn cô đơn nữa! Ta đã đoạt lại Verudanava và hợp làm một. Ta đã trở nên toàn tri toàn năng rồi!!”

やれやれだ。

Haizz.

ルヴェルジェが余りにも無知過ぎて、笑うしかない。

Luveruge quá ngu dốt, tôi chỉ có thể cười.

ヴェルダナーヴァを吸収して、更には自分に〝名付け〟までして〝全なる一〟に戻ろうとしたのに、結局は全知全能に至れなかったのだな、と。

Dù đã hấp thụ Verudanava, và thậm chí còn tự “đặt tên” cho mình để trở lại thành “Một thể thống nhất”, nhưng cuối cùng vẫn không thể đạt đến sự toàn tri toàn năng.

まあ、それも当然だ。

Mà, đó cũng là điều hiển nhiên.

『だってお前、存在そのものが〝矛盾〟しているじゃないか』

“Bởi vì chính sự tồn tại của ngươi đã là một “mâu thuẫn” rồi còn gì”

矛盾が存在しないからこその〝全なる一〟なのに、ヴェルダナーヴァには矛盾が多過ぎた。そんな存在を取り込み統合してしまったのだから、ルヴェルジェだって〝全なる一〟に戻れるはずがないのである。

Chính vì không có mâu thuẫn nên mới là “Một thể thống nhất”, nhưng Verudanava lại có quá nhiều mâu thuẫn. Vì đã hấp thụ và hợp nhất một tồn tại như vậy, nên Luveruge không thể nào trở lại thành “Một thể thống nhất” được.

<<真理ですね>>

<<Đó là chân lí>>

だろ?

Phải không?

子供にだって理解出来る理屈だ。

Một lí lẽ mà ngay cả trẻ con cũng có thể hiểu được.

色々な考え方を許容して多様性を目指すというのは理想だが、意思統一の妨げになるのもまた事実。個人の権利を追求し過ぎれば、集団としての纏まりに綻びが出てしまうものなのである。

Chấp nhận nhiều cách suy nghĩ khác nhau và hướng đến sự đa dạng là một lí tưởng, nhưng cũng là một sự thật rằng nó sẽ cản trở việc thống nhất ý chí. Nếu theo đuổi quá mức quyền lợi cá nhân, thì sự đoàn kết của một tập thể sẽ bị rạn nứt.

かと言って、得た権利を奪われるのは面白くない訳で、ここに綱引きが生じてしまうのも仕方のない話なんだよね。

Nhưng nói vậy chứ, bị tước đi quyền lợi đã có được cũng không vui vẻ gì, nên việc có sự giằng co ở đây cũng là điều khó tránh khỏi.

故に、俺達は矛盾を孕んだ存在として、常により良い世界を目指して議論を重ねていく必要があるのだろう。

Vì vậy, với tư cách là những tồn tại mang trong mình mâu thuẫn, có lẽ chúng ta cần phải liên tục thảo luận để hướng đến một thế giới tốt đẹp hơn.

武力ではなく、対話による解決を目指しながら、ね。

Vừa hướng đến việc giải quyết bằng đối thoại, chứ không phải bằng vũ lực.

もっとも、それはルヴェルジェには関係のない話。他人の主張を理解しようともせず、権利をも認めずに奪おうとする者とは、会話が成立しないのだ。

Dù vậy, đó là chuyện không liên quan đến Luveruge. Với một kẻ không chịu hiểu lập luận của người khác, không công nhận quyền lợi mà còn muốn cướp đoạt, thì không thể nào có cuộc trò chuyện được.

排除しなければこちらが喰われるのなら、俺は全力で抗うまでである。

Nếu không loại bỏ thì sẽ bị nuốt chửng, vậy thì tôi sẽ chống cự đến cùng.

という事で、そろそろ終わりにするとしよう。

Vậy nên, có lẽ đã đến lúc kết thúc rồi.

俺は驚愕して混乱するルヴェルジェに向けて、準備万端に用意した一撃を叩き込む。

Tôi tung một đòn đã chuẩn bị sẵn sàng vào Luveruge đang kinh ngạc và bối rối.

決め技は必殺の──虚(こ)崩(ほう)朧(ろう)・千(せん)変(ぺん)万(ばん)華(か)だ。

Đòn quyết định là tuyệt chiêu... Hư Băng Lung - Thiên Biến Vạn Hóa.

『私が負ける? どうして? オカシイよ、そんなの──』

“Ta thua ư? Tại sao? Thật kì lạ, chuyện đó...”

『安心しろ。お前も俺が喰ってやる!』

“Yên tâm đi. Ngươi cũng sẽ bị ta nuốt chửng!”

俺の剣が、ルヴェルジェを斬った。

Thanh kiếm của tôi đã chém Luveruge.

閃光。

Một tia sáng.

時間が停止しているにもかかわらず、目が眩む程の光の奔流が周囲に満たされた。

Dù thời gian đang ngưng đọng, một dòng chảy ánh sáng chói lòa đến mức làm lóa mắt đã tràn ngập xung quanh.

それは、目に見えるほどの〝情報子〟だった。

Đó là những “hạt thông tin” có thể nhìn thấy được.

滅びゆくルヴェルジェが発する負の瘴気を、俺から溢れ出した闇色の妖気(オーラ)が無害化しているのだ。

Luồng tà khí (aura) màu đen tràn ra từ tôi đang vô hiệu hóa luồng chướng khí tiêu cực mà Luveruge đang hấp hối tỏa ra.

俺の権能が、皆を守っていた。

Quyền năng của tôi đang bảo vệ mọi người.

ルヴェルジェは全力で抵抗しているようだが、俺の『魂暴喰』に呑まれた以上、何も出来ずに身体を蝕まれていくだけである。

Luveruge có vẻ đang chống cự hết sức, nhưng một khi đã bị “Cắn Nuốt Linh Hồn” của tôi nuốt chửng, nó chỉ có thể bị ăn mòn cơ thể mà không thể làm gì được.

『間違ってる、こんなのは、絶対に有り得ない……』

“Sai rồi, chuyện này, tuyệt đối không thể xảy ra...”

『諦めろ。お前はやり過ぎたんだ。悪い事をしたら、反省が必要だろ? せいぜい、悔い改めるといい。俺の内にある『虚数空間』で、お前の愚かさと未熟さをな。それが、お前に許された全てだ』

“Từ bỏ đi. Ngươi đã đi quá xa rồi. Làm chuyện xấu thì phải biết hối lỗi chứ? Hãy cố gắng hối cải đi. Trong “Không Gian Ảo” bên trong ta, về sự ngu ngốc và non nớt của ngươi. Đó là tất cả những gì được phép cho ngươi”

俺は冷たく宣言した。

Tôi tuyên bố một cách lạnh lùng.

何人たりとも逃れられない虹色の闇──『魂暴喰』が、ルヴェルジェを喰らい尽くす。

Bóng tối bảy sắc cầu vồng mà không ai có thể thoát khỏi... “Cắn Nuốt Linh Hồn”... nuốt chửng Luveruge.

言葉もなく。

Không một lời nói.

恐怖もなく。

Không một nỗi sợ hãi.

嘆きもなく。

Không một tiếng than thở.

ルヴェルジェはただ虚しく、光の粒子を撒き散らすのみ。

Luveruge chỉ vô ích, tỏa ra những hạt ánh sáng.

ルヴェルジェは考える。

Luveruge suy nghĩ.

矛盾とは、何なのかを……。

Mâu thuẫn là gì...

最初に在ったのは──〝死〟という終わりのない世界。

Ban đầu có... một thế giới không có hồi kết mang tên “cái chết”.

ただし──〝生〟という始まりもまた、その世界には存在していなかった。

Tuy nhiên... một sự khởi đầu mang tên “sự sống” cũng không tồn tại trong thế giới đó.

過不足はなく、安らぎに満ちている。

Không thừa không thiếu, tràn ngập sự bình yên.

変化を恐れて、夢見るように微睡んでいた。

Vì sợ hãi sự thay đổi, nó đã chìm trong giấc ngủ mơ màng.

そんな中、半身が勇気を胸に自由に向けて飛び出したのだ。

Trong lúc đó, một nửa cơ thể đã ôm lấy lòng dũng cảm và bay về phía tự do.

そして初めて、孤独というものを知った。

Và lần đầu tiên, nó đã biết đến sự cô đơn.

ヴェルダナーヴァがそうだったように、まだ名もなかったイヴァラージェも寂しさを覚えたのだ。

Giống như Verudanava, Ivalage, lúc đó còn chưa có tên, cũng cảm thấy cô đơn.

全知全能に戻れば、一切の変化がなくなる。

Nếu trở lại toàn tri toàn năng, mọi sự thay đổi sẽ biến mất.

それは嫌だと叫ぶならば、自ら道を切り開かねばならなかった。

Nếu gào thét rằng không muốn như vậy, thì nó phải tự mình mở ra con đường.

ヴェルダナーヴァは、新たな世界、新たな仲間を求めた。

Verudanava đã tìm kiếm một thế giới mới, những người bạn mới.

それに対してイヴァラージェは、知恵と感情を得ようとする勇気を持てずに、何も感じないという道を選択したのである。

Ngược lại, Ivalage lại không có đủ dũng khí để có được trí tuệ và cảm xúc, và đã chọn con đường không cảm nhận gì cả.

そうして、数十億年という年月が経過して──

Và thế là, hàng tỉ năm đã trôi qua...

神は再び一つになった。

Thần đã một lần nữa hợp làm một.

それなのに、どうして〝全なる一〟ではないのだろうか?

Thế nhưng, tại sao lại không phải là “Một thể thống nhất”?

数多の要素があるのだろうが、やはりリムルの言葉が正しいのだろう。

Có lẽ có rất nhiều yếu tố, nhưng có lẽ lời của Rimuru là đúng.

結局のところ、幾つもの考え方があるのだ。

Suy cho cùng, có rất nhiều cách suy nghĩ khác nhau.

それらは全て正しくて、そして間違ってもいた。

Tất cả chúng đều đúng, và cũng đều sai.

ルヴェルジェとなった今は、知恵と感情を捨てたいとは思えない。

Bây giờ đã trở thành Luveruge, nó không muốn vứt bỏ trí tuệ và cảm xúc.

新たな世界を創造して、そこで絶対神として──しかしそれでは、何もかも肯定されるだけの存在になってしまうだけで……。

Tạo ra một thế giới mới, và ở đó với tư cách là một vị thần tuyệt đối... nhưng nếu vậy, nó sẽ chỉ trở thành một tồn tại mà mọi thứ đều được khẳng định...

ルヴェルジェは、唐突に悟った。

Luveruge đột nhiên nhận ra.

それでは何も面白くはないな、と。

Như vậy thì chẳng có gì thú vị cả.

<<だからこその、矛盾。それが〝混沌の真理〟なのです>>

<<Chính vì vậy, mới có mâu thuẫn. Đó chính là “chân lí của hỗn độn”>>

そうだったのかと、ルヴェルジェは納得する。

Ra là vậy, Luveruge chấp nhận.

ヴェルダナーヴァの権能を受け継いだルヴェルジェでは、全知全能に至れなかったのだ。

Luveruge, người đã kế thừa quyền năng của Verudanava, không thể đạt đến sự toàn tri toàn năng.

矛盾を正すのではなく、それすらも受け入れた先に、新たな可能性が広がっていた。

Không phải là sửa chữa mâu thuẫn, mà là sau khi chấp nhận cả nó, những khả năng mới đã mở ra.

その為には、新たな神を誕生させる必要が────

Để làm được điều đó, cần phải sinh ra một vị thần mới...

ああ、そうか──と、ルヴェルジェは微笑んだ。

A, ra là vậy... Luveruge mỉm cười.

その満たされた思考を最後に、ルヴェルジェの意識は完全に途絶えた。

Với suy nghĩ mãn nguyện đó, ý thức của Luveruge đã hoàn toàn biến mất.

………

.........

……

......

...

ルヴェルジェは、俺に喰われて完全に消滅した。

Luveruge đã bị tôi nuốt chửng và hoàn toàn biến mất.

俺はそっと、『虚数空間』を閉じる。

Tôi nhẹ nhàng đóng “Không Gian Ảo”.

こうなるともう、脱出は不可能だ。

Đến nước này thì không thể thoát ra được nữa.

俺が死ぬまで──或いは、死んだ後も──解放される事はない。

Cho đến khi tôi chết... hoặc là sau khi tôi chết... cũng sẽ không được giải thoát.

そもそもの話、俺に寿命があるのかどうかも疑わしいのだけれども……。

Vốn dĩ, việc tôi có tuổi thọ hay không cũng là một điều đáng nghi ngờ...

<<ありません。主様(マスター)は永劫不滅です!>>

<<Không có ạ. Chủ nhân (Master) là bất hủ vĩnh viễn!>>

嘘だろ?

Không thể nào?

それはそれで、色々と大変なんだけど……。

Nếu vậy thì, cũng có nhiều chuyện phiền phức lắm...

まあいいさ。

Thôi kệ đi.

それが本当かどうかは、追々判明する事だ。

Đó có phải là sự thật hay không, rồi sẽ rõ thôi.

どうするべきかも、その時になってから考えればいい。

Nên làm gì, cũng có thể suy nghĩ sau khi đến lúc đó.

それにしても、ルヴェルジェの最期は何故か満足気だったな。

Dù vậy, cái chết của Luveruge không hiểu sao lại có vẻ mãn nguyện.

<<何やらヤツも、悟りを開いたみたいですね>>

<<Có vẻ như tên đó cũng đã giác ngộ rồi nhỉ>>

ヤツ呼ばわりはスルーするとして、今更かよ?

Bỏ qua việc gọi nó là “tên đó”, bây giờ mới giác ngộ sao?

まあ、それならそれでいいか。

Mà, nếu vậy thì cũng được.

ルヴェルジェにとっては罰というよりも、救いになったのかも知れないし。

Đối với Luveruge, có lẽ đó không phải là một hình phạt, mà là một sự cứu rỗi.

何にせよ、これで終わりだった。

Dù sao đi nữa, mọi chuyện đã kết thúc.

何らかの力が働いてルヴェルジェが復活したとしても、全てが混沌とした『虚数空間』の中で、優しく『虚無』に包まれて、眠り続けるより他にない。

Dù có một sức mạnh nào đó tác động và Luveruge có phục sinh, thì trong “Không Gian Ảo” hỗn loạn, nó cũng chỉ có thể được bao bọc bởi “Hư Vô” một cách dịu dàng và tiếp tục ngủ say.

まあ、寂しくはないだろう。

Mà, chắc sẽ không cô đơn đâu.

そこにはまだ、クレイマンの残滓とかもいるみたいだし。

Ở đó, có vẻ như vẫn còn những tàn dư của Kleiman.

<<気付いていたのですか?>>

<<Ngài đã nhận ra sao?>>

そりゃあ、まあね。

Thì, cũng đúng.

反省しながら過ごせと願ったのは俺だから、俺の願いに応えた誰かさんが、何かやってても不思議ではないと思っただけさ。

Vì người đã ước rằng hắn phải sống trong sự hối lỗi là tôi, nên tôi chỉ nghĩ rằng việc ai đó đáp lại mong muốn của tôi và làm gì đó cũng không có gì lạ.

その件については、詳しく聞かない。

Về vấn đề đó, tôi sẽ không hỏi chi tiết.

クレイマンの復活を却下したのは俺なので、責任を持って付き合っていくしかあるまいよ。

Vì người đã từ chối việc phục sinh của Kleiman là tôi, nên tôi phải có trách nhiệm đối mặt với nó.

ルヴェルジェだってそうだ。

Luveruge cũng vậy.

俺と敵対した者達にだって、彼等なりの正義があったのだ。

Ngay cả những kẻ đã đối đầu với tôi cũng có chính nghĩa của riêng họ.

それを許容せず、俺の正義(つごう)を押し付けた以上、これからも自らの正しさを証明し続けなければならない。

Vì đã không chấp nhận điều đó và áp đặt chính nghĩa (sự tiện lợi) của mình, nên từ nay về sau tôi phải tiếp tục chứng minh sự đúng đắn của bản thân.

それが、責任というものだった。

Đó là trách nhiệm.

人の心を失くして、自己中心的なバケモノになってしまわぬように……。

Để không mất đi trái tim con người và trở thành một con Quái vật ích kỉ...

俺は自分を戒めるように、そんな事を思ったのだった。

Tôi đã nghĩ như vậy, như thể để tự răn mình.

こうして、最後の戦いは俺達の勝利で終わった。

Và thế là, trận chiến cuối cùng đã kết thúc với chiến thắng của chúng tôi.

そして、時が動き出す──

Và rồi, thời gian bắt đầu chuyển động...

Chương cuối: Về chuyện tôi...

終章 転生したら

最終決戦だが、無事に終息した。

Trận chiến cuối cùng đã kết thúc một cách an toàn.

あれから色々あった。

Từ đó đến nay đã xảy ra rất nhiều chuyện.

いや本当に。

Thật sự là vậy.

思い出すのも大変なほどだ。

Nhiều đến mức nhớ lại cũng khó khăn.

………

...

……

...

...

先ずはルヴェルジェだが、俺とヴェルドラ達の力を結集させた究極奥義──虚(こ)崩(ほう)朧(ろう)・千(せん)変(ぺん)万(ばん)華(か)によって、完全消滅。俺の中で眠る事となった。

Đầu tiên là Luverge, nhờ奥義 tối thượng—Hư Băng Lung - Thiên Biến Vạn Hóa—kết tinh sức mạnh của tôi và Verudora, hắn đã hoàn toàn biến mất. Hắn đã chìm vào giấc ngủ bên trong tôi.

その際に発揮された威力だが、数値で聞かされると大した事なさそうに思えるが、実際にはとんでもないエネルギーが発生していた。

Uy lực được phát huy lúc đó, nếu nghe bằng con số thì có vẻ không đáng kể, nhưng thực tế đã tạo ra một nguồn năng lượng khủng khiếp.

何しろ、その大半が衝撃波を封じ込める為に使用された、というのだから驚きである。

Dù sao thì, phần lớn năng lượng đó đã được sử dụng để kiềm chế sóng xung kích, điều đó thật đáng kinh ngạc.

放ってしまうと、宇宙を幾つも消滅させるほどの威力となる。

Nếu giải phóng, nó sẽ có uy lực đủ để tiêu diệt nhiều vũ trụ.

というより、ルヴェルジェほどの超高密度のエネルギー生命体を消滅させようとした場合、それと同等以上のエネルギーをぶつける必要があるわけで、そんな規模のエネルギー衝突が発生しちゃったりすると、宇宙どころか多次元崩壊は免れない訳だ。

Hay nói đúng hơn, để tiêu diệt một thể sống năng lượng siêu đậm đặc như Luverge, cần phải va chạm với một nguồn năng lượng tương đương hoặc lớn hơn, và nếu một vụ va chạm năng lượng ở quy mô đó xảy ra, thì không chỉ vũ trụ mà cả sự sụp đổ đa chiều cũng là điều không thể tránh khỏi.

それを未然に防ぐべく、ギィ達の協力で『極大結界』やその他諸々の防衛措置を取っていた訳だが、そんなもので抑え込めるような規模ではなかったということ。

Để ngăn chặn điều đó, chúng tôi đã hợp tác với Guy và những người khác để thiết lập “Kết Giới Cực Đại” và các biện pháp phòng thủ khác, nhưng quy mô của nó không phải là thứ có thể kiềm chế được bằng những thứ đó.

ルヴェルジェの巨体を試し撃ちで崩壊させたけど、あの時の〝三分の力〟とは、三十パーセントという意味ではなさそうだ、という気がした。多分本当の意味で、三分だったのだろう。

Tôi đã phá hủy cơ thể khổng lồ của Luverge bằng một phát bắn thử, nhưng tôi có cảm giác rằng “một phần ba sức mạnh” lúc đó không có nghĩa là ba mươi phần trăm. Có lẽ nó thực sự có nghĩa là một phần ba.

《その認識で──》

<<Nhận thức đó—>>

もう試す機会はなさそうだし、あっても困るので、それについての検証は見送る事にしたのだった。

Có vẻ như không còn cơ hội để thử lại, và nếu có thì cũng phiền phức, nên tôi quyết định sẽ không xác minh lại điều đó nữa.

そんなこんなで、ルヴェルジェを倒すと同時に、時間が正常に流れ始めた。

Cứ như vậy, ngay khi đánh bại Luverge, thời gian đã bắt đầu trôi đi bình thường.

聖(せい)戦(せん)の地に集っていた英雄達は、氷像から解放されたが、何が起きたのか混乱しまくりだ。

Những anh hùng tập trung tại vùng đất Thánh chiến đã được giải thoát khỏi tượng băng, nhưng họ hoàn toàn bối rối không hiểu chuyện gì đã xảy ra.

そんな中、俺はギィから拍手で出迎えられた。

Trong lúc đó, tôi đã được Guy chào đón bằng những tràng pháo tay.

その笑顔を見るまでもなく、嫌な予感しかしない。

Chưa cần nhìn thấy nụ cười đó, tôi đã có một linh cảm chẳng lành.

そして、案の定。

Và, đúng như dự đoán.

「リムル君、お疲れだな。実に見事な戦いぶりだったぜ」

“Rimuru-kun, vất vả rồi. Đúng là một trận chiến tuyệt vời”.

「い、いやだな。みんなのサポートがあったからこそ、俺も安心して戦えたというものでしてね──」

“K-không đâu. Chính nhờ có sự hỗ trợ của mọi người mà tôi mới có thể yên tâm chiến đấu—”.

「謙遜すんなよ」

“Đừng khiêm tốn thế”.

そう言いながら、ガシッと肩を組まれてしまう。

Vừa nói, hắn vừa khoác vai tôi một cách chắc chắn.

逃がさないぞ──という、強い意思が感じられた。

Tôi cảm nhận được một ý chí mạnh mẽ—không để tôi trốn thoát.

「して──」

“Và—”.

「まあ、聞け。今度はオレが、お前に挑戦する番だと思うぜ」

“Chà, nghe đây. Lần này, ta nghĩ đến lượt ta thách đấu ngươi đấy”.

「いや、えっと?」

“Không, ừm?”.

挑戦って、何の話だよ!?

Thách đấu ư, chuyện gì vậy!?

そもそも、俺はギィに挑戦する気などなかったのだから、今度はオレの番、とか言われても困るのだ。

Vốn dĩ tôi không hề có ý định thách đấu Guy, nên bây giờ bị nói là “đến lượt ta” thì tôi cũng khó xử lắm.

「オレはヴェルダナーヴァに完敗してから、次は勝つと再戦を誓ってたのさ。それなのによう、テメーが倒しちまっただろ?」

“Sau khi thua tan tác trước Verudanava, ta đã thề sẽ tái đấu để giành chiến thắng. Vậy mà, ngươi lại đánh bại hắn rồi, đúng không?”.

そりゃあ確かに、ギィの申し出を断わったのは俺だけどさ……。

Ừ thì đúng là tôi đã từ chối lời đề nghị của Guy...

「責任を取ってもらわなきゃな」

“Ngươi phải chịu trách nhiệm đấy”.

「いやいや、それは話が──」

“Không không, chuyện đó—”.

違う──と言い出す前に、ギィが滅茶苦茶な事を言い出した。

Không phải—trước khi tôi kịp nói ra, Guy đã nói một điều vô cùng vô lí.

「ってこった。今この時から、リムルはオレ等を統べる者として、大魔王の座に就いてもらおうと思う。異論はあるかよ?」

“Vậy đó. Từ giờ phút này, ta nghĩ Rimuru sẽ lên ngôi Đại Ma Vương, với tư cách là người thống lĩnh chúng ta. Có ai phản đối không?”.

大いにあるとも!

Có chứ!

勝手に話を進めるなと、俺は強く思った。

Đừng có tự ý quyết định, tôi nghĩ vậy.

それなのに、俺以外の者達は、至極当然とばかりに頷き合っている。

Vậy mà những người khác, ngoài tôi ra, lại gật đầu với nhau như thể đó là điều hiển nhiên.

「文句ないのだ! リムルになら任せられるのだぞ!!」

“Không có ý kiến gì đâu! Nếu là Rimuru thì có thể giao phó được!”.

「そうよね! どうせアタシは、既にリムルに雇われているようなものなのよさ。立場的にも文句ないってワケ」

“Đúng vậy nhỉ! Dù sao thì tui cũng gần như đã được Rimuru thuê rồi. Về mặt vị trí thì cũng không có gì để phàn nàn cả”.

ミリムとラミリスが、真っ先に賛成を表明する。

Millim và Lamrys là những người đầu tiên bày tỏ sự đồng tình.

これに続いて、ルミナスが発言した。

Tiếp theo đó, Luminous lên tiếng.

「ふむ。力の差は検討から外すにしても、リムルの影響力はもはや我らの手に余るからのう。配下の者共の面構えを見ても、我らに匹敵する者が乱立しておる。異論を述べても虚しいだけよな」

“Hừm. Dù bỏ qua sự chênh lệch về sức mạnh, tầm ảnh hưởng của Rimuru đã vượt xa tầm kiểm soát của chúng ta rồi. Nhìn vào những kẻ dưới trướng của hắn, có rất nhiều kẻ có thể sánh ngang với chúng ta. Dù có phản đối cũng chỉ vô ích thôi”.

ダグリュールも文句はあるまい──と、ルミナスも賛成の立場の様子。ダグリュールの意見まで代弁して、俺の大魔王就任を後押ししやがった。

Dagruel chắc cũng không có gì phàn nàn đâu—Luminous cũng tỏ ra đồng tình. Chị ta thậm chí còn nói thay cả ý kiến của Dagruel, ủng hộ việc tôi lên ngôi Đại Ma Vương.

「まあさ、俺だってリムルさんに養って──じゃなくて、雇ってもらうつもりだからさ。今後ともヨロシクって事で、大賛成さ!」

“Chà, tôi cũng định được Rimuru-san nuôi—à không, thuê làm việc mà. Mong được giúp đỡ trong tương lai, nên tôi hoàn toàn đồng ý!”.

ディーノは裏切ると思ってた。

Tôi đã biết Dino sẽ phản bội mà.

この恨みは、減給という形で晴らさせてもらおう。

Mối hận này, tôi sẽ giải tỏa bằng hình thức giảm lương.

そして、最後にレオンが口を開く。

Và cuối cùng, Leon mở miệng.

「いつの間にか『邪龍獣』が消えて、最終決戦が終わっていたのだが、それを認識すら出来なかった俺には、文句を言う資格すらないだろうさ。認めるとも、大魔王リムルをな」

“Không biết từ lúc nào mà “Tà Long Thú” đã biến mất và trận chiến cuối cùng cũng kết thúc, nhưng ngay cả việc nhận ra điều đó tôi cũng không làm được, nên tôi không có tư cách để phàn nàn. Tôi công nhận, Đại Ma Vương Rimuru”.

その発言が、決定打となる。

Lời nói đó đã là đòn quyết định.

ダグリュールを除いて満場一致で、俺の大魔王就任が決定してしまったのだった。

Ngoại trừ Dagruel, tất cả đều đồng ý, và việc tôi trở thành Đại Ma Vương đã được quyết định.

そうなると、問題になるのは魔王達の呼称だ。

Khi đó, vấn đề sẽ là tên gọi của các Ma Vương.

今まで通りの〝八星魔王(オクタグラム)〟でいいと思うのだが、誰も納得しなかった。

Tôi nghĩ cứ giữ nguyên tên gọi “Bát Tinh Ma Vương (Octagram)” như trước đây là được, nhưng không ai đồng ý.

仕方がないので、暫定呼称として〝七(なな)君(くん)主(しゅ)〟を引っ張り出してくる。捻りも何にもないが、暫定なので大丈夫だろう。

Không còn cách nào khác, tôi đành lôi ra tên gọi tạm thời là “Thất Quân Chủ”. Chẳng có gì đặc biệt cả, nhưng vì là tạm thời nên chắc cũng không sao.

こうして英雄達が落ち着きを取り戻している間に、魔王達による話し合いも簡潔に終了したのだった。

Cứ như vậy, trong lúc các anh hùng đang dần bình tĩnh trở lại, cuộc thảo luận của các Ma Vương cũng đã kết thúc một cách ngắn gọn.

その後、ルミナスが全世界に向けて発表を行った。

Sau đó, Luminous đã có một bài phát biểu trước toàn thế giới.

イヴァラージェとその眷属達が倒され、世界の危機が去ったことを。

Rằng Ivalage và thuộc hạ của hắn đã bị đánh bại, và mối nguy của thế giới đã qua đi.

ヴェルダナーヴァやルヴェルジェの名前は、人々が混乱するだけなので出さなかった。

Tên của Verudanava và Luverge không được nhắc đến vì sẽ chỉ gây ra hoảng loạn cho mọi người.

明確な邪神と、それを退治した英雄達だけがいればいい。

Chỉ cần có một Tà Thần rõ ràng và những anh hùng đã tiêu diệt nó là đủ.

ちなみに、俺が主となってイヴァラージェを倒した事になっており、その功績を以て、今後は大魔王リムルと称される事になった、と説明が締めくくられた。

Nhân tiện, lời giải thích kết thúc bằng việc tôi đã trở thành người chủ chốt đánh bại Ivalage, và với công lao đó, từ nay tôi sẽ được gọi là Đại Ma Vương Rimuru.

非常に不本意であるが、各国上空に投影された神々しいルミナスの映像から語られてしまったので、世情に疎い者達にまで知られてしまっている。

Tôi vô cùng không hài lòng, nhưng vì đã được thông báo qua hình ảnh Luminous thần thánh được chiếu lên bầu trời các nước, nên ngay cả những người không rành thế sự cũng đã biết.

その際に俺の映像まで映し出されたのだが、真面目な表情だと本当に美人なんだよね。自分で言うのも何だが、ベースとなったのがシズさんなので、自画自賛という感じではないので許してもらいたい。

Lúc đó, hình ảnh của tôi cũng được chiếu lên, và khi nghiêm túc thì trông thật sự rất xinh đẹp. Dù là tự mình nói, nhưng vì nguyên bản là Shizue-san, nên không có cảm giác tự khen, mong mọi người thông cảm.

ともかく。

Dù sao thì.

こうして俺は、世界の危機を救った大魔王として、世界中の人々に知れ渡ったのだった。

Cứ như vậy, tôi đã trở nên nổi tiếng khắp thế giới với tư cách là Đại Ma Vương đã cứu thế giới khỏi hiểm nguy.

世界は歓喜に包まれ、ゆっくりと未曽有の混乱は終息していった。

Thế giới tràn ngập trong niềm hân hoan, và sự hỗn loạn chưa từng có đã dần dần kết thúc.

それを助けたのは言うまでもないが、魔物の国(テンペスト)の住民達である。

Không cần phải nói, người đã giúp đỡ chính là cư dân của Tempest.

世界各地に派遣され、復興を手伝った。

Họ được cử đến khắp nơi trên thế giới để giúp đỡ công cuộc tái thiết.

良い人アピールも欠かさず、魔物への偏見を失くす作戦も順調である。

Không quên thể hiện mình là người tốt, kế hoạch xóa bỏ định kiến về Ma vật cũng đang tiến triển thuận lợi.

そうして緩やかに、世界は以前の落ち着きを取り戻していく──

Cứ như vậy, thế giới dần dần lấy lại sự bình yên vốn có—

俺が大魔王になったからと言って、領土については大きな変化はない。

Dù tôi đã trở thành Đại Ma Vương, nhưng về lãnh thổ thì không có thay đổi lớn nào.

ただし、大きな問題が一つと、一部だけ再分配が行われている。

Tuy nhiên, có một vấn đề lớn và chỉ một phần được tái phân phối.

大きな問題とは、ダグリュールの支配領域だ。

Vấn đề lớn đó là lãnh địa của Dagruel.

ぶっちゃけ、人が住める状態ではなくなっていた。

Nói thẳng ra, nơi đó đã không còn là nơi con người có thể sinh sống được nữa.

ハッキリ言えば、俺の〝希望(エルピス)〟──竜種核装着剣(ドラゴニックソード)のせいである。

Nói rõ hơn, đó là do “Hi Vọng (Elpis)”—Thanh kiếm mang Lõi Long chủng (Dragonic Sword) của tôi.

分離したルヴェルジェの巨体をぶった斬った際に、とんでもないエネルギーの放出があった。周辺への影響が非常に軽微になるように後処理をしたのだが……。

Khi tôi chém đứt cơ thể khổng lồ đã tách rời của Luverge, đã có một lượng năng lượng khủng khiếp được giải phóng. Tôi đã xử lí hậu quả để giảm thiểu tối đa ảnh hưởng đến khu vực xung quanh, nhưng...

「これって、ヴェルドラのせいだったよね?」

“Chuyện này, là do Verudora mà, phải không?”.

「違うぞ! 決して我だけのせいではない!!」

“Không phải! Chắc chắn không phải chỉ do một mình ta!!”.

ヴェルドラが全力で否定しようとしたが、それを姉君達が許すはずがない。

Verudora cố gắng hết sức để phủ nhận, nhưng các chị gái của cậu ta không đời nào cho phép điều đó.

「ヴェルドラちゃんが悪いわ」

“Là lỗi của Verudora-chan”.

「愚弟が張り切り過ぎなければ、こんな酷い有様にはならなかったでしょうね」

“Nếu thằng em ngu ngốc không quá hăng hái, có lẽ đã không đến nông nỗi này”.

「きゅい! ボクもそう思う!!」

“Kyuui! Tớ cũng nghĩ vậy!!”.

とまあ、アッサリと責任を押し付けられて──って、そこでヴェルガイアが喋れるようになった事実に気付いた。

Ừ thì, dễ dàng bị đổ hết trách nhiệm—ơ, đến lúc đó tôi mới nhận ra Verugaia đã biết nói.

「ヴェルガイア、お前、いつの間に喋れるようになったんだ!?」

“Verugaia, ngươi biết nói từ khi nào vậy!?”.

「喋ったのだ! ガイアが喋ったのだぞ!!」

“Nó nói rồi! Gaia nói rồi!!”.

俺とミリムが、ほぼ同時に突っ込んだ。

Tôi và Millim gần như cùng lúc chen vào.

ヴェルガイアが、笑いながら答える。

Verugaia vừa cười vừa trả lời.

「ルヴェルジェだっけ? アイツが消えた時、ボクも喋れるようになったの」

“Là Luverge nhỉ? Khi tên đó biến mất, tớ cũng biết nói luôn”.

なるほど?

Ra vậy?

原因は多分、ルヴェルジェから奪った宝玉だろうな。

Nguyên nhân có lẽ là viên bảo ngọc đã cướp được từ Luverge.

アレにヴェルダナーヴァやルシアの因子が凝縮されていたと考えれば、そうした進化が行われても不思議ではないと思う。

Nếu nghĩ rằng trong đó có chứa các yếu tố của Verudanava và Lucia, thì việc tiến hóa như vậy cũng không có gì lạ.

ヴェルザードとヴェルグリンドも、ヴェルガイアに興味津々だ。

Veruzard và Verugrynd cũng rất quan tâm đến Verugaia.

「あら? この子はヴェルドラちゃんと違って、とても賢いのね」

“Ara? Đứa trẻ này khác với Verudora-chan, thông minh thật đấy”.

「それに、素直そうで可愛いじゃない」

“Hơn nữa, trông ngoan ngoãn và đáng yêu nữa chứ”.

「うん! ボクは素直。お姉様たちが綺麗で、とっても嬉しい!!」

“Vâng! Tớ rất ngoan. Các chị gái xinh đẹp, tớ vui lắm!!”.

おお、無邪気な顔をして、凄いテクを披露してるぞ!

Ồ, vẻ mặt ngây thơ mà lại thể hiện kĩ năng ghê gớm thật!

あんなに自然に褒めるとは、ヴェルドラとは役者が違うな。

Khen ngợi một cách tự nhiên như vậy, đúng là khác hẳn với Verudora.

「あら、まあ!」

“Ara, ma!”.

「愚弟とは雲泥の差だわ。これから仲良くしましょうね、ヴェルガイア」

“Khác một trời một vực với thằng em ngu ngốc. Từ nay chúng ta hãy thân thiết với nhau nhé, Verugaia”.

「ありがとう! ボクの事は、ミリムみたいに〝ガイア〟って呼んでね!」

“Cảm ơn! Cứ gọi tớ là “Gaia” như Millim nhé!”.

ガイアはスルッと、ミリムの肩に乗っていた。

Gaia nhẹ nhàng leo lên vai Millim.

その様子からはあざとさが感じられるのだが、可愛いのは間違いない。ミリムやお姉様方もメロメロである。

Dù có vẻ hơi giả tạo, nhưng không thể phủ nhận là rất đáng yêu. Millim và các chị gái cũng mê mẩn.

「グヌゥ……ガイアだと? 生意気なヤツめ……」

“Grừ... Gaia sao? Tên hỗn xược...”.

ヴェルドラがガイアを敵視しているが、ガイアが話題をさらってくれたお陰で、ドラゴニックソードのやらかしを追及されなくなって助かったのだ。

Verudora đang coi Gaia là kẻ thù, nhưng nhờ Gaia đã thu hút sự chú ý của mọi người, nên sai lầm của Dragonic Sword đã không bị truy cứu nữa, thật may mắn.

ヴェルドラの次は俺に矛先が向きそうだったので、話を蒸し返されても困ってしまう。ここは文句を言うよりも、むしろ感謝すべきであった。

Sau Verudora, có vẻ như mũi dùi sẽ chĩa về phía tôi, nên nếu bị nhắc lại chuyện cũ thì sẽ rất phiền phức. Lúc này, thay vì phàn nàn, tôi nên cảm ơn mới phải.

そんな訳で、弟──というか妹っぽくもあるし、そもそも性別はないのだが──に嫉妬するヴェルドラを慰めるのは、俺の役目となってしまった。

Vì vậy, việc an ủi Verudora, người đang ghen tị với em trai—hay đúng hơn là em gái, mà thực ra là không có giới tính—đã trở thành nhiệm vụ của tôi.

非常に迷惑したのはここだけの話だが、よく考えてみれば普段通りだった。

Chỉ có ở đây tôi mới nói, nhưng nghĩ kĩ lại thì cũng là chuyện thường ngày thôi.

ヴェルドラが迷惑行為を撒き散らし、それを俺が何とかする。そんな関係が、これからも続いていくのだ。

Verudora gây ra những hành vi phiền phức, và tôi sẽ giải quyết chúng. Mối quan hệ đó sẽ tiếp tục như vậy trong tương lai.

それは別に不快ではなく、それどころか愉快な気分になるのだが、ヴェルドラには秘密である。

Điều đó không hề khó chịu, mà ngược lại còn khiến tôi cảm thấy vui vẻ, nhưng đó là một bí mật với Verudora.

だってそうだろ?

Vì sao ư?

それを言ってしまうと、ヤツが調子に乗るのが明白だからだ。

Nếu nói ra, rõ ràng là hắn sẽ vênh váo.

今後とも俺達の関係が変わらないのと同様に、それは言うまでもない事だった。

Cũng giống như mối quan hệ của chúng ta sẽ không thay đổi trong tương lai, đó là điều không cần phải nói.

そんなこんなで、俺達が被害の元凶なのは有耶無耶になったのだが、それで済まないのがダグリュールの民達である。

Cứ như vậy, việc chúng tôi là nguyên nhân gây ra thiệt hại đã bị làm cho mờ nhạt, nhưng người dân của Dagruel thì không thể bỏ qua được.

元々は死せる砂漠だったので、保存食だって心許ない。今は緑豊かな大地になったとは言え、今回の戦いの影響は甚大だった。

Vốn dĩ là một sa mạc chết, nên ngay cả thức ăn dự trữ cũng không đáng tin cậy. Dù bây giờ đã trở thành một vùng đất xanh tươi, nhưng ảnh hưởng của trận chiến lần này là vô cùng lớn.

少なくとも、農業が定着するのは当分先になりそうだし、自然に実った果実を収穫しようにも、生態系の調査を先行しなければならないのだ。

Ít nhất thì, việc nông nghiệp ổn định có lẽ sẽ còn lâu mới thực hiện được, và dù muốn thu hoạch trái cây tự nhiên, cũng phải tiến hành khảo sát hệ sinh thái trước.

このまま放置すれば、待っているのは破滅のみ。

Nếu cứ để mặc, thứ chờ đợi họ chỉ là sự diệt vong.

そんな事態は許されないので、責任を持って面倒を見る必要があった。

Tình huống như vậy không thể được phép xảy ra, nên cần phải có trách nhiệm chăm sóc họ.

とは言っても、数十万規模の巨人族(ジャイアント)を受け入れるとなると、流石にそう簡単にはいかない話だ。

Dù vậy, việc tiếp nhận hàng trăm ngàn Cự nhân (Giant) không phải là chuyện dễ dàng.

取り敢えずの避難先として、旧ユーラザニアの建設現場を指定した。そこに簡易テントを建てて、全員で移住してもらったのだ。

Là nơi tạm trú, tôi đã chỉ định công trường xây dựng ở Eurazania cũ. Chúng tôi đã dựng lều tạm ở đó và cho tất cả mọi người di dời đến.

ゲルドの指揮下に入って、建設工事に従事してもらう事になる。その代わり、衣食住の面倒を見るという寸法だった。

Họ sẽ làm việc dưới sự chỉ huy của Gerudo, tham gia vào các công trình xây dựng. Đổi lại, chúng tôi sẽ lo liệu về ăn, mặc, ở.

ヴェルドラの豊穣なる神秘の波動(ファータイルパラドックス)によって森林に生まれ変わった死せる砂漠も、数年も経てばこの地に残る濃密な魔素に馴染んで、巨人族(ジャイアント)達の生活を支えてくれる事だろう。それまでの間は、巨人族(ジャイアント)達にも建設現場で力仕事を手伝ってもらいつつ、巨大建造物の建設方法を学んでもらう予定なのだった。

Sa mạc chết, nơi đã được tái sinh thành rừng nhờ “Sóng Phì Nhiêu Thần Bí (Fertile Paradox)” của Verudora, chỉ cần vài năm nữa là sẽ thích nghi với lượng ma tố đậm đặc còn sót lại trên vùng đất này, và sẽ có thể hỗ trợ cuộc sống của các Cự nhân (Giant). Trong thời gian đó, dự định là sẽ để các Cự nhân (Giant) giúp đỡ các công việc nặng nhọc tại công trường, đồng thời học hỏi phương pháp xây dựng các công trình khổng lồ.

自分達の国は、自分達の手で再建してもらうべきだからね。そうなるように手助けはするけど、全部こっちに頼られても、俺はそこまでお人好しではないのだよ。

Đất nước của mình thì nên tự tay mình tái thiết. Tôi sẽ giúp đỡ để họ có thể làm được điều đó, nhưng nếu cứ dựa dẫm vào tôi hoàn toàn, tôi cũng không phải là người tốt đến mức đó đâu.

そういう事を丁寧に説明した上で、巨人族(ジャイアント)は俺の預かりになったのだ。

Sau khi giải thích kĩ lưỡng những điều đó, các Cự nhân (Giant) đã được giao cho tôi chăm sóc.

こうして、ダマルガニアはダグリュールの支配領域ではあるが、俺が面倒を見る事になった。

Cứ như vậy, Damargania tuy là lãnh địa của Dagruel, nhưng tôi đã trở thành người chăm sóc.

一部だけ再分配とは、ミリムの支配領域だ。

Tái phân phối một phần, đó là lãnh địa của Millim.

大半は今まで通りだったが、ジスターヴだけは約束通り、カガリ達に割譲されたのだ。

Phần lớn vẫn như cũ, nhưng chỉ có Jistav, đúng như lời hứa, đã được nhượng lại cho Kagali và những người khác.

これも概ね、問題なく遂行された。

Điều này nhìn chung cũng đã được thực hiện mà không gặp vấn đề gì.

カガリは女王として即位し、俺達からも承認されている。

Kagali đã lên ngôi nữ hoàng và cũng đã được chúng tôi công nhận.

そんなカガリの下には中庸道化連がいるのだが、ラプラスだけはシルビアさんとエルたんに連行されてしまった。

Dưới trướng Kagali có Đoàn Hề Trung Lập, nhưng chỉ có Laplace là bị Sylvia-san và El-tan áp giải đi.

甘い雰囲気ではなかったし、ラプラスが悲しそうだったので、物悲しい歌が流れているように錯覚したほどだ。その後、何度も脱出を繰り返して、何でも屋として俺達にも協力してくれるようになるのだが、それについてはいずれ語る日も来るだろう。

Bầu không khí không hề ngọt ngào, và Laplace trông rất buồn, đến nỗi tôi có cảm giác như đang nghe một bài hát buồn. Sau đó, anh ta đã nhiều lần trốn thoát và trở thành một người làm đủ mọi việc để giúp đỡ chúng tôi, nhưng về chuyện đó, có lẽ sẽ có một ngày tôi sẽ kể.

世界各地での復興についても同様だ。

Về việc tái thiết ở các nơi trên thế giới cũng tương tự.

本当に色々な事があり過ぎて、語るには時間が足りない。

Thực sự có quá nhiều chuyện đã xảy ra, không đủ thời gian để kể hết.

後日ゆっくりと、思い出すままに語るとしよう。

Sau này, tôi sẽ từ từ kể lại những gì mình nhớ được.

国に帰ったら、皆から大歓迎を受けた。

Khi trở về nước, tôi đã được mọi người chào đón nồng nhiệt.

そこまでは良かったのだが、その先が大変だった。

Đến đó thì vẫn tốt, nhưng sau đó mới là vất vả.

ラミリスの権能で迷宮を元に戻したり、停滞していた行政機関を再編成して、日常を取り戻したり……。

Dùng quyền năng của Lamrys để khôi phục lại mê cung, tái cấu trúc các cơ quan hành chính đã bị đình trệ để trở lại cuộc sống thường ngày...

その間に、意味のわからぬ争いも起きていたり……。

Trong lúc đó, cũng có những cuộc tranh giành vô nghĩa xảy ra...

シュナにシオン、それにミリムなどが、俺のいない所で激しく競っていたらしいのだ。

Shuna, Shion, và cả Millim nữa, dường như đã cạnh tranh quyết liệt với nhau khi tôi không có ở đó.

ソウエイがそれとなく報告してくれたのだが、何でも俺の正妻の座を巡る聖(せい)戦(せん)なのだとか。

Souei đã bóng gió báo cáo rằng, đó là một cuộc Thánh chiến tranh giành vị trí chính thê của tôi.

何をやっているんだ君達は──と、呆れるしかない。

Các người đang làm cái quái gì vậy—tôi chỉ có thể chán nản.

どこまで本気かわからなくて、頭が痛くなってしまった。

Tôi không biết họ nghiêm túc đến mức nào, và đầu tôi đau như búa bổ.

俺には息子がない上に、何故か三上悟に変身しようとしても──

Tôi không có con trai, và không hiểu sao ngay cả khi cố gắng biến thành Mikami Satoru—

《不思議なエラーにより、実行出来ませんでした》

<<Do một lỗi kì lạ, không thể thực hiện.>>

という感じで、シエルさんが邪魔するのだ。

Cứ như vậy, Ciel-san lại cản trở tôi.

何が、不思議なエラー、だ。

Cái gì mà “lỗi kì lạ” chứ.

そんなモノはない。

Không có thứ đó đâu.

シエルさんが解析出来ないとか、絶対に嘘である。

Nói rằng Ciel-san không thể phân tích được, chắc chắn là nói dối.

けどまあ、これについてはもう諦めている。そもそも寿命がないのだから、結婚もする必要がないのだよ。

Nhưng mà, về chuyện này thì tôi đã từ bỏ rồi. Vốn dĩ tôi không có tuổi thọ, nên cũng không cần phải kết hôn.

というか、争いの元になる予感しかしない。

Hay đúng hơn, tôi chỉ có cảm giác nó sẽ trở thành mầm mống của sự tranh giành.

それなのに、ベニマルに子供が出来たからややこしい。

Vậy mà, vì Benimaru có con nên mọi chuyện trở nên phức tạp.

ベニマルだって寿命がないではないですか──と、こういう理論武装で攻めてくるので、俺としても返答に困るのである。

Chẳng phải Benimaru cũng không có tuổi thọ sao—họ tấn công tôi bằng lí lẽ như vậy, khiến tôi cũng khó mà trả lời.

それでものらりくらりと言い逃れていたのだが、実際に子供が誕生すると大変な騒ぎになってしまった。

Dù vậy, tôi đã cố gắng lảng tránh, nhưng khi đứa trẻ thực sự ra đời, mọi chuyện đã trở nên ồn ào.

アルビスとの間には、性別のない子が生まれた。

Giữa cậu và Albis, một đứa trẻ không có giới tính đã được sinh ra.

ベニマルから頼まれたので、俺が〝紅蛇(クジャ)〟と名付けている。

Vì được Benimaru nhờ, tôi đã đặt tên cho đứa trẻ là “Hồng Xà (Kuja)”.

モミジとの間には、双子が生まれていた。

Giữa cậu và Momiji, một cặp song sinh đã ra đời.

男の子は〝炎樹(エンジュ)〟で、女の子は〝紅葉(クレハ)〟だ。

Cậu bé là “Viêm Thụ (Enju)”, và cô bé là “Hồng Diệp (Kureha)”.

多分だが、この子達にも寿命という概念がない。

Có lẽ, những đứa trẻ này cũng không có khái niệm về tuổi thọ.

三名とも生まれながらに強者であり、〝魔王種〟としての資格まで有していたのだ。

Cả ba người đều là những cường giả bẩm sinh, và thậm chí còn có tư cách của một “Hạt giống Ma Vương”.

ガビルとスフィアもいつの間にか超スピード婚して、ビックリするくらい早く子供が出来ている。

Gabiru và Suphia cũng đã kết hôn siêu tốc không biết từ lúc nào, và có con nhanh đến mức đáng kinh ngạc.

勿論俺が〝龍虎(リョウコ)〟と名付けてあげた訳だが、ガビルに彼女が出来ただけでも羨ましいのに、遠い先まで駆け抜けられた気分で、御目出度いのと同時に少し凹んだ。

Tất nhiên tôi đã đặt tên cho đứa trẻ là “Long Hổ (Ryoko)”, nhưng chỉ riêng việc Gabiru có bạn gái đã đủ ghen tị rồi, giờ lại có cảm giác như bị bỏ lại phía sau, vừa vui mừng vừa có chút chán nản.

こうなるともう、俺の友達はゴブタだけである。

Cứ thế này thì bạn của tôi chỉ còn lại Gobuta thôi.

ベビーブームが到来すると、他の女性陣だって黙っていない。

Khi làn sóng sinh con ập đến, các cô gái khác cũng không ngồi yên.

自由戦闘恋愛主義(ラブアンドバトル)が活性化してしまい、俺も狙われているという訳である。

Chủ nghĩa tự do chiến đấu và yêu đương (Love and battle) đã được kích hoạt, và tôi cũng đang bị nhắm đến.

リムルよ、妾(わらわ)の気持ちが理解出来たか? ──などと、ルミナスから経験者が語るみたいに言われたが、「知るかよ!」というのが俺の答えだ。

Rimuru, ngươi đã hiểu cảm giác của thiếp chưa? —Luminous nói với tôi như một người từng trải, nhưng câu trả lời của tôi là “Ai mà biết được!”.

ヒナタからは呆れたような冷めた視線で見られるし、本当、勘弁してもらいたい。

Bị Hinata nhìn với ánh mắt chán nản và lạnh lùng, thật sự, tôi chỉ muốn được tha cho.

クロエなどは、「リムルさんは、(私だけの)先生だから!」と言って懐いてくれているので、素直に可愛いと思えるのだけどね。

Chloe thì lại nói “Rimuru-san là thầy giáo (chỉ của riêng tôi)!” và rất quấn quýt tôi, nên tôi thật lòng thấy cô bé rất đáng yêu.

この発言もまあ、シュナ達から見れば裏があるのだと。

Cũng có thể nói, trong mắt Shuna và những người khác, lời nói này có ẩn ý.

やれやれ、クロエに限って、そんな事ある訳ないのにねえ。

Haiz, riêng Chloe thì không thể nào có chuyện đó được.

「リムル様は鈍──騙されているのです! それを言うなら、私こそ、リムル様の唯一の秘書ですから!」

“Rimuru-sama ngây thơ quá—ngài đang bị lừa đấy ạ! Nếu nói vậy thì chính tôi mới là thư kí duy nhất của Rimuru-sama!”.

ディアブロを完全無視かな?

Hoàn toàn phớt lờ Diablo sao?

「クロエ──思った以上に策士だったようですね。ミリム様は趣旨が違うので置いておくとして、シオン以上に警戒すべき相手でした……」

“Chloe—có vẻ là một kẻ mưu lược hơn tôi nghĩ. Bỏ qua Millim-sama vì mục đích khác, nhưng cô ta là một đối thủ cần cảnh giác hơn cả Shion...”.

子供相手に、何をムキになっているのやら……。

Đối với một đứa trẻ, sao lại phải nghiêm túc đến vậy...

ちなみにミリムは、俺との結婚とかそういうのを狙っている感じではない。

Nhân tiện, Millim không có vẻ gì là đang nhắm đến việc kết hôn với tôi hay những chuyện tương tự.

「ずるいのだ! リムルはワタシの親友だから、一番はワタシなのだぞ!」

“Ăn gian! Rimuru là bạn thân của tớ, nên số một phải là tớ!”.

という主張からもわかるように、精神年齢的にまだまだ子供なのだった。

Như có thể thấy từ tuyên bố đó, về mặt tinh thần, cô bé vẫn còn là một đứa trẻ.

実はその争いには、もう一名参加者がいたのだ。

Thực ra, trong cuộc tranh giành đó còn có một người tham gia nữa.

ラミリスだ。

Đó là Lamrys.

『せっかくアタシも大人の姿になったんだし、これでリムルもイチコロなのよさ!』

“Tui đã vất vả lắm mới trở thành người lớn, thế này thì Rimuru cũng đổ gục thôi!”.

などと、起きているのに寝言をほざき、聖(せい)戦(せん)に参戦していたのだ。

Vừa thức vừa nói mớ như vậy, cô bé đã tham gia vào Thánh chiến.

ところが、数日経つと元の姿に戻ってしまったのである。

Tuy nhiên, sau vài ngày, cô bé đã trở lại hình dạng ban đầu.

ラミリスはご立腹だった。

Lamrys đã rất tức giận.

『ちょっと、どういう事なのよさ!? これから華麗なる活躍をする予定だったのに、また子供に戻っちゃったんですけど!?』

“Này, chuyện này là sao!? Tui đã định sẽ có một màn trình diễn hoành tráng, vậy mà lại trở về thành trẻ con rồi!?”.

と、俺に文句を言ってきた。

Cô bé phàn nàn với tôi.

そんな事を言われても知らん、というのが正直な感想である。

Dù có bị nói vậy thì tôi cũng không biết, đó là cảm nhận thật lòng của tôi.

トレイニーさん達まで、麗しいラミリスの晴れ姿が見れなくなってしまったと、残念そうにしている。

Ngay cả Tryney-san và những người khác cũng tỏ ra tiếc nuối vì không được thấy dáng vẻ lộng lẫy của Lamrys nữa.

着せ替えを楽しんでいただけでしょと、鋭く指摘しておいた。

Tôi đã chỉ ra một cách sắc bén rằng họ chỉ đang vui vẻ với việc thay đồ thôi.

そもそも、今回の成長は俺の力を流用してのものだったので、緊急措置みたいなものだ。

Vốn dĩ, sự trưởng thành lần này là do sử dụng sức mạnh của tôi, nên nó giống như một biện pháp khẩn cấp.

正常な流れで大人になってもらいたいと、俺は正論を述べた。

Tôi đã nói một cách hợp lí rằng tôi muốn cô bé trưởng thành theo một quá trình bình thường.

するとラミリスは、悔しそうに言い返してきたのである。

Nghe vậy, Lamrys đã phản bác lại một cách tiếc nuối.

『それよ! イレギュラーな成長をしちゃったせいで、今度はどのくらいこのままなのか、見当もつかないじゃん! 下手すると、何千年も子供のままなのよさ!!』

“Đúng vậy đó! Vì đã trưởng thành một cách bất thường, nên lần này tui không biết sẽ phải ở trong hình dạng này bao lâu nữa! Tệ nhất là có thể sẽ phải làm trẻ con hàng ngàn năm nữa!!”.

とまあ、半泣きであった。

Ừm, cô bé gần như sắp khóc.

最初からやり直しより性質(たち)が悪いとなると、流石の俺も罪悪感が芽生えてしまった。

Nếu còn tệ hơn cả việc bắt đầu lại từ đầu, ngay cả tôi cũng bắt đầu cảm thấy tội lỗi.

本当なら遅くても数百年に一度は大人になるみたいだが、それも数年したら子供に逆戻り。寿命はない代わりに、もともと非常に短い期間しか成人状態になれないらしい。

Thực ra, có vẻ như muộn nhất là vài trăm năm một lần cô bé sẽ trở thành người lớn, nhưng sau vài năm lại trở về thành trẻ con. Thay vì không có tuổi thọ, có vẻ như vốn dĩ cô bé chỉ có thể ở trong trạng thái trưởng thành trong một khoảng thời gian rất ngắn.

それも変な話だが、憐れではあった。

Đó cũng là một câu chuyện kì lạ, nhưng cũng rất đáng thương.

そう思って、ちょっとだけ力を与えてみたら、実にアッサリと大人に戻れたのだ。

Nghĩ vậy, tôi thử cho cô bé một chút sức mạnh, và cô bé đã dễ dàng trở lại thành người lớn.

『えっと……? リムルから力を借りれば、大人も子供も自由自在っぽいわね……』

“Ừm...? Nếu mượn sức mạnh từ Rimuru, có vẻ như tui có thể tự do biến thành người lớn hay trẻ con nhỉ...”.

エネルギー量によって、変身出来る日数が変わるっぽい。

Tùy thuộc vào lượng năng lượng, số ngày có thể biến hình dường như cũng thay đổi.

と言っても、戦う訳でもなく迷宮運営にも影響しないので、子供のままでも何の不都合もないというのが結論だった。

Dù vậy, cũng không phải là để chiến đấu hay ảnh hưởng đến việc vận hành mê cung, nên kết luận là dù ở hình dạng trẻ con cũng không có gì bất tiện.

それなら、子供姿のままでいいのでは?

Vậy thì, cứ giữ nguyên hình dạng trẻ con không được sao?

そう思った俺は、それをそのまま口にした。

Nghĩ vậy, tôi đã nói thẳng ra.

『まあいいじゃないか。子供は自由に遊べるんだし、ミリムみたいに嫌な仕事を割り振られる事もないだろ?』

“Thôi được rồi mà. Trẻ con thì có thể tự do vui chơi, và cũng không bị giao những công việc khó chịu như Millim đâu, phải không?”.

『そりゃあ、まあね。好きな研究が仕事になるし、ここは最高だけどさ……』

“Ừ thì, cũng đúng. Nghiên cứu mà mình thích lại trở thành công việc, nơi này đúng là tuyệt vời nhất, nhưng mà...”.

『だろ? そもそも、大人になったからって、何かしたい事がある訳でもないんだろ? エネルギー消耗が多くなるだけで、疲れるだけじゃん』

“Đúng không? Vốn dĩ, dù có trở thành người lớn thì cũng đâu có việc gì muốn làm đâu, đúng không? Chỉ tốn nhiều năng lượng hơn, mệt mỏi thôi mà”.

『うーん、そう言われてみれば……』

“Ừm, nếu nói vậy thì...”.

『まあさ、本当に必要な時は、俺が力を貸してやるからさ!』

“Chà, lúc thực sự cần thiết, tôi sẽ cho ngươi mượn sức mạnh mà!”.

『そっか! それだと、なりたい時だけ大人になれるってものよね? 最高じゃん!!』

“Ra vậy! Thế thì, tui có thể trở thành người lớn bất cứ lúc nào mình muốn nhỉ? Tuyệt vời!!”.

とまあ、そんなやり取りがあったのだ。

Ừm, đã có một cuộc trao đổi như vậy.

ラミリスは、大人と子供を都合よく使い分ける事にしたようだ。

Lamrys dường như đã quyết định sẽ sử dụng hình dạng người lớn và trẻ con một cách tùy ý.

それ以降はご機嫌になり、普段通りに戻っている。

Từ đó trở đi, cô bé trở nên vui vẻ và trở lại bình thường.

トレイニーさん達も満足した様子で、ラミリスと一緒に笑っていた。

Tryney-san và những người khác cũng có vẻ hài lòng và đang cười cùng Lamrys.

大人になった姿を自慢出来れば、それで満足だったのだろう。

Có lẽ chỉ cần khoe được dáng vẻ trưởng thành của mình là cô bé đã hài lòng rồi.

聖(せい)戦(せん)の事もスッカリ忘れていたので、ラミリスの怒りなんてそんなもんである。

Cô bé cũng đã hoàn toàn quên mất chuyện Thánh chiến, nên cơn giận của Lamrys cũng chỉ đến thế thôi.

ラミリスの件は片付いたものの、騒々しい時間は終わらなかった。

Vụ việc của Lamrys đã được giải quyết, nhưng thời gian ồn ào vẫn chưa kết thúc.

聖(せい)戦(せん)だが、段々と日常化してしまったのだ。

Thánh chiến, dần dần đã trở thành một phần của cuộc sống thường ngày.

そろそろ対策を考えた方が良いかも、などと悠長にしていたのが失敗だった。

Tôi đã sai lầm khi thong thả nghĩ rằng có lẽ đã đến lúc nên nghĩ ra biện pháp đối phó.

それにしても、正妻を認めたら、側室とか言い出す気だろうか?

Dù sao thì, nếu công nhận chính thê, liệu họ có định nói đến chuyện vợ lẽ không nhỉ?

我が国では基本的に一夫一妻制度なのだが、ベニマルのような例外も存在するからね……。

Ở đất nước của tôi, về cơ bản là chế độ một vợ một chồng, nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ như Benimaru...

もしかすると、アレを認めたのが失敗の始まり──いやいや、そんな事を考えるのは止めておこう。

Có lẽ, việc công nhận điều đó là khởi đầu của sự thất bại—không không, hãy ngừng suy nghĩ về những chuyện như vậy.

考えれば考えるほど、面倒過ぎる話であった。

Càng nghĩ càng thấy phiền phức.

《ふふふ、何があろうとも主様(マスター)の正妻(あいぼう)は私ですから──》

<<Fufufu, dù có chuyện gì xảy ra thì chính thê (cộng sự) của Chủ nhân (Master) vẫn là tôi—>>

何か聞こえた気がしたが、それも深く考えるのは止めておいた方が良さそうだ。

Tôi có cảm giác như mình đã nghe thấy gì đó, nhưng có lẽ tốt hơn hết là không nên suy nghĩ quá sâu về nó.

俺はいつものように、早々に問題を先送りにすると決めたのだった。

Tôi, như mọi khi, đã quyết định sẽ sớm trì hoãn vấn đề.

そんなこんなで、目まぐるしく日々が過ぎていったのだが──

Cứ như vậy, những ngày tháng trôi qua một cách chóng mặt—

………

...

……

...

...

思い返してみても、非常に濃密な時間である。

Ngay cả khi hồi tưởng lại, đó vẫn là một khoảng thời gian vô cùng phong phú.

ようやく落ち着いてきたので、心残りを一つ片付けようと思った。

Cuối cùng cũng đã ổn định trở lại, tôi quyết định giải quyết một điều hối tiếc.

俺は自室に戻るなり、コッソリ『時空間跳躍(タイムワープ)』を行ったのだ。

Vừa trở về phòng, tôi đã lén lút thực hiện “Du Hành Thời Gian (Time Warp)”.

跳んだ先は、火の海だった。

Nơi tôi nhảy đến là một biển lửa.

上空には、大型戦略爆撃機B─29が襲来していた。

Trên bầu trời, những chiếc máy bay ném bom chiến lược B-29 đang tấn công.

目の前で、人が焼け死んでいる。

Trước mắt tôi, người ta đang bị thiêu sống.

地獄のような光景だ。

Đó là một cảnh tượng như địa ngục.

この惨劇を忘れるから、再び戦争が起きてしまうのだ。

Chính vì quên đi thảm kịch này mà chiến tranh lại tái diễn.

一般市民への攻撃は重大なる戦争犯罪なのだと、誰もが強く心に戒めねばならないだろう。

Mọi người phải khắc cốt ghi tâm rằng tấn công dân thường là một tội ác chiến tranh nghiêm trọng.

今の俺ならば、この地獄を救う事だって出来る。

Với tôi bây giờ, tôi thậm chí có thể cứu rỗi địa ngục này.

けれど、それを行ってしまえば、俺という存在も消滅する事になるのだ。

Nhưng nếu làm vậy, sự tồn tại của tôi cũng sẽ biến mất.

だから、見捨てるしかない……。

Vì vậy, tôi chỉ còn cách bỏ mặc...

これは過去の話だからと自分に言い聞かせても、やはり無力感に苛まれた。どれだけ力を得ようとも、全ての不幸をなくす事など出来ないのだ。

Dù tự nhủ rằng đây là chuyện của quá khứ, tôi vẫn cảm thấy bất lực. Dù có được sức mạnh đến đâu, cũng không thể nào xóa bỏ mọi bất hạnh.

思いあがってはならないのだと、何度も何度も心に刻んでおいた。

Tôi đã khắc ghi trong lòng nhiều lần rằng mình không được tự cao tự đại.

戦場を駆け回るまでもなく、直ぐ目の前に息絶えようとしている女性を発見した。

Không cần phải chạy khắp chiến trường, tôi đã tìm thấy một người phụ nữ đang hấp hối ngay trước mắt.

今しがた、手を引いていたはずの娘が〝異世界〟に召喚されたばかりだ。

Vừa rồi, con gái mà bà đang dắt tay đã bị triệu hồi đến “thế giới khác”.

その女性は片手を失い、全身は大(おお)火傷(やけど)で……しかし、娘が地獄から消えたの見て、痛みや苦しみを忘れて茫然となっていた。

Người phụ nữ đó đã mất một cánh tay, toàn thân bị bỏng nặng... nhưng khi thấy con gái mình biến mất khỏi địa ngục, bà đã quên đi đau đớn và khổ sở, chỉ còn lại sự bàng hoàng.

娘が救われたのか、そうではないのか、それが判断出来ずに困惑しているのだ。

Bà không thể phán đoán được liệu con gái mình đã được cứu hay chưa, nên đang rất bối rối.

俺はその女性を抱え上げ、空襲から逃れられる場所まで『瞬間移動(テレポート)』した。

Tôi bế người phụ nữ đó lên và “Dịch Chuyển Tức Thời (Teleport)” đến một nơi có thể tránh được các cuộc không kích.

そして、完全回復薬(フルポーション)で治療を行った。

Và, tôi đã dùng thuốc hồi phục hoàn toàn (Full Potion) để chữa trị.

全身の火傷は一瞬で消え去り、失われていた片手も再生されていく。

Vết bỏng trên toàn thân biến mất trong chốc lát, và cánh tay đã mất cũng đang được tái tạo.

回復薬に効果があって助かった。上手く治癒しなかったら、一度呑み込んで復元するつもりだったのだ。

Thật may là thuốc hồi phục đã có hiệu quả. Nếu không chữa lành được, tôi đã định nuốt chửng và tái tạo lại.

「あの、アナタは──」

“Xin hỏi, ngài là—”.

「今はゆっくりと休んで下さい」

“Bây giờ xin hãy nghỉ ngơi đi”.

俺はそう答えて、その女性を眠らせる。

Tôi trả lời như vậy và để người phụ nữ đó chìm vào giấc ngủ.

さて、ここからが本番だった。

Vậy, từ đây mới là phần chính.

『シズさん、聴こえているか?』

“Shizue-san, có nghe thấy không?”.

俺は、自分の心の奥底で眠る〝魂〟に向けて、優しくそう問いかけた。

Tôi dịu dàng hỏi linh hồn đang ngủ say sâu thẳm trong tim mình.

『──スライムさん?』

“—Slime-san?”.

『ああ。ここは貴女が嫌った世界じゃなく、元いた世界だよ。だから、そろそろ目を覚まさないか?』

“Ừ. Đây không phải là thế giới mà cô ghét, mà là thế giới cô vốn thuộc về. Vậy nên, đã đến lúc tỉnh dậy chưa?”.

『でも──』

“Nhưng—”.

『ここには、貴女のお母さんだっているよ。貴女の事を心配していた。そんな彼女を、独りにさせる気か?』

“Ở đây còn có cả mẹ của cô nữa đấy. Bà ấy đã rất lo lắng cho cô. Cô định để bà ấy một mình sao?”.

俺がそう聞くと、一瞬の間があった。

Khi tôi hỏi vậy, có một khoảnh khắc im lặng.

そして、ほのかに笑う気配。

Và rồi, một cảm giác mỉm cười thoang thoảng.

『そうだね。君は約束を守ってくれたんだね。そして私を、救ってくれた』

“Đúng vậy nhỉ. Cậu đã giữ lời hứa. Và đã cứu tôi”.

シズさんから、強い意思が感じられた。

Tôi cảm nhận được một ý chí mạnh mẽ từ Shizue-san.

良かった。

Tốt quá.

彼女は強い人だとわかっていたけど、それでも心配だったのだ。

Tôi biết cô ấy là một người mạnh mẽ, nhưng tôi vẫn lo lắng.

俺の行動は間違いなく、余計なお世話というヤツだ。

Hành động của tôi chắc chắn là một sự can thiệp không cần thiết.

死んだ者を生き返らせるなど、俺のエゴでしかない行為である。

Việc hồi sinh người chết chỉ là một hành động ích kỉ của tôi.

それでも行動に移ったのは、これが死者蘇生とは少し違っていたからだ。

Dù vậy, tôi vẫn hành động vì điều này có chút khác với việc hồi sinh người chết.

本当に死んでしまったのなら諦めていたのだが、シズさんは俺の心の内で眠っているだけだったのである。

Nếu cô ấy thực sự đã chết, tôi đã từ bỏ, nhưng Shizue-san chỉ đang ngủ yên trong lòng tôi.

イフリートとの同化が解けた事で老化が進み、肉体的には死に至っている。けれど彼女の〝魂〟は、まだ美しく輝いていた。

Do sự đồng hóa với Ifrit bị giải trừ, quá trình lão hóa đã tiến triển và về mặt thể xác cô đã chết. Nhưng “linh hồn” của cô vẫn còn tỏa sáng một cách đẹp đẽ.

だからこその、お節介という訳だ。

Chính vì vậy, đây là một sự can thiệp.

基軸世界にいる者達には、シズさんが生き返るなどと話してもいない。相談さえしていないので、完全に俺の独断だった。

Tôi không hề nói với những người ở thế giới cốt lõi rằng Shizue-san sẽ sống lại. Thậm chí tôi còn không bàn bạc, hoàn toàn là quyết định độc đoán của tôi.

それでも、シズさんには自分の生を全うしてもらいたかったのだ。

Dù vậy, tôi vẫn muốn Shizue-san có thể sống trọn vẹn cuộc đời của mình.

『ありがとう、スライムさん。いいや、悟さん。また、お世話になるね』

“Cảm ơn, Slime-san. Không, Satoru-san. Lại phải nhờ cậu giúp đỡ rồi”.

シズさんはそう微笑んで、俺の提案を受け入れてくれたのだった。

Shizue-san mỉm cười như vậy và đã chấp nhận lời đề nghị của tôi.

ph_slime23_ill010.jpg

目の前に立つのは、十歳前後の少女だ。

Đứng trước mắt tôi là một cô bé khoảng mười tuổi.

シズさんの肉体から再構築した、正真正銘の本人である。

Được tái cấu trúc từ cơ thể của Shizue-san, đó chính là cô ấy.

「また子供になっちゃったね」

“Lại trở thành trẻ con rồi nhỉ”.

「そりゃあ、仕方ないだろ。シズさんがお母さんに説明するのも大変だしさ」

“Chà, đành chịu thôi. Shizue-san giải thích với mẹ cũng vất vả mà”.

「そうだね、うふふ」

“Đúng vậy nhỉ, ufufu”.

シズさんが、嬉しそうに笑う。

Shizue-san cười một cách vui vẻ.

少女なので〝さん〟付けで呼ぶのも違和感があるが、俺にとってシズさんはシズさんなのだ。

Vì là một cô bé nên việc gọi là “-san” có chút không tự nhiên, nhưng đối với tôi, Shizue-san vẫn là Shizue-san.

ひとしきり笑ってから、シズさんは自分の異変に気付いたようだ。

Sau khi cười một lúc, Shizue-san dường như đã nhận ra sự thay đổi của mình.

「あれ? 頬に違和感がないけど、もしかして火傷がなくなってる?」

“Ế? Má không còn cảm giác khó chịu nữa, không lẽ vết bỏng đã biến mất rồi?”.

「ああ。呪いも消えて、思い残した事もなくなったから、シズさんを縛るものはなくなったんじゃないかな」

“Ừ. Lời nguyền cũng đã biến mất, và không còn điều gì hối tiếc, nên có lẽ không còn gì ràng buộc Shizue-san nữa đâu”.

「そっか、そうだね。ありがとうね、悟さん」

“Ra vậy, đúng vậy nhỉ. Cảm ơn nhé, Satoru-san”.

「大した事ないよ。俺の方がお世話になったくらいさ」

“Không có gì đâu. Tôi mới là người được cô giúp đỡ nhiều hơn”.

特に、俺の肉体はシズさんの身体が元となっているので、とんでもなく恩があるのだ。

Đặc biệt, cơ thể của tôi được tạo ra từ cơ thể của Shizue-san, nên tôi mang một món nợ ân tình vô cùng lớn.

「そうかな? そうだと嬉しい」

“Vậy sao? Nếu vậy thì tôi rất vui”.

少女時代のシズさんが、自然な笑顔を見せてくれた。

Shizue-san thời thiếu nữ đã cho tôi thấy một nụ cười tự nhiên.

これからも強く生きて欲しいと願って、俺は色々とアイテムを渡しておく。

Mong cô ấy sẽ tiếp tục sống mạnh mẽ, tôi đã đưa cho cô ấy một vài vật phẩm.

神話級(ゴッズ)──は流石に使いこなせないだろうから、伝説級(レジェンド)相当の小太刀と、回復薬が数万個と、それらを収納する魔法の鞄と──

Cấp Thần Thoại (Gods)—chắc là không sử dụng được đâu nhỉ, nên tôi đưa cho một thanh đoản kiếm tương đương Cấp Truyền Thuyết (Legend), vài chục nghìn lọ thuốc hồi phục, và một chiếc túi ma thuật để đựng chúng—

「そんなに一杯、必要ないよ!」

“Không cần nhiều như vậy đâu!”.

シズさんに止められたので、ほどほどにしておいた。

Bị Shizue-san ngăn lại, nên tôi đã giữ ở mức vừa phải.

「ほどほどじゃないから。過保護って言われるよ?」

“Không phải là vừa phải đâu. Sẽ bị gọi là bảo bọc quá mức đấy?”.

「心配なんだよ! もう会えないだろうしさ」

“Tôi lo lắng mà! Chắc sẽ không gặp lại nữa đâu”.

俺が介入し過ぎるのは良くないので、シズさんとは二度と会わない覚悟であった。

Tôi can thiệp quá nhiều cũng không tốt, nên tôi đã quyết tâm sẽ không gặp lại Shizue-san nữa.

だからこそ、今出来る事は全てやってあげたいのだ。

Chính vì vậy, tôi muốn làm tất cả những gì có thể làm được ngay bây giờ.

それなのに、シズさんは大丈夫だと笑う。

Vậy mà, Shizue-san lại cười và nói không sao.

「私、強いから!」

“Tôi mạnh mẽ mà!”.

それは知ってるけどさ……。

Tôi biết điều đó, nhưng mà...

「それにね──」

“Và này—”.

俺は笑顔のシズさんに、強引に見送られた。

Tôi đã bị Shizue-san với nụ cười trên môi tiễn đi một cách ép buộc.

シズさんの、最後の言葉が胸に響く。

Lời cuối cùng của Shizue-san vang vọng trong lòng tôi.

──きっとまた会えるから──

—Chắc chắn chúng ta sẽ gặp lại nhau—

そうだな、そうだといいな。

Đúng vậy nhỉ, hy vọng là vậy.

俺はそう思いながら、次なる目的地へと飛翔した。

Tôi vừa nghĩ vậy, vừa bay đến mục tiêu tiếp theo.

立ち並ぶのは高層ビル。

Những tòa nhà chọc trời san sát nhau.

周囲は喧騒に包まれており、悲鳴や怒号に満ちている。

Xung quanh tràn ngập tiếng ồn ào, tiếng la hét và tiếng gầm gừ.

遠くではパトカーのサイレンの音。

Xa xa là tiếng còi xe cảnh sát.

懐かしさに、眩暈(めまい)すら覚える光景だった。

Đó là một cảnh tượng quen thuộc đến mức khiến tôi chóng mặt.

そして──

Và—

聞こえてくるのは、懐かしい後輩の声。

Nghe thấy giọng nói quen thuộc của một đàn em.

「先輩、先輩!? しっかりして下さいよ、三上さんっ──ッ!!」

“Senpai, senpai!? Cố lên chứ, Mikami-san!!”.

刺されて倒れたナイスガイを抱えて泣き叫ぶ若造と、その横で悲しそうにしている女性──俺の後輩だった田(た)村(むら)と、その婚約者である沢(さ)渡(わたり)さんだ。

Một chàng trai trẻ đang ôm một gã bảnh trai bị đâm gục và gào khóc, và bên cạnh là một người phụ nữ đang buồn bã—đó là Tamura, đàn em của tôi, và vị hôn thê của cậu ta, Sawatari-san.

だった──と言うと過去形なので、表現的には間違っているかも。

Nói là “đã từng”—thì là thì quá khứ, nên có lẽ cách diễn đạt này không đúng.

俺にとっては数年前の話だが、田村からすれば現在進行形なのだ。

Đối với tôi, đó là chuyện của vài năm trước, nhưng đối với Tamura, đó là chuyện đang diễn ra.

田村達、本当に変わってないな。

Tamura và những người khác, thật sự không thay đổi gì cả.

いやまあ、変わってなくて当然なんだけどね。

Ừ thì, không thay đổi cũng là điều hiển nhiên thôi.

ちょっとだけ感慨深いというか、そんな感じだ。

Có một chút cảm xúc, hay nói đúng hơn là như vậy.

そんなふうに、少しばかり懐かししく思っていると──

Khi tôi đang cảm thấy có chút hoài niệm như vậy—

『クフフフフ。リムル様、少し野暮用を片付けて参りますので、少々お待ち願えますか?』

“Kufufufu. Rimuru-sama, tôi có chút việc vặt cần giải quyết, ngài có thể vui lòng chờ một chút được không ạ?”.

──やはり、勝手に付いて来ていたか。

—Quả nhiên, cậu ta đã tự ý đi theo.

今まで大人しくしていたディアブロが、用事があると言い残して俺から離れて行った。

Diablo, người nãy giờ vẫn im lặng, đã nói rằng có việc bận và rời khỏi tôi.

その用事も想像はつく。

Tôi cũng có thể tưởng tượng được việc bận đó là gì.

放置しても問題ないだろうに、執念深いというか、何というか……。

Dù có bỏ mặc cũng chẳng sao, nhưng đúng là thù dai, hay nói thế nào nhỉ...

やれやれと思いつつ、好きにさせる事にした。

Vừa nghĩ “haiz”, vừa quyết định để cậu ta làm gì thì làm.

ディアブロが戻って来る前に、俺は俺の目的を果たすとしよう。

Trước khi Diablo quay lại, tôi sẽ hoàn thành mục đích của mình.

俺は田村に歩み寄り、その肩を叩いた。

Tôi tiến lại gần Tamura và vỗ vai cậu ta.

「ちょっとどけよ、田村」

“Tránh ra một chút đi, Tamura”.

「──ッ!? えっと? 誰だ、君……? 何で俺の名前を知って──」

“—!? Ừm? Cậu là ai...? Tại sao lại biết tên tôi—”.

「いいから、いいから。相変わらず細かいヤツだな」

“Được rồi, được rồi. Vẫn là một kẻ hay để ý tiểu tiết như mọi khi nhỉ”.

田村は文句を言おうと振り向いたが、そこにいた俺を見て、あまりの美貌に言葉を失った──って所かな?

Tamura định quay lại phàn nàn, nhưng khi nhìn thấy tôi ở đó, cậu ta đã chết lặng trước vẻ đẹp của tôi—chắc là vậy nhỉ?

沢渡さんに怒られるぞと思ったが、その言葉は飲み込んでおく。

Tôi đã nghĩ rằng sẽ bị Sawatari-san mắng, nhưng tôi đã nuốt lại những lời đó.

デリカシーがないと散々怒られたので、そろそろ俺も成長しているのだ。

Vì đã bị mắng rất nhiều lần là vô ý, nên tôi cũng đã trưởng thành hơn rồi.

それよりも、今はやるべき事があった。

Quan trọng hơn, bây giờ có việc cần phải làm.

俺は田村を押しやると、懐から擬似魂(ギジコン)を取り出す。遊びの為に作った代物だったが、ヴェルダナーヴァとの戦いの時といい、今の状況といい、実に有用で驚くばかりだ。

Tôi đẩy Tamura sang một bên và lấy ra một linh hồn giả (Gijikon) từ trong túi. Đó là một món đồ được tạo ra để giải trí, nhưng từ trận chiến với Verudanava đến tình hình hiện tại, nó thực sự rất hữu ích và đáng kinh ngạc.

さて、と。

Vậy thì.

擬似魂(ギジコン)をナイスガイの死体へ翳(かざ)すなり、スッと吸い込まれていった。魔素がほとんどない世界だから心配だったけど、やはり問題なくて一安心である。

Vừa đưa linh hồn giả (Gijikon) lên trên xác chết của gã bảnh trai, nó đã bị hút vào một cách nhẹ nhàng. Tôi đã lo lắng vì đây là một thế giới gần như không có ma tố, nhưng quả nhiên là không có vấn đề gì, thật nhẹ nhõm.

死体と擬似魂(ギジコン)が上手く融合したので、後は俺の『多重並列存在』を移して完了だ。

Xác chết và linh hồn giả (Gijikon) đã dung hợp thành công, giờ chỉ cần chuyển “Tồn Tại Song Song” của tôi vào là xong.

おっと、忘れるところだった。

Ồ, suýt nữa thì quên mất.

俺には『痛覚無効』があるけど、こっちの身体には適用されない可能性が大だった。

Tôi có “Vô Hiệu Đau Đớn”, nhưng khả năng cao là nó sẽ không áp dụng cho cơ thể này.

このまま復活すると泣き叫ぶくらいの激痛がありそうだし、きちんと治療しておかねばなるまい。

Nếu cứ thế này mà hồi sinh, có lẽ sẽ đau đến mức gào khóc, nên phải chữa trị cho cẩn thận.

俺は、他人の痛みになら耐えられるけど、自分の痛みには激弱なのだ。

Tôi có thể chịu được nỗi đau của người khác, nhưng lại rất yếu đuối trước nỗi đau của chính mình.

だからこそ逆に、自分がされて嫌な事は、他人にもしないように気をつけているのである。

Chính vì vậy, ngược lại, tôi luôn cẩn thận để không làm cho người khác những điều mà mình không thích.

そんな事を考えつつ、懐から取り出した回復薬を死体へと注ぎかける。

Vừa nghĩ vậy, tôi vừa lấy lọ thuốc hồi phục từ trong túi ra và đổ lên xác chết.

シズさんのお母さんで体験済みだが、見る見るうちに傷が癒えるのを確認した。

Tôi đã từng trải nghiệm điều này với mẹ của Shizue-san, và tôi đã xác nhận rằng vết thương đã lành lại trong chốc lát.

この回復薬には、抽出された魔素がふんだんに含まれている。魔素濃度が薄いこの世界でも、十分に効果を発揮するようだった。

Thuốc hồi phục này chứa rất nhiều ma tố đã được chiết xuất. Ngay cả trong thế giới có nồng độ ma tố loãng này, nó dường như vẫn phát huy hiệu quả đầy đủ.

死後硬直も始まっていなかったから、〝魂〟は抜けていても身体はまだ生命活動を継続中だったみたいだ。そこに俺の『多重並列存在』を宿らせれば、完全復活して生き返ったのと同じ事になるだろう。

Vì chưa có hiện tượng co cứng sau khi chết, nên có vẻ như dù “linh hồn” đã thoát ra, cơ thể vẫn đang tiếp tục hoạt động sống. Nếu để “Tồn Tại Song Song” của tôi trú ngụ ở đó, có lẽ sẽ giống như hồi sinh hoàn toàn và sống lại.

ともかく、これにて準備完了。

Dù sao thì, đến đây là chuẩn bị xong.

俺は意識を集中し、擬似魂(ギジコン)へと『多重並列存在』を移植した。

Tôi tập trung ý thức và cấy “Tồn Tại Song Song” vào linh hồn giả (Gijikon).

《成功です。こちらでも問題なく、能力(スキル)が発動します》

<<Thành công. Kĩ năng (Skill) cũng có thể kích hoạt mà không gặp vấn đề gì ở đây.>>

うむ、良かった。

Ừm, tốt quá.

ナイスガイの死体──つまりは元の世界の自分の肉体に、今の意識を分けて移す事に成功したようだ。

Cái xác của gã bảnh trai—hay nói cách khác, tôi đã thành công trong việc chia sẻ và chuyển ý thức hiện tại của mình sang cơ thể của chính mình ở thế giới cũ.

そしてタイミング良く、ディアブロも戻って来る。

Và đúng lúc đó, Diablo cũng quay lại.

『只今戻りました』

“Tôi vừa trở về”.

ディアブロなら独りでも基軸世界に戻れるだろうが、俺が連れ帰ってやる方が確実だ。待ってあげるつもりでいたので、丁度良かった。

Nếu là Diablo, cậu ta có thể tự mình quay lại thế giới cốt lõi, nhưng nếu tôi đưa cậu ta về thì sẽ chắc chắn hơn. Tôi đã định chờ, nên cũng vừa hay.

『お疲れ。用事は終わったのか?』

“Vất vả rồi. Việc bận xong chưa?”.

『取り敢えずは。後ほどゆっくりと、テスタロッサ達も交えて愉しもうかと思います。クフフフフ』

“Tạm thời thì xong rồi ạ. Sau này tôi nghĩ sẽ từ từ tận hưởng cùng Testarossa và những người khác. Kufufufu”.

『お、おう。ほどほどに、ね』

“Ồ, ừ. Vừa phải thôi nhé”.

何をする気なのかは聞かない。

Tôi không hỏi cậu ta định làm gì.

聞いても、碌(ろく)なことがないからだ。

Vì dù có hỏi cũng chẳng có chuyện gì tốt đẹp đâu.

そんな事よりも今は、俺──三上悟──が目覚める前に、さっさとこの場を離れるべきだった。

Quan trọng hơn là bây giờ, trước khi tôi—Mikami Satoru—tỉnh dậy, tôi nên nhanh chóng rời khỏi đây.

自室に戻るべく『時空間跳躍(タイムワープ)』しようとしたら、そのタイミングで田村が話しかけてきた。

Khi tôi định “Du Hành Thời Gian (Time Warp)” để trở về phòng riêng, thì đúng lúc đó Tamura đã bắt chuyện với tôi.

「君は一体何を……」

“Cậu rốt cuộc đã làm gì...”.

まあ、そうだな。

Ừ thì, đúng vậy.

目の前でとんでもない美少女──俺だ──が怪しい事をしていたら、そう聞きたくなる気持ちも理解出来る。

Nếu một cô gái xinh đẹp không tưởng—là tôi—đang làm những điều mờ ám ngay trước mắt, tôi cũng có thể hiểu được cảm giác muốn hỏi như vậy.

だがしかし、世の中そんなに甘くないのだ。

Nhưng mà, cuộc đời không dễ dàng như vậy đâu.

まともに答えてやる義理はないので、俺は先輩としての忠告を残してやる事にした。

Tôi không có nghĩa vụ phải trả lời một cách đàng hoàng, nên tôi quyết định để lại một lời khuyên với tư cách là một đàn anh.

「おう、田村。今後もちゃんと先輩を敬って、変な自慢をしようなどと考えるなよ。それと、俺のPCは自分で何とかするから、例の依頼はキャンセルだ!」

“Này, Tamura. Sau này cũng phải kính trọng đàn anh cho đàng hoàng, và đừng có nghĩ đến chuyện khoe khoang những thứ kì lạ nữa. À, và máy tính của tôi, tôi sẽ tự lo liệu, nên yêu cầu đó hủy đi!”.

「えっ!?」

“Ế!?”.

田村は余計に混乱していた。

Tamura càng thêm bối rối.

そんな田村にニヤリと笑って見せると、俺はその場を後にする。

Tôi nhếch mép cười với Tamura rồi rời khỏi đó.

多くを語る必要はない。

Không cần phải nói nhiều.

後は、俺──三上悟──が、こっちに残って説明するだろうから。

Sau đó, tôi—Mikami Satoru—sẽ ở lại đây và giải thích.

俺は目が覚めた。

Tôi đã tỉnh dậy.

薬品の匂いと、独特の空気感。

Mùi thuốc và một bầu không khí đặc trưng.

ここは病院のベッドの上、懐かしき転生前の世界である。

Đây là trên giường bệnh, thế giới trước khi chuyển sinh quen thuộc.

そして──

Và—

三十七年を共にした、馴染み深い男の肉体。

Cơ thể của một người đàn ông quen thuộc đã đồng hành cùng tôi suốt ba mươi bảy năm.

そっと確かめてみると、息子も健在だった。

Tôi khẽ kiểm tra, và con trai tôi vẫn còn đó.

良かった。

Tốt quá.

心の底から思う。

Tôi nghĩ vậy từ tận đáy lòng.

ただし、使えなくなっていないか少し心配ではあったけど。

Dù vậy, tôi cũng hơi lo lắng không biết nó có còn dùng được không.

え、どうせ使った事ないんだろうだって? ぶち殺すぞ、この野郎!!

Ế, đằng nào cũng chưa dùng bao giờ đúng không? Tao giết mày đấy, thằng khốn!!

いついかなる時でも使えるようにしておく、それがマナーだ。

Luôn sẵn sàng để sử dụng bất cứ lúc nào, đó mới là lịch sự.

準備は大切なのだ。

Sự chuẩn bị là rất quan trọng.

とまあ、それはさておき。

Ừ thì, gác chuyện đó sang một bên.

今までの事は夢とかじゃないだろうな?

Những chuyện từ trước đến giờ không phải là mơ chứ nhỉ?

刺されたショックで見た夢とか、夢オチは勘弁して貰いたいのだけど……。

Một giấc mơ do sốc vì bị đâm, hay là kết thúc bằng một giấc mơ, làm ơn đừng như vậy...

あれだけ大変な思いをしたのが、単なる白昼夢とかだったら笑うに笑えない。

Nếu những trải nghiệm vất vả đến thế chỉ là một giấc mơ ban ngày, thì tôi không thể nào cười nổi.

だけど、これだけ平和そうなら、あながち冗談ではなく夢だったと言われれば信じてしまいそうだ。

Nhưng mà, nếu yên bình đến thế này, nếu được nói rằng đó là một giấc mơ chứ không phải trò đùa, có lẽ tôi cũng sẽ tin.

それならそれで、納得するしかない。

Nếu vậy thì cũng đành phải chấp nhận thôi.

無事だっただけでも僥(ぎょう)倖(こう)だし、何より、平和が一番だからね。

Chỉ riêng việc bình an đã là một may mắn, và hơn hết, hòa bình là điều quan trọng nhất.

そんなふうに納得していると、誰かが病室に入って来た。

Khi tôi đang tự trấn an mình như vậy, có ai đó đã bước vào phòng bệnh.

「あ、先輩! 目が覚めたんですね?」

“A, senpai! Anh tỉnh rồi sao?”.

田村だった。

Là Tamura.

どうやら救急車に乗って、病院まで付き添ってくれたようだ。

Có vẻ như cậu ta đã đi cùng xe cứu thương đến bệnh viện.

「……田村、か。ここって病院、だよな?」

“...Tamura à. Đây là bệnh viện, đúng không?”.

「そうですよ。さっきまで警察が来ていたんですが、念の為に精密検査した方が良いからって医者に言われて、帰って行きました」

“Đúng vậy ạ. Lúc nãy cảnh sát có đến, nhưng bác sĩ nói nên làm kiểm tra chi tiết cho chắc ăn, nên họ đã về rồi”.

また明日来るみたいですよと、田村が言う。

Tamura nói rằng có vẻ họ sẽ quay lại vào ngày mai.

「警察……? 何で……」

“Cảnh sát...? Tại sao...”.

「落ち着いて下さい。先輩、通り魔に刺されたんですが、覚えていますか? その通り魔の情報を聞こうと、警察が来ていたんですよ」

“Bình tĩnh đi ạ. Senpai, anh đã bị một kẻ tấn công bất ngờ đâm, anh có nhớ không? Cảnh sát đến để hỏi thông tin về kẻ đó đấy ạ”.

「ああ、なるほど……覚えてるよ。ってか、やっぱり俺、刺されたよな?」

“À, ra vậy... tôi nhớ rồi. Mà, tôi thật sự đã bị đâm, đúng không?”.

痛みもなく、身体はピンピンしている。

Không hề đau, cơ thể hoàn toàn khỏe mạnh.

そっと調べてみても傷がないのは、完全回復薬(フルポーション)の効果だろう。

Dù có kiểm tra kĩ cũng không thấy vết thương nào, có lẽ là do tác dụng của thuốc hồi phục hoàn toàn (Full Potion).

それとも……もしかしてアレって、マジで夢だったのかな?

Hay là... không lẽ chuyện đó, thật sự là một giấc mơ sao?

刺されたというのが俺の勘違いで、実はビビッて気絶しただけとかなら、本当に白昼夢だった可能性が──

Nếu việc bị đâm chỉ là do tôi hiểu lầm, và thực ra chỉ là do sợ hãi mà ngất đi, thì có khả năng đó thực sự là một giấc mơ ban ngày—

「──実はですね、信じて貰えないと思うんですが、不思議な女性──それも、モデルや芸能人なんて目じゃないくらいの、壮絶な美女だったんですけどね──が、先輩を生き返らせたんですよ。いや、何を言っているんだって笑われても仕方ないと思うんですけど、これ、本当の話でして! その証拠に、あれを見て下さい」

“—Thực ra thì, tôi không nghĩ anh sẽ tin đâu, nhưng một người phụ nữ kì lạ—một mỹ nhân tuyệt trần đến mức người mẫu hay nghệ sĩ cũng không sánh bằng—đã hồi sinh senpai đấy ạ. Không, tôi biết là nói ra sẽ bị cười cho, nhưng đây là sự thật! Bằng chứng là, xin hãy nhìn kia”.

俺の疑問に、田村が答えてくれた。

Tamura đã trả lời câu hỏi của tôi.

そう言われて見てみれば、壁に掛かった俺のスーツの背中には、赤黒く染まった血痕がベッタリと付着していた。そしてよく見ると、小さな裂け目があったのだ。

Nghe vậy, tôi nhìn thử, và trên lưng bộ vest đang treo trên tường của tôi, có một vết máu đỏ sẫm dính chặt. Và nếu nhìn kĩ, có một vết rách nhỏ.

どうやらそれは、俺が流した大量の血液で間違いなさそうだ。

Có vẻ như đó chắc chắn là do lượng máu lớn mà tôi đã mất.

つまり、刺されたのも現実だったのだ。

Nói cách khác, việc bị đâm cũng là sự thật.

という事は、やはり俺の記憶は夢ではなく、ちゃんと経験した事で──

Vậy thì, kí ức của tôi không phải là một giấc mơ, mà là những gì tôi đã thực sự trải qua—

《是。全て主様(マスター)の考え通りです》

<<Vâng. Mọi chuyện đều đúng như suy nghĩ của Chủ nhân (Master).>>

──って、こっちでも『大賢者』が使えるんかい!!

—Ế, ở đây cũng dùng được “Đại Hiền Giả” sao!!

ああ、思い出した。

À, tôi nhớ rồi.

どうやら俺とリムルは、記憶の同期──というよりバックアップが可能みたいだ。

Có vẻ như tôi và Rimuru, có thể đồng bộ kí ức—hay nói đúng hơn là sao lưu.

リムルの方では完全に記録されているようだが、俺の方から読み取れる情報は少ない。というか、ヤツが基軸世界に戻ってしまった時点で、ほぼ読み取れなくなっている。それでも、こっちで何をしたのかは把握出来た。

Phía Rimuru có vẻ đã ghi lại hoàn toàn, nhưng thông tin tôi có thể đọc được lại rất ít. Hay nói đúng hơn, ngay khi hắn quay trở lại thế giới cốt lõi, tôi gần như không thể đọc được gì nữa. Dù vậy, tôi vẫn nắm được những gì đã làm ở đây.

シエルさんが『こちらでも問題なく、能力(スキル)が発動します』と言っていたけど、アレはリムル側の話ではなく、こっちに残る俺の話だったのね。

Ciel-san đã nói rằng “Ở đây cũng có thể kích hoạt kĩ năng mà không gặp vấn đề gì”, nhưng đó không phải là chuyện của phía Rimuru, mà là chuyện của tôi ở lại đây nhỉ.

念の為の確認なんだけど、シエルさんじゃないよね?

Để chắc chắn, không phải là Ciel-san, đúng không?

《……》

<<...>>

答えないという事は、シエルさんである確率が高まったよね。

Không trả lời, vậy là khả năng đó là Ciel-san đã tăng lên nhỉ.

まあ、その点は別にどっちでもいいんだけど、俺に変な制限をかけないように願うばかりである。

Chà, về điểm đó thì thế nào cũng được, tôi chỉ mong đừng đặt ra những hạn chế kì lạ cho tôi.

それにしても、夢かと思ってドキドキしてしまったが、これも俺──リムル──による悪戯(いたずら)だと理解してしまった。

Dù sao thì, tôi đã hồi hộp vì nghĩ đó là một giấc mơ, nhưng tôi đã hiểu ra đây cũng là một trò đùa của tôi—Rimuru.

ドッキリ大成功──などと、向こうで高笑いしている事だろう。

Chắc hẳn hắn đang cười lớn ở phía bên kia, kiểu như “Chơi khăm thành công mỹ mãn—”.

あの野郎──と言っても自分自身なのだけど──俺に対してまで、お茶目な真似をしやがるとは……。

Tên khốn đó—dù cũng là chính mình—lại dám giở trò tinh nghịch ngay cả với tôi...

そんなふうに憤慨していると、田村が困ったように話しかけてきた。

Khi tôi đang tức giận như vậy, Tamura đã nói chuyện với tôi với vẻ bối rối.

「やっぱり、信じられないですよね……」

“Quả nhiên, anh không thể tin được nhỉ...”.

「いや、信じるよ」

“Không, tôi tin”.

「え?」

“Ế?”.

「俺にも色々事情があってね。田村、お前の話を信じるだけの根拠があるのさ」

“Tôi cũng có nhiều chuyện riêng. Tamura, tôi có đủ cơ sở để tin vào câu chuyện của cậu”.

「本当に? いやあ、自分の目で見たっていうのに、とても信じられない話なんですけどねえ……」

“Thật sao? Không, dù đã tận mắt chứng kiến, nhưng đó vẫn là một câu chuyện rất khó tin...”.

「ははは、そうかもな。ああそれと、警察は無駄足になりそうだな。何しろ──」

“Hahaha, có lẽ vậy. À, và có vẻ cảnh sát sẽ uổng công thôi. Dù sao thì—”.

「はい?」

“Vâng?”.

「いや、何でもない」

“Không, không có gì”.

それこそ、田村に言っても信じないだろう。

Đúng là, dù có nói với Tamura, cậu ta cũng sẽ không tin.

俺を殺した犯人が、今頃はとても酷い目にあっている、などと。

Rằng kẻ đã giết tôi, lúc này đang phải chịu một kết cục rất thảm khốc.

ディアブロがわざわざ付いて来た時点で、俺もピンッときていた。

Ngay từ lúc Diablo cố tình đi theo, tôi đã đoán ra rồi.

俺はともかくとして、ディアブロが犯人を許すハズがないのだ。

Bỏ qua tôi, Diablo không đời nào tha cho hung thủ.

今頃は、多分……。

Lúc này, có lẽ...

テスタロッサ達も交えて──という時点で、犯人に安息など赦(ゆる)されない。

Ngay từ lúc có cả Testarossa và những người khác tham gia—thì hung thủ không thể nào được yên ổn.

ウルティマなどはそういうのを得意としているらしいし、無限の責苦により、生まれて来た事すらも後悔させられている事だろう。

Ultima dường như rất giỏi trong việc đó, và có lẽ hung thủ đang phải chịu đựng sự hành hạ vô tận, đến mức hối hận vì đã được sinh ra.

それを言っても仕方ないので、俺は笑って誤魔す事にしたのだった。

Nói ra cũng chẳng ích gì, nên tôi quyết định cười trừ cho qua chuyện.

そうこう話し込んでいると、沢渡さんまで病室にやって来た。

Trong lúc chúng tôi đang trò chuyện, Sawatari-san cũng đã đến phòng bệnh.

実家に連絡してくれたらしく、深夜には俺の家族が駆け付けてくれるとのこと。

Có vẻ như cậu ta đã liên lạc với gia đình tôi, và gia đình tôi sẽ đến vào lúc nửa đêm.

と言っても、来てもらってもする事なんてないんだけどな。

Dù vậy, dù họ có đến thì cũng chẳng có việc gì để làm.

既に怪我は治っているだけに、気まずいかも。直ぐに退院出来る訳だし、電話だけでも良かった気がする。

Vì vết thương đã lành, nên có lẽ sẽ hơi khó xử. Dù sao cũng có thể xuất viện ngay, nên tôi nghĩ chỉ cần gọi điện là đủ rồi.

それでもまあ、久々に両親や兄貴の顔を見るのも悪くない。そんなふうに思いつつ、しばし談笑を楽しんだ。

Dù vậy, cũng không tệ khi được gặp lại bố mẹ và anh trai sau một thời gian dài. Vừa nghĩ vậy, tôi vừa tận hưởng cuộc trò chuyện ngắn ngủi.

明日は警察とか検査とかあるみたいだが、夕方までには終わる見込みだそうだ。

Ngày mai có vẻ sẽ có cảnh sát và kiểm tra, nhưng dự kiến sẽ kết thúc trước buổi chiều.

「明日、着替えを届けましょうか?」

“Ngày mai, tôi mang đồ thay đến cho anh nhé?”.

「おっと、そうだな、頼めるか?」

“Ồ, đúng vậy nhỉ, nhờ cậu được không?”.

壁に掛かったスーツは、血痕バリバリでもう捨てるしかない。

Bộ vest treo trên tường đã dính đầy máu, chỉ còn cách vứt đi.

退院するにしても、着替えは必要だろう。

Dù có xuất viện, cũng cần phải có đồ để thay.

「勿論です! 先輩が庇ってくれなかったら、俺、今頃無事だったかわからないですもん」

“Tất nhiên rồi ạ! Nếu senpai không bảo vệ em, em không biết bây giờ mình có được bình an không nữa”.

田村がそう言ってくれたので、俺はベッド横のテーブルに置かれていた鞄から自宅マンションの鍵を取り出し、田村に預ける。何度か招待した事があるので、安心してお願い出来た。

Vì Tamura đã nói vậy, tôi đã lấy chìa khóa căn hộ của mình từ chiếc túi đặt trên bàn cạnh giường và giao cho Tamura. Tôi đã từng mời cậu ấy đến vài lần, nên có thể yên tâm nhờ vả.

「それじゃあ、また明日!」

“Vậy thì, hẹn gặp lại ngày mai!”.

「怪我はともかく大変な事件でしたし、お大事にしてくださいね」

“Dù vết thương đã lành, nhưng đó vẫn là một vụ việc nghiêm trọng, anh hãy giữ gìn sức khỏe nhé”.

田村と沢渡さんは、そう挨拶して帰って行ったのだった。

Tamura và Sawatari-san đã chào tạm biệt và ra về.

そして、深夜。

Và rồi, đêm khuya.

面会時間なんてとっくに過ぎているのに、何故か両親と兄貴が病室にいる。

Giờ thăm bệnh đã qua từ lâu, nhưng không hiểu sao bố mẹ và anh trai tôi lại đang ở trong phòng bệnh.

兄貴も医者なので、コネとかフル稼働したのかも知れない。

Anh trai tôi cũng là bác sĩ, nên có lẽ đã tận dụng hết các mối quan hệ của mình.

ちなみに、兄貴の奥さんは来ていない。姪っ子と甥っ子が受験戦争の真っ只中とあって、誰かが面倒を見てあげねばならないからだ。

Nhân tiện, vợ của anh trai tôi không đến. Vì cháu gái và cháu trai đang trong giai đoạn ôn thi căng thẳng, nên cần có người chăm sóc.

姪っ子は大学受験で、甥っ子が高校だな。

Cháu gái thi đại học, còn cháu trai thi cấp ba nhỉ.

そりゃあ修羅場だと理解出来るので、何ら文句はなかった。

Tôi hiểu đó là một tình thế khó khăn, nên không có gì phàn nàn.

というよりも、両親や兄貴が上京してくれただけでも有難い話である。

Hay đúng hơn, chỉ riêng việc bố mẹ và anh trai tôi đã lên Tokyo cũng đã là một điều đáng biết ơn.

とはいえ──

Dù vậy—

「馬鹿が、心配かけやがって!」

“Đồ ngốc, làm người ta lo lắng!”.

開口一番、怒鳴られた。

Ngay từ câu đầu tiên, tôi đã bị mắng.

そして、頭に拳骨である。

Và rồi, một cú cốc đầu.

あのね、俺ってもう三十七歳よ?

Này nhé, tôi đã ba mươi bảy tuổi rồi đấy?

立派な社会人で、いい大人なのよ。

Là một người đi làm đàng hoàng, một người lớn thực thụ.

子供じゃないんだから、拳骨はヤメロ。

Không phải trẻ con nữa, nên đừng có cốc đầu.

それ以前に、今時体罰とか許されないよ、まったく。

Trước đó, thời buổi này bạo lực học đường là không thể chấp nhận được, thật là.

と、言ってやれたらいいのだが、兄貴には色々と面倒を見てもらったし、今でも頭が上がらないので、ここは『心配させた俺が悪い』という事で我慢する。

Nói được thì tốt, nhưng anh trai đã chăm sóc tôi rất nhiều, và đến bây giờ tôi vẫn không thể ngẩng cao đầu trước anh ấy, nên lần này tôi sẽ nhẫn nhịn với lí do “là lỗi của tôi khi đã làm anh lo lắng”.

喧嘩なら俺が勝つのだが、我が家では兄貴は偉大なのだ。

Nếu là đánh nhau thì tôi thắng chắc, nhưng ở nhà tôi, anh trai là người vĩ đại.

「まあまあ、賢(けん)一(いち)。悟が悪いわけじゃないし、許してやりなさい」

“Thôi nào, Kenichi. Satoru cũng không có lỗi, tha cho nó đi”.

相変わらず、父は穏やかだ。

Bố vẫn hiền lành như mọi khi.

「そうよ。犯人がまだ逮捕されていないんでしょ? 被害者の悟じゃなくて、そっちを何とかするべきよ!」

“Đúng vậy. Hung thủ vẫn chưa bị bắt, đúng không? Thay vì trách Satoru là nạn nhân, nên giải quyết chuyện đó mới phải!”.

母よ、兄貴に何を求めているのか……。

Mẹ ơi, mẹ đang mong đợi điều gì ở anh trai vậy...

父は怒る事を知らないような性格で、母は俺に激アマだ。なので兄貴が、俺を怒るという流れである。

Bố có tính cách như thể không biết giận là gì, còn mẹ thì rất chiều chuộng tôi. Vì vậy, anh trai là người sẽ mắng tôi.

いやあ、実に懐かしい。

Ôi, thật là hoài niệm.

上京してもたまの休暇に帰省していたが、建設業界は忙しい。数日滞在するくらいで、怒られるのなんて久々だった。

Dù đã lên Tokyo, tôi vẫn thỉnh thoảng về quê vào những kì nghỉ, nhưng ngành xây dựng rất bận rộn. Chỉ ở lại vài ngày, nên đã lâu rồi tôi mới bị mắng.

「それで、怪我は?」

“Vậy, vết thương thế nào?”.

「いやあ、不思議な事に完治しててさ、傷跡も残ってないよ」

“Chà, kì lạ là nó đã lành hẳn rồi, không còn sẹo nữa”.

「常識では有り得ないな」

“Theo lẽ thường thì không thể nào”.

兄貴はそう言って、大きく溜息を吐いた。

Anh trai tôi nói vậy và thở dài một tiếng.

「まあ、無事ならそれでいい」

“Thôi, bình an là tốt rồi”.

そう心配してくれたのだが、拳骨を落とす前に確認しろという話である。

Anh ấy đã lo lắng như vậy, nhưng lẽ ra phải xác nhận trước khi cốc đầu tôi chứ.

「まあまあ、悟は昔から、少し自信過剰なところがあったからねえ」

“Thôi nào, Satoru từ xưa đã có chút tự tin thái quá rồi mà”.

「そうやって母さんが甘やかすから、コイツは反省しないんだ」

“Chính vì mẹ chiều chuộng nó như vậy nên nó mới không biết hối cải đấy”.

うーん、耳が痛い。

Ừm, nghe chói tai quá.

確かに、『俺なら包丁を避けられるし、最悪、刺されても死なないだろ』とか考えてました。

Đúng là, tôi đã nghĩ rằng “mình có thể né được dao, và tệ nhất là dù bị đâm cũng không chết đâu”.

田村は婚約者がいて結婚間近だし、何かあっても俺の方がマシ、という考えもあったりする。

Tamura có vị hôn thê và sắp kết hôn, nên nếu có chuyện gì xảy ra thì tôi chịu còn hơn, tôi cũng có suy nghĩ như vậy.

これを言ったら確実に怒られるので、無我夢中だった事にしておいた。

Nếu nói ra điều này chắc chắn sẽ bị mắng, nên tôi đã giả vờ như mình đã mất hết lí trí.

「甘やかすと言えば、死んだ祖母(ばあ)さんだな。とても厳しい人だったが、悟にだけは甘かったんだ」

“Nói đến chiều chuộng, phải kể đến bà nội đã mất. Bà là một người rất nghiêm khắc, nhưng lại rất chiều chuộng Satoru”.

「ああ、俺も覚えてる。シズ祖母ちゃんが笑ってるの、初めて見たからな」

“À, anh cũng nhớ. Đó là lần đầu tiên anh thấy bà Shizue cười”.

シズ祖母ちゃん?

Bà Shizue?

「生まれたばかりの悟を抱いてなあ、『ほら、また会えた』って嬉しそうにな」

“Bà bế Satoru mới sinh và nói một cách vui vẻ ‘Này, chúng ta lại gặp nhau rồi’”.

「そうねえ、賢一が生まれた時だって厳しい人だったから、とても驚いたわね」

“Đúng vậy nhỉ, ngay cả khi Kenichi ra đời bà cũng rất nghiêm khắc, nên mẹ cũng rất ngạc nhiên”.

「そうそう、悟、シズ祖母さんがお前に名前を付けてくれたんだぞ」

“Đúng đúng, Satoru, chính bà Shizue đã đặt tên cho em đấy”.

「そうだったわねえ! 生まれる前から男の子だって断言して、この子の名前は悟だって、絶対に譲らなかったんだったわ」

“Đúng là vậy nhỉ! Trước khi sinh bà đã khẳng định là con trai, và nhất quyết không chịu đổi tên Satoru cho thằng bé”.

なるほど、初耳だ……。

Ra vậy, lần đầu tiên tôi nghe...

ウチの祖母は父方母方共に、俺が物心つく前に亡くなっている。

Bà nội và bà ngoại của tôi đều đã qua đời trước khi tôi có nhận thức.

なので、祖母(ばあ)ちゃんの名前も初めて聞いたのだが、まさか……。

Vì vậy, tôi cũng mới nghe tên bà lần đầu, nhưng không lẽ...

《聞いていたのに、忘れているだけの可能性が──》

<<Dù đã nghe, nhưng có khả năng là ngài chỉ quên thôi—>>

ちょっと黙ろうか。

Im lặng một chút đi.

今は大事な話の真っ最中なので、余計な邪魔者の発言は無視しておく。

Bây giờ đang là lúc nói chuyện quan trọng, nên tôi sẽ lờ đi những lời nói thừa thãi của kẻ phiền phức.

「ウチの祖母ちゃんって、シズって名前だったのか?」

“Bà nội của chúng ta tên là Shizue sao?”.

「そうだぞ。地元では、〝鬼の静江〟と呼ばれて恐れられていたんだ」

“Đúng vậy. Ở quê, bà được gọi là “Quỷ Shizue” và rất được kính sợ”.

ドキドキしてきた。

Tim tôi bắt đầu đập thình thịch.

これ、もう間違いないヤツだ。

Cái này, không thể sai được.

聞けば、喧嘩は無敗。地元の愚連隊どころか、ヤクザ者共まで締め上げていたらしく、戦後をたくましく生き抜いた人物だったのだと。

Nghe nói, bà không bao giờ thua trong các trận đánh. Không chỉ những kẻ du côn địa phương, mà ngay cả đám yakuza cũng bị bà trấn áp, bà là một người đã sống sót một cách mạnh mẽ qua thời kì hậu chiến.

実によく斬れる小太刀を持っていて、銃弾すら斬り裂いたという都市伝説があるから驚きだ。

Thật đáng kinh ngạc khi có một truyền thuyết đô thị rằng bà sở hữu một thanh đoản kiếm cực kì sắc bén, có thể chém đứt cả đạn.

というか、笑えない。

Hay đúng hơn là không thể cười được.

そんなシズ祖母ちゃんを射止めたウチの祖父(じい)さんは、地元では伝説の男になっていたらしい。絶対に無理だから諦めろと諭されたのに、一目惚れしたシズ祖母ちゃんを諦められず、無謀な挑戦を敢行したのだそうだ。今はもう亡くなっているので無理なのだが、その武勇伝は直接聞いてみたかった。

Ông nội tôi, người đã chinh phục được bà Shizue như vậy, dường như đã trở thành một huyền thoại ở địa phương. Dù đã được khuyên rằng tuyệt đối không thể nên hãy từ bỏ, nhưng vì đã yêu bà Shizue ngay từ cái nhìn đầu tiên, ông đã không thể từ bỏ và đã thực hiện một thử thách liều lĩnh. Bây giờ ông đã mất nên không thể, nhưng tôi rất muốn được nghe trực tiếp câu chuyện anh hùng đó.

結果は言うまでもなく、奇跡が起きた、と。

Kết quả không cần phải nói, một phép màu đã xảy ra.

まあ、起きてなかったら親父が生まれなかったので、俺も存在していないという話だがね。

Chà, nếu không xảy ra thì bố tôi đã không được sinh ra, và tôi cũng sẽ không tồn tại.

ちなみに、そんな話題の祖父さんだが、若い頃は俺と瓜二つってくらいに、ソックリだったそうだ。

Nhân tiện, ông nội được nhắc đến đó, nghe nói hồi trẻ trông giống hệt tôi.

シズさんには『思念伝達』で俺の記憶を伝えたし、俺の前世──今の俺の顔とかまで見せていたから、祖父さんを見たら俺と血縁がある事に気付くはずだ。

Tôi đã dùng “Truyền Đạt Tư Niệm” để truyền kí ức của mình cho Shizue-san, và thậm chí còn cho cô ấy xem cả kiếp trước của tôi—khuôn mặt hiện tại của tôi, nên nếu nhìn thấy ông nội, cô ấy chắc chắn sẽ nhận ra tôi có quan hệ huyết thống.

そうなると……。

Nếu vậy thì...

そんな話を聞けば聞くほど、間違いなくシズさん本人だと思われた。

Càng nghe những câu chuyện như vậy, tôi càng tin chắc đó chính là Shizue-san.

というかさ、飾ってあった祖母ちゃんの写真を見たけど、火傷跡なんてなかったもんな……。

Hay đúng hơn là, tôi đã xem ảnh của bà được trưng bày, nhưng không hề có vết bỏng nào...

年がいってもキリッとしていたから、昔は相当美人だっただろうな、くらいの感想だったよね。

Vì dù đã có tuổi nhưng bà vẫn rất sắc sảo, nên tôi chỉ có cảm giác rằng ngày xưa bà chắc hẳn rất xinh đẹp.

「それでな、その祖母さんが遺言を残していたんだが、それを思い出したからこうして皆で出向いて来たんだ」

“Và này, bà nội đã để lại một di chúc, và vì nhớ ra điều đó nên chúng ta mới đến đây”.

「うん?」

“Ừm?”.

「はい、これ。お祖母さんから、貴方によ」

“Đây, cái này. Từ bà nội, cho con”.

渡された小包には、一本の小太刀と封をされた手紙が入っていた。

Trong gói hàng được đưa, có một thanh đoản kiếm và một lá thư được niêm phong.

はい、確定!

Vâng, xác nhận!

この小太刀、俺がシズさんに渡した品でした。

Thanh đoản kiếm này, là món đồ tôi đã đưa cho Shizue-san.

それからほどなくして、家族達は用事も済んだと言って帰っていった。

Sau đó không lâu, gia đình tôi nói rằng đã xong việc và ra về.

そして俺は、個人部屋の病室でゆっくりと、シズさんからの手紙を読み始めたのだった。

Và tôi, trong phòng bệnh riêng, đã từ từ bắt đầu đọc lá thư từ Shizue-san.

………

...

……

...

...

前略

Gửi

スライムのリムルさんへ

Slime Rimuru-san

何度も私を助けてくれて、ありがとう

Cảm ơn vì đã nhiều lần cứu giúp tôi

私の心残りだった子供達を救ってくれた上に、ヒナタや、ユウキまで、みんなの事も助けてくれたね

Không chỉ cứu giúp những đứa trẻ mà tôi luôn canh cánh trong lòng, cậu còn cứu cả Hinata và Yuki, tất cả mọi người

それに、私とお母さんを再会させてくれるなんて、これ以上ないほど感謝しています

Hơn nữa, việc cậu giúp tôi và mẹ được đoàn tụ, tôi thực sự biết ơn không gì sánh bằng

魔王レオンとも和解出来たみたいで、安心しました

Có vẻ như đã hòa giải được với Ma vương Leon, tôi cũng yên tâm rồi

彼の本心を知れたので、私の恨みも晴れました

Biết được tấm lòng thật sự của anh ấy, lòng hận thù của tôi cũng đã tan biến

誤解があったのだと知れて、本当に良かったです

Biết rằng đã có sự hiểu lầm, tôi thực sự rất vui

それにしても、リムルさんは本当に凄いね

Dù sao thì, Rimuru-san thật sự rất tuyệt vời

大きな戦争も終わらせて、世界を平和に導いて、みんなが悲しまないようにしてくれた

Cậu đã kết thúc cuộc chiến lớn, dẫn dắt thế giới đến hòa bình, và làm cho mọi người không còn phải đau buồn

とうとう神様になってしまうなんて、本当にびっくりしました

Cuối cùng lại trở thành Thần, tôi thực sự rất ngạc nhiên

そんな貴方が私の孫として生まれてくれて、とても嬉しかった

Việc cậu được sinh ra làm cháu của tôi, tôi rất vui

リムルさんは、私にとっては悟さん

Đối với tôi, Rimuru-san chính là Satoru-san

可愛い孫です

Là một đứa cháu đáng yêu

悟さん、私は幸せだったよ

Satoru-san, tôi đã rất hạnh phúc

げぇむというのもしてみたかったけど、残念な事にまだないみたい

Tôi cũng muốn thử chơi game, nhưng tiếc là có vẻ như vẫn chưa có

悟さんと一緒に遊んでみたかったな

Tôi muốn được chơi cùng Satoru-san

それが少しだけ寂しいけど、私は満足なのです

Điều đó có chút buồn, nhưng tôi đã mãn nguyện

貴方が生まれてくれて、私の人生が未来に繋がっていくのだと実感出来ました

Cậu được sinh ra, tôi đã cảm nhận được rằng cuộc đời mình sẽ tiếp nối đến tương lai

貴方ともっと語り合いたかったけど、それはまたの機会の楽しみとして取っておきます

Tôi muốn được trò chuyện với cậu nhiều hơn, nhưng tôi sẽ để dành niềm vui đó cho một dịp khác

どうぞお元気で、これからもますます飛躍されますように

Xin hãy giữ gìn sức khỏe, và chúc cậu ngày càng thành công hơn nữa trong tương lai

かしこ

Trân trọng

………

...

……

...

...

手紙を読み終わって、俺は目を閉じた。

Đọc xong lá thư, tôi nhắm mắt lại.

神様にはなっていないよと、声を大にして伝えたい。

Tôi muốn nói lớn rằng mình chưa trở thành Thần đâu.

他にも色々と思うところはあったが、シズさんが幸福だったのなら、俺としても満足だった。

Còn nhiều điều khác tôi nghĩ đến, nhưng nếu Shizue-san hạnh phúc, thì tôi cũng đã hài lòng.

今日は一晩、シズさんを追悼しようと思う。

Tối nay, tôi định sẽ tưởng nhớ Shizue-san.

今度こそ、安らかに。

Lần này, xin hãy yên nghỉ.

俺はそう願いながら、病院の窓から夜空を見上げたのだった。

Tôi vừa ước nguyện như vậy, vừa ngước nhìn bầu trời đêm từ cửa sổ bệnh viện.

夕方になって、田村が着替えなどを届けに面会に来てくれた。

Đến chiều, Tamura đã đến thăm và mang theo đồ thay đổi.

「先輩、よく眠れましたか? これ、着替えのスーツです」

“Senpai, anh ngủ ngon không? Đây là bộ vest để thay ạ”.

「おう、サンキュー。俺のPCには触れなかっただろうな?」

“Ồ, cảm ơn. Cậu không đụng vào máy tính của tôi chứ?”.

「アハハ、パスワードが堅牢過ぎて、起動出来ませんでした」

“Aha, mật khẩu quá mạnh, không khởi động được ạ”.

触ったんかい!

Đụng rồi sao!

ホント、油断も隙もないな。

Thật là, không thể lơ là cảnh giác được.

今後は誰にも触れられないように、二度と入院とかしないようにしよう。

Sau này, tôi sẽ cố gắng không để ai đụng vào, và không bao giờ phải nhập viện nữa.

俺はそう心に誓ったのだ。

Tôi đã thề với lòng mình như vậy.

それから──

Và rồi—

俺はスーツに着替えながら、田村との会話を続ける。

Tôi vừa thay vest, vừa tiếp tục cuộc trò chuyện với Tamura.

「それで、検査とかどうでした?」

“Vậy, kết quả kiểm tra thế nào ạ?”.

「うん。やっぱり問題ないってさ」

“Ừ. Vẫn không có vấn đề gì”.

「へえ、良かったけど、不思議ですね」

“Hê, tốt quá, nhưng cũng kì lạ nhỉ”.

「俺もそう思ったんだけどさ、年に一度か二度くらいは、こういう事例があるんだってよ」

“Tôi cũng nghĩ vậy, nhưng nghe nói mỗi năm cũng có một hai trường hợp như thế này”.

こっちの世界には魔素が少ないから、魔法とか存在していないのかなと思っていた。けれど実際にはそうではなく、不思議な事例も観測されていたらしい。

Tôi đã nghĩ rằng ở thế giới này vì có ít ma tố nên không có ma pháp, nhưng thực tế không phải vậy, và dường như cũng đã có những trường hợp kì lạ được quan sát.

今日来た刑事さんも、そういう関連の部署から連絡があるかも、と口にしていた。

Cảnh sát đến hôm nay cũng có nói rằng có thể sẽ có liên lạc từ một bộ phận liên quan đến những chuyện như vậy.

この世界もヴェルダナーヴァが創造しているので、ひょっとすると監視者とかがいるのかも。

Thế giới này cũng do Verudanava tạo ra, nên có lẽ có những người giám sát chăng.

それはまあ、今はどうでもいい話である。

Chà, bây giờ thì chuyện đó cũng không quan trọng.

接触してきたら、その時になって考えればいいのだ。

Nếu họ liên lạc, lúc đó hãy nghĩ tiếp.

「え、本当ですか?」

“Ế, thật sao ạ?”.

「マジマジ。やはり犯人も神隠しにあったんじゃ、って話でな。途中までは街中の監視カメラに映っていたのに、唐突に消えたんだってさ」

“Thật đấy. Vẫn là chuyện hung thủ cũng bị ma giấu đi. Dù đã bị camera giám sát trong thành phố ghi lại một đoạn, nhưng đột nhiên lại biến mất”.

「へえ、そうなんだ……」

“Hê, ra vậy...”.

それはまあ、ディアブロの仕業なんだけどな。

Chà, đó là do Diablo làm thôi.

それについては言う必要はないのだが、ここでふと、俺は田村を試してみたくなった。

Về chuyện đó thì không cần phải nói, nhưng đột nhiên, tôi muốn thử Tamura một chút.

田村は真面目で信用出来る後輩だし、少しくらいは秘密を教えてやってもいい気がしたのである。

Tamura là một đàn em nghiêm túc và đáng tin cậy, nên tôi có cảm giác rằng có thể tiết lộ một chút bí mật cho cậu ta.

病院から出て夕食を済まし、静かなBAR(バー)に場所を移した。

Rời bệnh viện, ăn tối xong, chúng tôi chuyển đến một quán bar yên tĩnh.

「今更なんですけど、退院したその足で酒を飲みに来るって、大丈夫なんですかね?」

“Bây giờ mới nói, nhưng vừa xuất viện đã đi uống rượu ngay, có ổn không vậy ạ?”.

「気にするな」

“Đừng bận tâm”.

本当に今更だし、ここまで来て飲まずに帰れる訳がない。

Thật sự là bây giờ mới nói, và đã đến đây rồi thì không thể nào về mà không uống được.

それよりも、だ。

Quan trọng hơn là.

カクテルを口にしつつ、俺は田村に問いかける。

Vừa nhấp một ngụm cocktail, tôi vừa hỏi Tamura.

「ところで田村──俺が死んだ後、異世界に行っていたって言ったら、信じるか?」

“Nhân tiện, Tamura—nếu tôi nói rằng sau khi chết, tôi đã đến một thế giới khác, cậu có tin không?”.

横目で観察していると、田村は一瞬だけ戸惑ったような表情になった。

Khi tôi liếc nhìn, Tamura đã có một biểu cảm bối rối trong chốc lát.

それこそ、何を言い出すんだとでも思ったのだろう。

Có lẽ cậu ta đã nghĩ rằng tôi đang nói cái quái gì vậy.

それが普通の反応だろうなと、俺はそう思ったのだが──

Tôi đã nghĩ đó là một phản ứng bình thường, nhưng—

田村は、大真面目な表情でこう答えたのだ。

Tamura đã trả lời với một vẻ mặt vô cùng nghiêm túc.

「信じますよ、先輩。実際に不思議な出来事を目にしましたし、あの女性なんて見た目は神秘的だったのに、その口調とか俺に対する態度とか、妙に先輩っぽかったですし──」

“Em tin chứ, senpai. Em đã tận mắt chứng kiến những chuyện kì lạ, và người phụ nữ đó, dù vẻ ngoài rất thần bí, nhưng giọng điệu và thái độ đối với em lại rất giống senpai—”.

おいおい?

Này này?

それだと俺──リムルが、中身が残念だって言っているように聞こえるぞ?

Nói vậy thì có vẻ như tôi—Rimuru—có nội dung không được như vẻ ngoài nhỉ?

「今思えば、あの人はもしかすると先輩だったんじゃないかな──なんて、そんな馬鹿げた事まで考えてしまいましたし、ね」

“Bây giờ nghĩ lại, em đã nghĩ đến cả những chuyện ngớ ngẩn như không lẽ người đó chính là senpai—, nhỉ”.

鈍感なようで、意外と勘の鋭い後輩である。

Trông có vẻ ngốc nghếch, nhưng lại là một đàn em có trực giác khá nhạy bén.

けどまあ、試験は合格でいいかもな。

Nhưng mà, có lẽ bài kiểm tra đã đạt rồi.

「そうか。それじゃあ、俺に何があったのか話してやってもいいけど、聞くか?」

“Ra vậy. Vậy thì, tôi có thể kể cho cậu nghe chuyện gì đã xảy ra với tôi, nhưng cậu có muốn nghe không?”.

とても信じられないような話だぞと前置きして、冗談めかして確認する。

Tôi nói trước rằng đó là một câu chuyện rất khó tin, rồi hỏi lại một cách đùa cợt.

すると田村は、小さく笑いながら頷いたのだ。

Nghe vậy, Tamura đã mỉm cười và gật đầu.

「ぜひお願いします」

“Vâng, xin hãy kể cho em”.

その目はとても真っ直ぐで──

Đôi mắt đó rất thẳng thắn—

俺も笑って頷く。

Tôi cũng cười và gật đầu.

そうか──

Ra vậy—

それでは、語るとしよう。

Vậy thì, tôi sẽ kể.

──俺が『転生したらスライムだった件』について──

—Về việc tôi “Chuyển sinh thành Slime”—

おしまい

HẾT

ph_slime23_ill011.jpg

Lời bạt

あとがき

皆さま、お待たせしました。

Mọi người, xin lỗi đã để mọi người chờ lâu.

十年以上に渡って続けてこられた小説版の連載ですが、とうとう完結させる事が出来ました!!

Phần tiểu thuyết đã được đăng tải suốt hơn mười năm qua, cuối cùng cũng đã có thể kết thúc!!

終わる終わる詐欺と言われるようになって、はやくも数巻積み上がり……今度こそ、本当の最終巻であります(笑)

Đã bị gọi là "lừa đảo kết thúc", và nhanh chóng đã ra thêm vài tập... Lần này, đây thực sự là tập cuối cùng rồi (cười).

物語というのは、終わりがあってこそ美しい──というのが、長年終わらない幾つもの小説を待ち続けている一読者としての本音でした。だからこそ、自分の作品は絶対に最後まで書き上げねばと意気込んでおりましたので、その念願が叶って感無量であります。

Một câu chuyện, chỉ khi có kết thúc mới trở nên đẹp đẽ—đó là tâm sự thật lòng của tôi, một độc giả đã chờ đợi biết bao tiểu thuyết không hồi kết suốt nhiều năm. Chính vì vậy, tôi đã quyết tâm phải hoàn thành tác phẩm của mình đến cùng, và việc mong muốn đó đã thành hiện thực khiến tôi vô cùng xúc động.

ちなみに、終わったのは本編だけ!!

Nhân tiện, chỉ có phần chính là kết thúc thôi!!

今後は番外編なり外伝なりが続く予定なので、「完結詐欺やんけ!」という批判は甘んじて受け入れる所存です(笑)

Trong tương lai, dự định sẽ có các chương đặc biệt và ngoại truyện, nên tôi sẵn sàng chấp nhận những lời chỉ trích "Lại lừa đảo kết thúc nữa à!" (cười).

担当編集I氏など、読み終わった直後に「これ、エピローグが足りてなくないですか? テンペスト側のその後とか、もっと書いてもらわないと気になるんですけど」という感じで、率直なコメントを下さいました。

Biên tập viên I-shi của tôi, ngay sau khi đọc xong đã thẳng thắn nhận xét: "Cái này, không phải là thiếu phần kết sao? Chuyện sau đó của Tempest, nếu không viết thêm thì tôi tò mò lắm".

面白かったとか感動したとか、そういう感想を求めていたので、オイオイと思ったものです。

Tôi đã mong đợi những lời nhận xét như "thú vị" hay "cảm động", nên đã nghĩ "Này này".

そもそも、文章量が通常の五十パーセント増しという、書籍の限界に達しそうな状況でしてね……今年の五月頃にはそうなると予想して「上下巻として分冊した方がいいんじゃないですかね?」という提案をしていたのですよ。

Vốn dĩ, lượng chữ đã tăng thêm năm mươi phần trăm so với bình thường, gần đến giới hạn của một cuốn sách... Tôi đã dự đoán điều đó vào khoảng tháng Năm năm nay và đã đề xuất rằng "Hay là chúng ta chia thành hai tập thượng hạ?".

I氏こと編集長が一言「完結は来年に延ばそう! ゆっくり書き上げてください」と決断してくれてさえいれば、僕としても異論はなかったのですが──おっと、I氏にも色々と反論があるようですね。このままだとXとかで、色々と暴露されちゃいそうです(笑)

Nếu Tổng biên tập I-shi chỉ cần quyết định một câu "Hãy hoãn việc kết thúc sang năm sau! Cứ từ từ mà viết", tôi cũng sẽ không có ý kiến gì—ồ, có vẻ như I-shi cũng có nhiều điều muốn phản bác. Cứ thế này, có lẽ tôi sẽ bị bóc phốt trên X mất (cười).

我々はナイスな大人なので、責任という名のボールを高速でキャッチボールするなどお手の物なのです。どちらの言い分が正しいのかは、賢明なる読者諸君の判断に委ねる事にしましょう!

Chúng tôi là những người lớn tử tế, nên việc chuyền quả bóng trách nhiệm với tốc độ cao là chuyện nhỏ. Về việc ai đúng ai sai, hãy để các độc giả thông thái quyết định!

でもまあ、これで本編が終わったのは紛れもない事実。

Nhưng mà, việc phần chính đã kết thúc là một sự thật không thể chối cãi.

最終巻くらい、ゆっくり考えたかったというのは本音ですね。

Thành thật mà nói, tôi đã muốn có thể suy nghĩ kĩ lưỡng hơn cho tập cuối cùng.

そうなると、出るまで数年かかった可能性もありますけどね(笑)

Nếu vậy thì, cũng có khả năng là sẽ mất vài năm mới ra mắt được (cười).

実際、リムルの仲間達のその後なんて、まだまだ書き足りない事ばかり。この巻はいつも以上に、何か書き忘れがないか不安にさせられました。その感覚は後書きを書いている今現在も残っていますので、今後の外伝などに反映させられればと思っております。

Thực tế, câu chuyện sau đó của những người bạn của Rimuru vẫn còn rất nhiều điều chưa được viết hết. Tập này, hơn bao giờ hết, đã khiến tôi lo lắng không biết mình có bỏ sót điều gì không. Cảm giác đó vẫn còn cho đến tận bây giờ, khi tôi đang viết lời bạt, nên tôi mong có thể phản ánh nó trong các ngoại truyện sau này.

こういう話を読みたいという意見などございましたら、ぜひぜひ僕の活動報告などにお寄せくださいませ〜。

Nếu có ý kiến gì về việc muốn đọc những câu chuyện như thế này, xin hãy gửi đến báo cáo hoạt động của tôi nhé〜.

全て採用するとは限りませんが、参考にさせていただこうと思います!

Tôi không hứa sẽ áp dụng tất cả, nhưng tôi sẽ tham khảo!

今後の予定としましては、年に一冊くらいのペースで何か『転スラ』関連本を出せればいいなと思っています。

Về kế hoạch trong tương lai, tôi mong có thể xuất bản một cuốn sách liên quan đến "Tensei Slime" mỗi năm.

WEBに連載していた二本は書く予定です。書籍版と設定そのものが変わっていますので、大幅なリメイクが必要ですね。その為、まったく別物になってしまったらゴメンなさい(笑)

Tôi dự định sẽ viết hai câu chuyện đã được đăng tải trên WEB. Vì bối cảnh của chúng khác với phiên bản sách, nên cần phải làm lại khá nhiều. Vì vậy, nếu nó trở thành một thứ hoàn toàn khác, xin hãy thông cảm (cười).

多分大丈夫だとは思いますが、そこは気分次第となります。

Tôi nghĩ có lẽ sẽ ổn thôi, nhưng điều đó còn tùy thuộc vào tâm trạng.

後、ヴェルドラとイフリートの小話も、綺麗にまとめて終わらせたいですね。出す順番がどうなるかは不明ですが、これは書き上げたいと思っています!

Sau đó, tôi cũng muốn hoàn thành một cách gọn gàng câu chuyện nhỏ về Verudora và Ifrit. Tôi không chắc thứ tự xuất bản sẽ như thế nào, nhưng tôi rất muốn viết nó!

テンペストや基軸世界のその後も含めて、今後の外伝展開にも期待して頂けると嬉しいです。

Bao gồm cả câu chuyện sau đó của Tempest và thế giới cốt lõi, tôi rất vui nếu mọi người có thể mong chờ những diễn biến của ngoại truyện trong tương lai.

物語の本編は完結しましたが、リムルや仲間達の冒険はまだまだ続きます!

Phần chính của câu chuyện đã kết thúc, nhưng cuộc phiêu lưu của Rimuru và những người bạn vẫn còn tiếp diễn!

広がり続ける『転スラ』世界を楽しんで、引き続き応援して頂けますと幸いです。

Tôi rất vui nếu mọi người có thể tiếp tục thưởng thức thế giới "Tensei Slime" ngày càng mở rộng và ủng hộ tôi.

僕の創作理念は、自分が楽しい──色々な意味で感動出来る──と思える物語を、読者の皆さまと共有したいというものです。

Triết lí sáng tác của tôi là muốn chia sẻ với độc giả những câu chuyện mà bản thân tôi cảm thấy thú vị—và cảm động theo nhiều nghĩa khác nhau.

面白いと思ってもらえたならば、これに勝る喜びは御座いません。

Nếu mọi người cảm thấy thú vị, không có niềm vui nào lớn hơn.

今後もそうした物語をお届け出来ます事を、心より願っております。

Tôi chân thành mong rằng trong tương lai cũng có thể mang đến những câu chuyện như vậy.

それではまた、どこかでお会い出来ますように!!

Vậy thì, hy vọng sẽ gặp lại mọi người ở một nơi nào đó!!